Lịch sử Bắc Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lịch sử Bắc Triều Tiên bắt đầu với việc phân chia của Triều Tiên vào cuối Thế chiến II năm 1945, và sự thành lập của chính quyền thân Cộng sản Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (CHDCNDTT) với người đứng đầu Kim Nhật Thành, vốn là một lãnh đạo quân du kích trước đó. Năm 1950 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Sau nhiều phá hoại, chiến tranh kết thúc với hiện trạng cũ được khôi phục. CHDCND Triều Tiên đã thất bại trong việc thống nhất Triều Tiên, và các lực lượng Liên Hiệp Quốc do Mỹ dẫn đầu đã thất bại trong việc chinh phục Bắc Triều Tiên. Bán đảo Triều Tiên bị Khu phi quân sự Triều Tiên chia cắt, và một lực lượng quân sự Mỹ vẫn hiện diện tại Hàn Quốc. Căng thẳng giữa hai bên vẫn tiếp tục. Kim Il-sung nắm giữ quyền lực cho đến khi ông qua đời vào năm 1994. Ông đã phát triển thói sùng bái cá nhân phổ biến với chính mình và đưa đất nước vào một con đường độc lập tự chủ theo tư tưởng Chủ thể.  Tuy nhiên, do các thiên tai tự nhiên và sự sụp đổ của khối Xô viết vào năm 1991, Bắc Triều Tiên đã bị khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Con trai của Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, kế tục vị trí lãnh đạo và sau đó lại được con trai của chính ông, Kim Chính Ân nối tiếp. Dù hàng loạt cảnh báo quốc tế, Bắc Triều Tiên tiếp tục phát triển tên lửa hạt nhân.

Bắc Triều Tiên trước khi chia cắt[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1910 đến cuối Thế chiến II, Triều Tiên bị Nhật Bản đô hộ.  Hầu hết người Triều Tiên là các nông dân tham gia vào nông nghiệp tự cung tự cấp.[1] Trong những năm 1930, Nhật Bản đã phát triển các mỏ, đập thủy điện, nhà máy thép, và các nhà máy sản xuất ở miền bắc Triều Tiên và lân cận Mãn Châu.[2] Giai cấp công nhân công nghiệp Hàn Quốc phát triển nhanh chóng, và nhiều người Hàn Quốc đã đi làm việc ở Mãn Châu.[3] Kết quả là 65% công nghiệp nặng của Triều Tiên nằm ở phía bắc, nhưng, do sự khắc nghiệt của địa hình, phía bắc chỉ có 37% ngành nông nghiệp.[4]

Một phong trào du kích Triều Tiên nổi lên trong các vùng sâu miền núi và ở Mãn Châu, quấy rối các quan chức triều đình Nhật Bản. Một trong những nhà lãnh đạo du kích nổi bật nhất là người theo Cộng sản Kim Nhật Thành.[5]

Bắc Triều Tiên có rất ít tiếp xúc với những ý tưởng hiện đại của phương Tây.[6] Một phần ngoại lệ của việc này là sự xâm nhập của tôn giáo. Kể từ khi sự xuất hiện của các nhà truyền giáo trong những năm cuối thế kỷ XIX, ở phía tây bắc của Triều Tiên, và đặc biệt là Bình Nhưỡng, trở thành trung tâm phổ biến Ki tô giáo.[7]

Chia cắt Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hội nghị Tehran vào tháng 11 năm 1943 và tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, the Liên Xô hứa sẽ cùng với các đồng minh tham gia vào Chiến tranh Thái Bình Dương sau 3 tháng khi giành chiến thắng ở châu Âu. Ngày 8 tháng 8 năm 1945, sau ba tháng như đã hẹn, Liên Xô tuyên chiến với Nhật.[8] Quân đội Liên Xô tiến nhanh, và chính phủ Mỹ lo lắng rằng họ sẽ chiếm toàn bộ Triều Tiên. Vào ngày 10 tháng 8, chính phủ Mỹ đã quyết định đề nghị vĩ tuyến 38 làm ranh giới giữa khu vực chiếm đóng của Liên Xô ở phía bắc và khu vực chiếm đóng của Mỹ ở phía nam. Vĩ tuyến này đã được chọn vì nó sẽ đặt thủ đô Seoul dưới quyền điều khiển của Mỹ.[9] Ranh giới này đã đặt mười sáu triệu người Triều Tiên vào khu vực Mỹ chiếm đóng và chín triệu người vào khu vực của Liên Xô.[10] Trước sự ngạc nhiên của người Mỹ, Liên Xô ngay lập tức chấp nhận sự phân chia này. Thỏa thuận này được đưa vào Lệnh chung số 1 (đã được phê duyệt vào ngày 17 tháng 8 năm 1945) với sự đầu hàng của Nhật Bản.[11]

