Trang hạn chế sửa đổi (bán khóa)

LGBT

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Lá cờ cầu vồng 6 màu đại diện cho LGBTQ+
Cờ biểu tượng của cộng đồng LGBTQ+ tượng trưng sự đa dạng giới tính, sự đa dạng định giới và đa dạng xu hướng tính dục
Cờ biểu tượng của cộng đồng LGBTQ+ tượng trưng sự đa dạng giới tính, sự đa dạng định giới và đa dạng xu hướng tính dục

LGBTQ+ là các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay (đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (chuyển giới) và Queer (có xu hướng tính dụcbản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định mình theo bất kỳ nhãn nào) hoặc Questioning (đang trong giai đoạn tìm hiểu bản thân). Dấu cộng thể hiện sự tồn tại đa dạng của các nhóm khác trong cộng đồng như: non-binary (phi nhị nguyên giới), intersex (liên giới tính),...

Bắt đầu được sử dụng từ những năm 1990, tên viết tắt này bắt nguồn từ LGB, được dùng để thay thế thuật ngữ gay do sự bắt đầu của cộng đồng LGBT vào nửa cuối thập niên 1980, khi những nhà hoạt động xã hội tin rằng cụm từ cộng đồng gay không đại diện chính xác những người mà nó nói đến.

LGBTQ+ thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá nhân loại dựa trên xu hướng tính dục (sexual orientation), bản dạng giới (gender identity),[1] thể hiện giới (gender expression) và thiên hướng tình dục (sexual attraction). Xu hướng tính dục có các nhóm phổ biến: dị tính luyến ái (heterosexual), đồng tính luyến ái (homosexual), song tính luyến ái (bisexual), toàn tính luyến ái (pansexual), vô tính luyến ái (asexual),... Theo bản dạng giới có thể có: nam, nữ, phi nhị nguyên giới, linh hoạt giới, vô giới,... và người có bản dạng giới trái với giới tính sinh học (biological sex) của mình là người chuyển giới, ngược lại người người có bản dạng giới phù hợp với giới tính sinh họcngười hợp giới.

Lịch sử thuật ngữ

Quán bar Stonewall Innlàng cho người LGBT+Greenwich Village, Manhattan, địa điểm diễn ra cuộc bạo động Stonewall tháng 6 năm 1969, cái nôi của phong trào giành quyền lợi LGBT thời nay và là một biểu tượng của văn hóa LGBT, được tô điểm bởi những lá cờ lục sắc.[2][3][4]
Các ấn phẩm LGBT, lễ diễu hành tự hào và những sự kiện liên quan như sân khấu này tại Bologna Pride 2008 ở Ý, thường xuyên sử dụng thuật ngữ LGBT thay vì thêm các chữ cái mới và giải quyết các vấn đề về vị trí của các chữ cái trong tiêu đề mới.[5]

Người đồng tính (homosexual), cụm từ được sử dụng rộng rãi đầu tiên giờ đây mang một hàm ý tiêu cực ở nước Mỹ.[6] Sau đó, nó được thay thế bởi homophile tvào những năm 1950 và 1960,[7][8][9][Còn mơ hồ ] và tiếp theo là gay vào những năm 1970; cụm từ gay được chấp nhận trước bởi cộng đồng người đồng tính.[10]

Khi mà những người đồng tính nữ ngày càng tạo dựng được sự hiện diện, thì cụm từ “đồng tính nam (gay) và đồng tính nữ (lesbian)” cũng trở nên thông dụng hơn.[11] Một cuộc tranh cãi về việc liệu mục tiêu chính trị của người đồng tính nữ nên là nữ quyền hay quyền của người đồng tính đã dẫn đến sự tan rã của một số tổ chức dành cho người đồng tính nữ, bao gồm Daughters of Bilitis, tan rã vào 1970, theo đó là tranh cãi về việc nên đặt vấn đề nào là ưu tiên hàng đầu trước.[12] Khi mà sự bình đẳng là ưu tiên hàng đầu đối với những nhà nữ quyền đồng tính nữ, sự bất tương xứng vai vế giữa nam và nữ cũng như giữa butch (tính nam) và femme (tính nữ) bị coi là biểu hiện của chế độ phụ quyền. Các nhà nữ quyền đồng tính nữ đã né tránh vai trò về giới - thứ đang phổ biến ở các quán bar khi đó - cũng như "chủ nghĩa sô vanh" của những người đồng tính nam; nhiều nhà nữ quyền đồng tính nữ từ chối hợp tác với người đồng tính nam, hoặc đảm nhiệm sứ mệnh của họ.[13]

