Lịch sử hành chính Hà Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lịch sử hành chính Hà Giang có thể xem mốc khởi đầu từ năm 1891 với Quyết định ngày 20 tháng 8 năm 1891 của Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan, thành lập tỉnh Hà Giang, bao gồm phủ Tường Yên và huyện Vĩnh Tuy. Vào thời điểm hiện tại (2017), về mặt hành chính, Hà Giang được chia làm 11 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 huyện – và 195 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 117 xã, 5 phường và 13 thị trấn.

Lịch sử tổ chức hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi thành lập tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tài liệu lịch sử, vùng đất Hà Giang xưa vốn là địa bàn cư trú của bộ Tây Vu thuộc quốc gia Văn Lang, sau đó là quốc gia Âu Lạc. Thời Bắc thuộc, vùng Hà Giang thuộc địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.

Sau khi quốc gia Đại Việt độc lập, một thời gian dài vùng đất Hà Giang là vùng tự trị, thuộc phạm vi thế lực của các Tộc tướng xứ Thái, phụ thuộc lỏng lẻo vào Đại Việt. Đến thời Lý, mang tên châu Bình Nguyên, thuộc phủ Phú Lương. Đầu thời Trần, khu vực Hà Giang – Tuyên Quang được gọi là châu Tuyên Quang, thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 thì đổi thành trấn Tuyên Quang. Khi quân Minh xâm lược Đại Việt, đã đổi trấn Tuyên Quang thành châu Tuyên Hóa và đến năm 1408 thì thăng làm phủ Tuyên Hóa.

Sau khi đánh đuổi quân Minh, vua Lê Thái Tổ chia cả nước thành 5 đạo, dưới đạo là trấn, lộ, phủ, huyện, châu và cuối cùng là cấp xã. Vùng đất Hà Giang – Tuyên Quang lúc đó thuộc vào Tây đạo. Đến năm, 1466 vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, đặt nơi đây là thừa tuyên Tuyên Quang, lãnh 1 phủ và 5 huyện châu. Năm 1490, thừa tuyên Tuyên Quang được đổi thành xứ Tuyên Quang, gồm huyện Phù Yên (sau đổi là Hàm Yên), 5 châu (Thu sau đổi là Thu Châu, Đại Nam – sau đổi là Chiêm Hóa, Vị Xuyên, Bảo Lạc và Lạc Yên) và phủ An Bình. Vùng đất Hà Giang chủ yếu nằm ở châu Vị Xuyên và một phần của châu Bảo Lạc.

Đến đời Hồng Thuận (1509-1516), xứ Tuyên Quang đổi thành trấn Minh Quang.

Thời Lê Chiêu Tông, triều đình rối ren, giặc giả nổi lên khắp nơi. Vũ Văn Uyên nhân đó nổi lên cát cứ trấn Minh Quang. Vua Lê Chiêu Tông đành phải phong cho Uyên làm Khánh Bá hầu, Đô thống sứ trấn Tuyên Quang. Uyên mở mang thế lực cả một vùng phía Bắc Đại Việt, truyền đời cát cứ. Vùng Hà Giang ngày nay cũng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các chúa Bầu, lập thành các doanh Bình Di, Bình Man, Trần Uy, Yên Biên, Nam Đương, vốn thuộc vào châu Vị Xuyên của trấn Tuyên Quang.

Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.

Cuối thế kỷ XVII, thế lực chúa Bầu suy yếu. Năm 1672, nhân lúc triều đình sơ hở, chúa Trịnh mang đại quân đi đánh chúa Nguyễn phía nam, chúa Bầu Vũ Công Tuấn trốn về Tuyên Quang, cấu kết với dòng dõi họ Mạc là Mạc Kính Vũ, tự xưng Tiểu Giao Cương vương và chạy sang Vân Nam nhờ nhà Thanh giúp sức. Thổ ty nhà Thanh nhân dịp này chiếm đất hai châu Vị Xuyên, Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang và châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa, cướp dân của Đại Việt, cho đặt Tuần ty ở các động ven biên giới để thu thuế. Triều đình Lê - Trịnh nhiều lần cho sứ giả sang đòi lại đất, mãi đến năm 1728 nhà Thanh mới chịu trả lại hầu hết đất đai đã chiếm của Đại Việt, kể cả vùng Tụ Long.