Lực lượng Liên Xô bắt đầu đổ bộ vào Triều Tiên ngày 14 tháng 8 và nhanh chóng chiếm phía đông bắc của đất nước này, và vào ngày 16 tháng 8 họ đã hạ cánh xuống Wonsan.[12]  Vào ngày 24 tháng 8, Hồng quân đã tiến tới Bình Nhưỡng.[13] Về phía quân đội Mỹ đến 8 tháng 9 họ mới đưa quân tới miền Nam.[10]

Trong tháng Tám, các Ủy ban nhân dân mọc lên trên khắp Triều Tiên, liên kết với Uỷ ban Chuẩn bị Triều Tiên Độc lập. Trong tháng 9 họ đã thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên. Khi quân đội Liên Xô vào Bình Nhưỡng, họ tìm thấy một Ủy ban nhân dân được thành lập ở đó, đứng đầu là người theo chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo kỳ cựu Cho Man-sik.[14] Không giống như quân đội Mỹ, chính quyền Xô viết công nhận và làm việc với các Ủy ban nhân dân này.[15][16] Theo một số nguồn tin, Cho Man-sik là sự lựa chọn đầu tiên của chính phủ Liên Xô để dẫn dắt Bắc Triều Tiên.[17][18]

Ngày 19 tháng 9, Kim Nhật Thành và 36 sĩ quan Hồng quân khác của Triều Tiên về đến Wonsan. Họ đã chiến đấu với Nhật Bản ở vùng Mãn Châu trong những năm 1930 nhưng đã sống ở Liên Xô và được đào tạo trong Hồng quân kể từ năm 1941.[19] Ngày 14 tháng 10, chính quyền Xô Viết giới thiệu Kim đến với công chúng Bắc Triều Tiên như một anh hùng du kích.[19]

Trong tháng 12 năm 1945, tại Hội nghị Moscow, Liên Xô đã thoả thuận một đề xuất của Mỹ cho một lãnh thổ ủy thác tại Triều Tiên trong vòng 5 năm trong giai đoạn chờ độc lập. Hầu hết người Triều Tiên yêu cầu độc lập ngay lập tức, nhưng Kim và những người cộng sản khác đã hỗ trợ thỏa thuận này do chịu áp lực từ chính phủ Liên Xô. Cho Man-sik phản đối đề xuất này tại một cuộc họp công cộng vào ngày 4 tháng 1 năm 1946, và bị bắt giữ tại nhà riêng.[20][21] Vào ngày 8 tháng 2 năm 1946, Uỷ ban nhân dân đã được tổ chức lại thành Ủy ban nhân dân lâm thời với sự thống trị của những người theo Cộng sản.[22] Chế độ mới đưa ra chính sách được lòng công chúng như phân phối lại đất đai, quốc hữu hóa ngành công nghiệp, cải cách luật lao động và bình đẳng cho phụ nữ.[23]

Trong khi đó, các nhóm cộng sản hiện có đã được tập hợp lại thành một đảng dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành. Ngày 18 tháng 12 năm 1945, các cấp ủy Đảng Cộng sản địa phương được kết hợp thành Đảng Cộng sản Bắc Triều Tiên.[19] Vào tháng 8 năm 1946, đảng này sáp nhập với đảng Nhân Dân Mới để hình thành Đảng Lao động Bắc Triều Tiên. Trong tháng 12, một mặt trận do Đảng Công nhân lãnh đạo đã thống trị các cuộc bầu cử ở miền Bắc.[22] Năm 1949, Đảng Lao động của Bắc Triều Tiên sáp nhập với Đảng Lao động phía nam để trở thành Đảng Lao động Triều Tiên với Kim là Chủ tịch Đảng.[24]