Những người đồng tính nữ giữ quan điểm bản chất luận, rằng họ sinh ra là đồng tính luyến ái và sử dụng từ "đồng tính nữ" để định nghĩa sự hấp dẫn về tình dục, thường coi những ý kiến ​​ly khai của những người theo chủ nghĩa nữ quyền là bất lợi cho bản chất  quyền của người đồng tính.[14] Những người song tính và chuyển giới cũng tìm kiếm sự công nhận là những nhóm chính thức trong cộng đồng thiểu số lớn hơn.[11]

Trước sự phấn khởi về sự thay đổi sau hành động nhóm trong cuộc bạo loạn Stonewall năm 1969 ở thành phố New York, vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, một số người đồng tính nam và đồng tính nữ dần trở nên ít chấp nhận người song tính hoặc chuyển giới hơn.[15][16] Các nhà phê bìnhBản mẫu:Like whom nói rằng những người chuyển giới thể hiện không đúng theo các khuôn mẫu về họ và những người song tính chỉ đơn giản là những người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ người e sợ phải công khai và thành thật về bản dạng của họ.[15] Mỗi cộng đồng đã phải đấu tranh để phát triển bản sắc riêng của mình bao gồm cả việc liệu có nên hay không và làm thế nào, để hòa hợp với những cộng đồng dựa trên giới và tính dục khác, dẫn đến việc đôi khi loại trừ các phân nhóm nhỏ hơn; những xung đột này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.[16] Các nhà hoạt động LGBTQ và các nghệ sĩ đã sử dụng những áp phích để nâng cao nhận thức về vấn đề này kể từ khi phong trào bắt đầu.[17]

Từ khoảng năm 1988, các nhà hoạt động bắt đầu sử dụng thuật ngữ LGBT ở Hoa Kỳ.[18] Mãi đến những năm 1990, trong phong trào này, người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới mới được tôn trọng một cách bình đẳng.[16] Điều này đã thúc đẩy một số tổ chức áp dụng những cái tên mới, như Hiệp hội Lịch sử GLBT đã làm vào năm 1999. Mặc dù cộng đồng LGBT đã chứng kiến ​​nhiều tranh cãi liên quan đến việc chấp nhận phổ biến các nhóm thành viên khác nhau (đặc biệt là các cá nhân song tính và chuyển giới, đôi khi bị cho ra rìa bởi cộng đồng LGBT lớn hơn), thuật ngữ LGBT đã là một biểu tượng tích cực của sự hòa nhập.[16][19]

Mặc dù trên danh nghĩa, LGBT không bao gồm tất cả những từ viết tắt chỉ các cá nhân trong các cộng đồng nhỏ hơn (xem Các biến thể bên dưới), thuật ngữ này thường được chấp nhận để bao gồm những người không được xác định cụ thể trong nghĩa viết tắt của bốn chữ cái.[16][19] Nhìn chung, việc sử dụng thuật ngữ LGBT theo thời gian đã hỗ trợ phần lớn trong việc đưa những cá nhân bị thiệt thòi vào cộng đồng chung.[16][19] Nữ diễn viên chuyển giới Candis Cayne vào năm 2009 đã mô tả cộng đồng LGBT là "thiểu số tuyệt vời cuối cùng", và lưu ý rằng "Chúng ta vẫn có thể bị quấy rối một cách công khai" và "bị gọi tên trên truyền hình".[20]

Vào năm 2016, Hướng dẫn tham khảo về phương tiện truyền thông của GLAAD tuyên bố rằng LGBTQ là thuật ngữ được ưa thích hơn, bởi vì nó bao gồm các thành viên trẻ của cộng đồng chấp nhận từ "queer" là một từ tự mô tả bản thân.[21] Tuy nhiên, một số người xem queer là một thuật ngữ xúc phạm có nguồn gốc ngôn từ kích động thù địch và từ chối nó, đặc biệt là một số  thành viên lớn tuổi của cộng đồng.[22]

Các biến thể của thuật ngữ

Tổng quan

Lễ diễu hành tự hào năm 2010 ở Plaza de Mayo, Buenos Aires, cái mà sử dụng thuật ngữ LGBTIQ.[23]
Mọi người tập trung ở Quảng trường Senate, Helsinki, ngay trước khi lễ diễu hành Tự hào Helsinki 2011 diễn ra.

