Lịch sử hành chính Quảng Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía nam giáp các tỉnh Quảng NgãiKon Tum, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Sekong của Lào.

Lịch sử tổ chức hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi thành lập tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành. Năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại ViệtTrần Nhân Tông thì vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới; người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.

Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị.

Năm 1408, Trần Ngỗi khởi nghĩa ở Nghệ An, hai viên quan Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và Nguyễn Cảnh Chân ở Thăng Hoa (Quảng Nam). Tháng Giêng âm lịch năm 1408, Trần Ngỗi đánh 4 vạn quân Trương Phụ ở Bô Cô (Nam Định). Các nông dân Phạm Tất Đại, Phạm Chấn, Trần Nguyệt Hồ, Lê Ngã kéo về theo quân Trần Ngỗi. Nhưng có người gièm pha với Trần Ngỗi rằng hai viên quan kia là con hoàng xà đã biến thành nên Trần Ngỗi giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đưa con Trần Ngạc là Trần Quý Khoáng tiếm quyền.

Thời Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.

Thời chúa Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sang thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570). Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc". Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: "Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn".

Đến giữa thế kỷ 17, việc triều chính xứ Đàng Trong suy đồi. Thuế thì nặng; quan lại thì lợi dụng địa vị, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, dân Quảng Nam cũng nổi dậy. Mùa thu năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách chỉ huy. Nhà Tây Sơn tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.

Sau khi thành lập tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh.

Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 phủ Thăng Bình (升平) (trước là Thăng Hoa (gồm các huyện Lễ Dương (醴陽) Tam Kỳ (三岐), Hà Đông (河東), Quế Sơn (桂山)) và Điện Bàn 奠磐 (với các huyện Hòa Vang (和榮), Duy Xuyên (濰川), Diên Phúc (延福) (sau đổi là Diên Phước), Đại Lộc (大祿)).

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái, Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số tỉnh Quảng Nam 1967[1]
Quận Dân số
Đại Lộc 48.693
Điện Bàn 158.761
Đức Dục 46.461
Duy Xuyên 83.206
Hiếu Đức 14.906
Hiếu Nhơn 81.442
Hòa Vang 90.450
Quế Sơn 72.629
Thường Đức 16.963
Tổng số 613.511

Sau Hiệp định Genève, tỉnh Quảng Nam thời Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1956 lại chia thành hai tỉnh mới lấy sông Rù Rì (tên gọi khác của sông Ly Ly) làm ranh giới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm chín quận và Quảng Tín ở phía Nam gồm sáu quận.

Chín quận của Quảng Nam là:

  1. Hòa Vang (nay thuộc thành phố Đà Nẵng)
  2. Đại Lộc,
  3. Điện Bàn,
  4. Duy Xuyên,
  5. Đức Dục (một số xã miền núi của huyện Đại Lộc, Quế Sơn và Duy Xuyên, nay là huyện Nông Sơn)
  6. Hiếu Nhơn (nay thuộc thành phố Hội An và một số xã của thị xã Điện Bàn)
  7. Quế Sơn,
  8. Hiếu Đức (nay thuộc huyện Đông Giang, Tây Giang và một số xã miền núi của huỵên Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng)
  9. Thượng Đức (nay thuộc huyện Nam Giang và một số xã miền núi huyện Đại Lộc).

Tỉnh lỵ đóng tại Hội An thuộc quận Hiếu Nhơn (Hội An) [2].

Tỉnh Quảng Tín, từ sông Ly Ly vào đến Dốc Sỏi (ranh giới giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi), gồm 5 quận:

  1. Thăng Bình (nay thuộc huyện Thăng Bình và một phần huyện Hiệp Đức),
  2. Tam Kỳ (nay thuộc thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, huyện Phú Ninh),
  3. Tiên Phước (nay thuộc huyện Tiên Phước và một phần huyện Hiệp Đức),
  4. Hậu Đức (nay là huyện Nam Trà My và Bắc Trà My)
  5. Hiệp Đức (nay thuộc huyện Phước Sơn và Hiệp Đức).

Dân số Quảng Tín lúc đó là 353.752 người; tỉnh lỵ đóng tại Tam Kỳ. 

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng TínThành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị.

Sau khi thành lập tỉnh, có những thay đổi hành chính như sau: chuyển thị xã Đà Nẵng thành thành phố Đà Nẵng, hợp nhất thị xã Tam Kỳ và 2 huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ thành huyện Tam Kỳ.