Kim xây dựng Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KPA) định hướng theo mô hình Cộng sản, hình thành từ các cán bộ quân du kích và các cựu chiến binh, vốn đã có kinh nghiệm chiến đấu trong chiến tranh chống lại quân Nhật Bản và sau đó là Quốc dân Đảng Trung Quốc. Từ hàng ngũ những người này, với việc sử dụng các cố vấn và các thiết bị của Liên Xô, Kim đã xây dựng một đội quân lớn chuyên môn sử dụng chiến thuật xâm nhập và chiến tranh du kích. Trước sự bùng nổ của chiến tranh Triều Tiên, Joseph Stalin trang bị cho quân Triều Tiên với xe tăng hiện đại trung bình, xe tải, pháo binh, và vũ khí cỡ nhỏ. Kim cũng đã thành lập lực lượng không quân, trang bị lúc đầu với máy bay chiến đấu và máy bay cánh quạt tấn công của Liên Xô cũ. Sau đó, các ứng viên phi công Bắc Triều Tiên đã được gửi đến Liên Xô và Trung Quốc để đào tạo lái các máy bay MiG-15 tại các căn cứ bí mật.[25]

Năm 1946, một loạt các dự luật đã chuyển Bắc Triều Tiên theo con đường của chủ nghĩa Stalin. Phong trào "cải cách ruộng đất" đã phân phối lại phần lớn đất nông nghiệp cho người dân nông dân nghèo và không có đất, và phá vỡ sức mạnh của tầng lớp địa chủ.[26] Sau đó là "Luật Lao động", "Luật Bình đẳng giới", và luật "Quốc hữu hóa Công nghiệp, Giao thông vận tải, Luật Giao thông và ngân hàng" cũng đã được ban hành.[27]

Kim Nhật Thành với Kim Koo năm 1948

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 182. ISBN 0-393-32702-7. 
  2. ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 174–175, 407. ISBN 0-393-32702-7. 
  3. ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 84–86. ISBN 978-0-8248-3174-5. 
  4. ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 184–185. 
  5. ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 85–87, 155. ISBN 978-0-8248-3174-5. 
  6. ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 175. 
  7. ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 113. ISBN 978-0-8248-3174-5. 
  8. ^ Walker, J Samuel (1997). Prompt and Utter Destruction: Truman and the Use of Atomic Bombs Against Japan. Chapel Hill: The University of North Carolina Press. tr. 82. ISBN 0-8078-2361-9. 
  9. ^ Seth, Michael J. (2010). A History of Korea: From Antiquity to the Present. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 306. ISBN 9780742567177. 
  10. ^ a ă Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 53. ISBN 0-415-23749-1. 
  11. ^ Hyung Gu Lynn (2007). Bipolar Orders: The Two Koreas since 1989. Zed Books. tr. 18. 
  12. ^ Seth, Michael J. (2010). A History of Korea: From Antiquity to the Present. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 86. ISBN 9780742567177. 
  13. ^ Hyung Gu Lynn (2007). Bipolar Orders: The Two Koreas since 1989. Zed Books. tr. 18. 
  14. ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 54–57. ISBN 0-415-23749-1. 
  15. ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 105–107. ISBN 978-0-8248-3174-5. 
  16. ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 227–228. ISBN 0-393-32702-7. 
  17. ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 12. ISBN 978-07456-3357-2. 
  18. ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 23. ISBN 978-1-84668-067-0. 
  19. ^ a ă â Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 56. ISBN 0-415-23749-1. 
  20. ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 59. ISBN 0-415-23749-1. 
  21. ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 187–190. ISBN 0-393-32702-7. 
  22. ^ a ă Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 60. ISBN 0-415-23749-1. 
  23. ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 107. ISBN 978-0-8248-3174-5. 
  24. ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 148. ISBN 978-0-8248-3174-5. 
  25. ^ Blair, Clay, The Forgotten War: America in Korea, Naval Institute Press (2003).
  26. ^ Charles K. Armstrong, The North Korean Revolution, 1945-1950 (Ithaca, NY: Cornell University Press), 71-86.
  27. ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 184. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • O'Hanlon, Michael; Mochizuki, Mike. "Crisis on the Korean Peninsula." McGraw-Hill. 2003. ISBN 0-07-143155-1
  • Cumings, Bruce, et al.. "Inventing the Axis of Evil." The New Press. 2004. ISBN 1-56584-904-3