Nhiều biến thể bao gồm các thuật ngữ thay đổi vị trí của cái chữ cái như LGBT hay GLBT là những thuật ngữ thông dụng nhất.[16] Tuy giống nhau về nghĩa, LGBT thường mang hàm ý nghiêng về nữ quyền hơn GLBT vì chữ cái “L” (đồng tính nữ) được đặt lên đầu.[16] LGBT cũng bao gồm chữ cái Q tượng trưng cho người "queer" hoặc "băn khoăn về xu hướng tính dục của bản thân" (đôi khi được viết tắt với một dấu hỏi chấm và được dùng cho những người không hẳn là L, G, B hay T), tạo ra những thuật ngữ LGBTQ hay LGBTQQ.[24][25][26] Ở Anh, thuật ngữ được cách điệu thành LGB&T,[27][28], trong khi Đảng Xanh nước Anh và xứ Wales dùng thuật ngữ LGBTIQ trong các ấn phẩm và tuyên ngôn chính thức của mình.[29][30][31]

Thứ tự của các chữ cái không được tiêu chuẩn hóa, ngoài các biến thể giữa các chữ “L” hay “G”, những chữ cái ít thông dụng hơn, nếu được sử dụng, thì có thể được đặt ở bất kỳ vị trí nào.[16] Những thuật ngữ dài dựa trên LGBT thường bị cho là hỗn tạp và quá khó hiểu.[32][33] Các thuật ngữ biến thể thường không tượng trưng cho sự khác biệt về quan điểm chính trị trong cộng đồng, mà thường chỉ đơn giản là nêu lên sự lựa chọn của các cá nhân và nhóm.[34]

Các thuật ngữ như toàn tính (pansexual), omnisexual, fluid (linh hoạt)queer-identified thường được xem như là những thuật ngữ con thuộc về thuật ngữ song tính (bisexual) (và vì vậy chúng được xem như là một phần của cộng đồng người song tính).

Một vài người dùng LGBT+ để nói về “LGBT và những cộng đồng có liên quan”.[35] Bên cạnh đó, thuật ngữ LGBTQIA cũng thường hay được sử dụng và ba chữ cái viết tắt thêm là "queer,  liên giới tính (intersex), và vô tính (asexual)".[36] Những biến thể khác có thể bao gồm chữ “U” (unsure) cho "không chắc chắn"; "C" (curious) cho "sự tò mò"; thêm một chữ "T" (transvestite) cho "người ăn mặc xuyên giới"; "TS", hoặc "2" cho "hai tâm hồn" (two-spirit);"SA" (strangiht allies) cho những "đồng minh dị tính".[37][38][39][40][41] Tuy nhiên sự bao gồm đồng minh dị tính vào thuật ngữ LGBT đã dấy lên tranh cãi khi mà những người dị tính đã dùng phong trào LGBT để tăng sự nổi tiếng và địa vị trong những năm gần đây,[42] và nhiều nhà hoạt động xã hội LGBT đã chỉ trích thế giới quan định chuẩn hóa dị tính của những người dị tính nhất định.[43] Một vài người thêm chữ “P” (polyamorous) đa tính, chữ "H" cho "những người nhiễm HIV " hay "O" (other) khác.[16][44] Còn thuật ngữ LGBTIH được sử dụng ở Ấn Độ để bao gồm "hijra third gender" những tiểu văn hóa có liên quan.[45][46]

