Lịch sử Đức (1945–1990)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quan hệ Liên Đức
Map indicating locations of Đông Đức and Tây Đức

Đông Đức

Tây Đức
Một phần của loạt bài về
Lịch sử Đức
Coat of arms featuring a large black eagle with wings spread and beak open. The eagle is black, with red talons and beak, and is over a gold background.
Buổi đầu lịch sử
Người German
Giai đoạn Di cư
Đế quốc Frank
Đức trung cổ
Đông Frank
Vương quốc Đức
Đế quốc La Mã Thần thánh
Định cư ở phía đông
Chủ nghĩa địa phương
Xây dựng một nhà nước
Liên bang Rhein
Liên bang Đức & Zollverein
Cách mạng Đức (1848–1849)
Liên bang Bắc Đức
Thống nhất nước Đức
Đế quốc Đức
Đế quốc Đức
Thế chiến I
Cộng hòa Weimar
Saar, Danzig, Memel, Áo, Sudeten
Đức Quốc xã
Thế chiến II
Hậu chiến Nước Đức từ năm 1945
Chiếm đóng + Ostgebiete
Trục xuất người Đức
Tây Đức, Saar & Đông Đức
Tái thống nhất nước Đức
Hiện nay
Cộng hoà Liên bang Đức
Các chủ đề
Lịch sử quân sự Đức
Thay đổi lãnh thổ Đức
Biểu thời gian lịch sử Đức
Lịch sử ngôn ngữ Đức
Chủ đề Đức

Lịch sử Đức trong giai đoạn 1945 đến 1990 bắt đầu từ khi Đức Quốc xã bị đánh bại trong chiến tranh thế giới thứ hai, sụp đổ và nước Đức bị chia cắt làm hai miền theo hai ý thức hệ chính trị đối lập, kéo dài cho đến khi tái thống nhất vào năm 1990. Đức bị tước bỏ mọi quyền lợi mà họ giành được trước và trong Thế chiến, các vùng lãnh thổ phía đông đã bị Ba LanLiên Xô sáp nhập. Vào cuối cuộc chiến, có khoảng 8 triệu người nước ngoài ở Đức,[1] chủ yếu là tù nhân và lao động cưỡng bức, trong đó có khoảng 400.000 người từ hệ thống trại tập trung,[2] chỉ một phần trong số đó là sống sót, còn phần nhiều đã bị chết do đói, điều kiện thời tiết khắc nghiệt hoặc bị giết hay bị bắt phải làm việc đến chết. Hơn 10 triệu người tị nạn nói tiếng Đức đã di cư đến Đức từ các quốc gia ở TrungĐông Âu. Khoảng 9 triệu người Đức là tù nhân chiến tranh, phần đông bị buộc phải làm lao động cưỡng bức trong nhiều năm, nhằm tái thiết các quốc gia bị thiệt hại trong chiến tranh do Đức gây ra.

Trong Chiến tranh Lạnh, nước Đức bị chiếm đóng bởi quân Đồng minh ở miền tây lãnh thổ và Liên Xô chiếm miền đông. Chế độ quân quản của Đồng minh và Liên Xô kéo dài cho đến khi thành lập hai nước vào năm 1949:

Khi bắt đầu Kỳ tích trên sông Rhine vào năm 1955, Tây Đức phục hồi và phát triển nhanh chóng, trở thành nền kinh tế thịnh vượng nhất ở châu Âu. Dưới sự lãnh đạo của Konrad Adenauer, Tây Đức đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với Pháp, Hoa KỳIsrael. Tây Đức cũng gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Cộng đồng kinh tế châu Âu (sau này trở thành Liên minh châu Âu). Còn Đông Đức bị đình trệ vì nền kinh tế của quốc gia này được tổ chức cơ bản để đáp ứng các nhu cầu kinh tế của Liên Xô, cảnh sát mật (stasi) kiểm soát chặt chẽ cuộc sống hàng ngày và Bức tường Berlin ngăn chặn dòng người tị nạn chạy về phía Tây Đức. Đức tái thống nhất vào năm 1990.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stragart, Nicholas (2015). The German War; a nation under arms, 1939-45. Bodley Head. tr. 549. 
  2. ^ Wachsmann, Nikolaus (2015). KL; A History of the Nazi Concentration Camps. Little, Brown. tr. 544. 
  3. ^ Knowles, Chris (ngày 29 tháng 1 năm 2014). “Germany 1945-1949: a case study in post-conflict reconstruction”. History & Policy. History & Policy. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]