L0 Series

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
L0 Series
A 5-car set undergoing test-running
Tàu 5 toa đang thử nghiệm, tháng 9/2013
Nhà sản xuấtMitsubishi Heavy Industries, Nippon Sharyo
Constructed2011-
Entered service2011
Số tàu/xe đang xây dựng2
Thành lậpThử nghiệm: 5-12 toa
Đi vào hoạt động: 16 toa
CapacityToa cuối: 24
Toa giữa: 68
Nhà hoạt độngJR Central
Các tuyến phục vụChūō Shinkansen
Đặc tả
Chiều dài tàu299 m (tàu 12 toa)
Chiều dài xe28 m (toa cuối)
24,3 m(toa giữa)
Rộng2,9 m [1]
Cao3,1 m [2]
Vận tốc tối đa505 km/h (315 mph) 603 km/h (375 mph)(kỉ lục)
Track gaugeĐường rãnh SCMaglev

L0 Series là một loại tàu đệm từ đang được Công ty đường sắt Trung tâm Nhật Bản thử nghiệm. Ngày 21 tháng 4 năm 2015, tàu này chạy trên một tuyến đường thử nghiệm gần núi Phú Sĩ và đạt vận tốc tối đa 603 km/h và trong 11 giây nó chạy với vận tốc 600 km/h. Tàu đệm từ này lướt trên một đường ray được xây cao hơn bề mặt đất khoảng 10 cm. Công ty đường sắt Trung tâm Nhật Bản dự định khai thác loại tàu này năm 2027, với tốc độ tối đa 500 km/h và phục vụ cho tuyến đường dài 286 km nối TokyoNagoya. Thời gian chạy tàu giữa hai thành phố dự kiến sẽ mất 40 phút, bằng một nửa thời gian so với tàu cao tốc Shinkansen thời điểm 2015. Ban đầu, JR Central dự định khai thác tuyến đường sắt Tokyo và Osaka trong thời gian 67 phút giữa Tokyo và Osaka vào năm 2045, dành ra tám năm để thu hồi vốn.[3] Tuy nhiên, sau khi nhận được khoản vay ba tỉ yên của chính phủ Nhật Bản, kế hoạch được đẩy nhanh tới khánh thành sớm nhất vào năm 2037.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “L0 design changes” (PDF). jr-central.co.jp. JR Central. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  2. ^ “L0 design changes” (PDF). jr-central.co.jp. JR Central. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  3. ^ “JR Tokai unveils a model for the new high-speed maglev train ‘L0′”. Daily Onigiri. DailyOnigiri.com. Ngày 4 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  4. ^ “Japan PM's maglev decision reflects political calculus over economics”. Reuters (bằng tiếng Anh). 21 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.