Năm 1978, thành lập một số xã thuộc thị xã Hội An và huyện Hiên.[3]

Năm 1979, điều chỉnh địa giới huyện Trà My và huyện Tam Kỳ; hợp nhất một số xã thuộc huyện Tam Kỳ.[4]

Năm 1981, chia tách một số xã thuộc các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Điện Bàn, Giằng, Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn, Hòa Vang; điều chỉnh địa giới huyện Tiên Phước và huyện Trà My.[5]

Năm 1983, chia tách một số xã thuộc các huyện Tam Kỳ, Quế Sơn, Trà My.[6]. Cùng năm, chia huyện Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành.[7]

Năm 1984, chia tách một số xã, thị trấn thuộc các huyện Đại Lộc và Thăng Bình.[8]

Năm 1985, chia tách một số xã thuộc thị xã Tam Kỳ[9]. Cùng năm, thành lập huyện Hiệp Đức trên cơ sở tách 2 xã thuộc huyện Thăng Bình, 4 xã thuộc huyện Quế Sơn và 2 xã thuộc huyện Phước Sơn[10].

Năm 1986, chia tách một số xã, thị trấn thuộc các huyện Quế Sơn, Hiệp Đức, Hòa Vang[11], Phước Sơn, Duy Xuyên[12] và Trà My[13].

Năm 1988, chia tách một số xã thuộc các huyện Trà My và Quế Sơn.[14]

Năm 1990, chia tách một số xã thuộc huyện Hiệp Đức.

Năm 1994, chia tách, điều chỉnh địa giới một số xã và đổi tên thị trấn thuộc các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Núi Thành và thị xã Tam Kỳ.[15]

Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Giằng, Hiên, Hiệp Đức, Núi Thành, Phước Sơn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Trà My và 2 thị xã: Tam Kỳ (tỉnh lị), Hội An.[16]

Năm 1998, thành lập xã Trà Vinh thuộc huyện Trà My.[17]

Năm 1999, thành lập một số phường thuộc thị xã Hội An và huyện Hiên huyện Giằng được đổi tên thành huyện Nam Giang.[18]

Năm 2002, chia tách một số phường, xã thuộc thị xã Tam Kỳ và các huyện Trà My, Hiệp Đức, Phước Sơn.[19]

Năm 2003, chia huyện Trà My thành 2 huyện: Bắc Trà My và Nam Trà My; chia huyện Hiên thành 2 huyện: Đông Giang và Tây Giang.[20]

Năm 2004, thành lập một số phường, xã thuộc thị xã Hội An và các huyện Đại Lộc, Quế Sơn.[21]

Năm 2005, thành lập một số phường, xã thuộc thị xã Tam Kỳ và thành lập huyện Phú Ninh[22]. Cùng năm, chia tách một số xã thuộc các huyện Núi Thành và Điện Bàn[23].

Năm 2006, thành lập thành phố Tam Kỳ.[24]

Năm 2007, thành lập một số xã, phường, mở rộng thị trấn thuộc thị xã Hội An và các huyện Đại Lộc, Bắc Trà My, Thăng Bình.[25]

Năm 2008, thành lập thành phố Hội An.[26] Cùng năm, thành lập một số xã thuộc các huyện Quế Sơn, Phước Sơn và thành lập huyện Nông Sơn.[27]

Năm 2009, thành lập thị trấn Phú Thịnh thuộc huyện Phú Ninh.[28]

Năm 2011, chia tách một số xã thuộc huyện Nam Giang.[29].

Năm 2015, thành lập thị xã Điện Bàn và thành lập các phường thuộc thị xã Điện Bàn.[30]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
  2. ^ “Lịch sử địa lý huyện Phước Sơn”. 
  3. ^ Quyết định 131-BT năm 1978 của Bộ trưởng Phủ thủ tướng.
  4. ^ Quyết định số 111-CP năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.
  5. ^ Quyết định số 79-HĐBT năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
  6. ^ Quyết định số 79-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng.
  7. ^ Quyết định số 144-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng.
  8. ^ Quyết định số 110-HĐBT năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng.
  9. ^ Quyết định số 116-HĐBT năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
  10. ^ Quyết định 289-HĐBT năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
  11. ^ Quyết định số 5-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  12. ^ Quyết định số 27-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  13. ^ Quyết định số 162-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  14. ^ Quyết định số 63-HĐBT năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng.
  15. ^ Nghị định số 102-CP năm 1994 của Chính phủ.
  16. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  17. ^ Nghị định số 43/1998/NĐ-CP của Chính phủ.
  18. ^ Nghị định 71/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
  19. ^ Nghị định số 27/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
  20. ^ Nghị định 72/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
  21. ^ Nghị định số 20/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
  22. ^ Nghị định 01/2005/NĐ-CP của Chính phủ.
  23. ^ Nghị định số 85/2005/NĐ-CP của Chính phủ.
  24. ^ Nghị định 113/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
  25. ^ Nghị định số 33/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
  26. ^ Nghị định 10/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
  27. ^ Nghị định 42/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
  28. ^ Nghị quyết số 69/NQ-CP năm 2009 của Chính phủ.
  29. ^ Nghị quyết số 03/NQ-CP năm 2011 của Chính phủ.
  30. ^ Quyết định số 889/NQ-UBTVQH13 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Vietnam Administrative Atlas_ Vietnam Publishing House of Natural resources, environment and cartography.