Năm 1802, Gia Long lên ngôi, đổi đặt xứ Tuyên Quang thành trấn Tuyên Quang. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), triều đình thực hiện cải cách hành chính đổi trấn thành tỉnh, đổi một số châu thành huyện và sách động thành xã, thống nhất hành chính vùng Bắc Thành cũ. Trấn Tuyên Quang đổi thành tỉnh Tuyên Quang.

Năm 1842 thì chia tỉnh Tuyên Quang thành 3 hạt bao gồm Hà Giang, Bắc Quang và Tuyên Quang.

Sau khi thành lập tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.

Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, gọi chung là huyện. Tỉnh Hà Giang có 1 thị xã Hà Giang và 4 huyện: Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên.

Năm 1962, chia huyện Đồng Văn thành 3 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh; chia huyện Vị Xuyên thành 2 huyện: Vị Xuyên và Quản Bạ.[1]

Năm 1965, chia huyện Hoàng Su Phì thành 2 huyện: Hoàng Su Phì và Xín Mần.[2]

Sau năm 1975, Hà Giang được hợp nhất với tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên.

Năm 1981, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Mèo Vạc, Quản Bạ, Vị xuyên, Hoàng Xu Phì, Xín Mần.[3]

Năm 1982, điều chỉnh địa giới các huyện Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn.[4]

Năm 1983, chia huyện Vị Xuyên thành 2 huyện: Vị Xuyên và Bắc Mê; điều chỉnh địa giới các huyện Vị Xuyên, Xín Mần, Hoàng Su Phì, Bắc Quang.[5]

Năm 1986, chia tách một số xã, thị trấn thuộc huyện Bắc Quang.[6]

Năm 1987, chia tách một số xã thuộc huyện Bắc Mê.[7]

Năm 1991, tái lập tỉnh Hà Giang từ tỉnh Hà Tuyên. Tỉnh Hà Giang có 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Giang (tỉnh lị) và 9 huyện: Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh.

Năm 1994, thành lập một số phường, xã, thị trấn thuộc thị xã Hà Giang và các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang; điều chỉnh địa giới huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần.[8]

Năm 1997, chia tách một số xã thuộc các huyện Yên Minh, Bắc Quang và Vị Xuyên.[9]

Năm 1999, chia tách một số xã, thị trấn thuộc các huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Quang, Hoàng Su Phì và thị xã Hà Giang.[10]

Năm 2003, chia tách một số xã thuộc huyện Bắc Quang; thành lập huyện Quang Bình được thành lập trên cơ sở tách 12 xã thuộc huyện Bắc Quang, 2 xã thuộc huyện Hoàng Su Phì và 1 xã thuộc huyện Xín Mần.[11]

Năm 2005, thành lập phường Ngọc Hà thuộc thị xã Hà Giang và xã Niêm Tòng thuộc huyện Mèo Vạc.[12]

Năm 2006, điều chỉnh địa giới thị xã Hà Giang và huyện Vị Xuyên.[13]

Năm 2009, thành lập thị trấn huyện lị thuộc các huyện Đồng Văn, Bắc Mê và Xín Mần.[14]

Năm 2010, thành lập thành phố Hà Giang[15]. Cùng năm, thành lập thị trấn Yên Bình thuộc huyện Quang Bình[16].

Các đơn vị hành chính trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định số 211-QĐCP năm 1962 của Hội đồng Chính phủ.
  2. ^ Quyết định số 49–CP năm 1965 của Hội đồng Chính phủ.
  3. ^ Quyết định số 185-CP năm 1981 của Hội đồng Chính phủ.
  4. ^ Quyết định số 179-HĐBT năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng.
  5. ^ Quyết định số 136-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng.
  6. ^ Quyết định số 14-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  7. ^ Quyết định số 28-HĐBT năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng.
  8. ^ Nghị định số 112-CP năm 1994 của Chính phủ.
  9. ^ Nghị định số 08-CP năm 1997 của Chính phủ.
  10. ^ Nghị định số 74/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
  11. ^ Nghị định số 146/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
  12. ^ Nghị định số 104/2005/NĐ-CP của Chính phủ.
  13. ^ Nghị định số 64/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
  14. ^ Nghị định số 11/NĐ-CP năm 2009 của Chính phủ.
  15. ^ Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2010 của Chính phủ.
  16. ^ Nghị quyết số 47/NQ-CP năm 2010 của Chính phủ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]