Thuật ngữ LGBTTQQIAAP (đồng tính nữ, đồng tính nam, người song tính, chuyển giới, transsexual, queer, khám phá tính dục, liên giới tính, vô tính, đồng minh, toàn tính cũng được tạo ra, nhưng gặp nhiều chỉ trích vì quá rắc rối, và không bao gồm một số nhóm thiểu số khác cũng như là vấn đề về vị trí của các chữ cái trong thuật ngữ mới.[32] Tuy nhiên, việc thêm cụm từ "đồng minh" (allies) vào thuật ngữ đã dẫn đến tranh cãi,[47] vì một số người xem sự bao gồm của "ally" thay thế cho "asexual" như là một cách xóa bỏ sự hiện diện của người vô tính.[48] Ngoài ra, còn có thuật ngữ QUILTBAG (queer and questioning, unsure, intersex, lesbian, transgender and two-spirit, bisexual, asexual and aromantic, and gay and genderqueer).[49]

Tương tự, LGBTIQA+ tượng trưng cho "đồng tính nữ, đồng tính nam, người song tính, chuyển giới, liên giới tính, queer/questioning, vô tính và nhiều cụm từ khác (như phi nhị giới và toàn tính)".[50] Dấu cộng sau chữ "A" có thể chỉ một chữ A thứ hai tượng trưng cho đồng minh (allies).[51]

Ở Canada, cộng đồng đôi khi được xác định là LGBTQ2 (Đồng tính nữ, Đồng tính nam, Song tính, Chuyển giới, Queer và Hai tâm hồn).[52] Tùy thuộc vào từng tổ chức  mà sự lựa chọn về chữ viết tắt sẽ khác nhau . Các doanh nghiệp và CBC thường sử dụng cụm từ LGBT làm đại diện cho bất kỳ từ viết tắt nào dài hơn, còn các nhóm hoạt động tư nhân thường sử dụng LGBTQ+,[53] trong khi các nhà cung cấp dịch vụ y tế công cộng ưu tiên LGBT2Q+ để phù hợp với những người bản địa hai tâm hồn.[54] Trong một khoảng thời gian, tổ chức Pride Toronto đã sử dụng từ viết tắt khá dài LGBTTIQQ2SA, nhưng dường như đã bỏ cụm từ này để dùng những cụm từ đơn giản hơn.[55]

Sự bao gồm người chuyển giới

Cụm từ trans* đã được tiếp nhận bởi một số nhóm như là một từ thay thế bao hàm cho “transgender” (chuyển giới), khi mà trans (không có dấu hoa thị) được sử dụng để mô tả người chuyển giới namngười chuyển giới nữ, trong khi trans* bao hàm tất cả những bản dạng phi hợp giới (genderqueer), bao gồm người chuyển giới, transsexual (người chuyển giới muốn trị liệu định giới), ăn mặc xuyên giới, genderqueer, linh hoạt giới, phi nhị giới, genderfuck, genderless, vô giới, non-gendered, giới thứ ba, hai tâm hồn, song giới, chuyển giới nam và chuyển giới nữ.[56][57] Tương tự, cụm từ transsexual thường thuộc trong transgender, nhưng một số người transsexual phản đối điều này.[16]

Khi không bao gồm người chuyển giới, thuật ngữ rút gọn LGB được sử dụng thay vì LGBT.[16][58]

Sự bao gồm người liên giới tính

Mối quan hệ của người liên giới tính với các cộng đồng đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới,[59] queer là rất phức tạp, nhưng những người liên giới tính thường được thêm vào danh mục LGBT để tạo ra một cộng đồng LGBTI. Một số người liên giới tính ưa thích thuật ngữ LGBTI hơn, trong khi những người khác lại muốn họ không được đưa vào như một phần của thuật ngữ này.[60][61] Emi Koyama mô tả cách đưa người liên giới tính vào LGBTI có thể không giải quyết được các vấn đề nhân quyền cụ thể của người liên giới tính, bao gồm cả việc tạo ra ấn tượng sai lầm "rằng quyền của người liên giới tính được bảo vệ bởi luật bảo vệ người LGBT, và không thừa nhận rằng nhiều người liên giới tính không phải là LGBT.[62] Tổ chức Intersex International Australia tuyên bố rằng một số cá nhân liên giới tính bị thu hút bởi những người cùng giới tính và một số người dị tính, nhưng "hoạt động LGBTI đã đấu tranh cho quyền của những người nằm ngoài hệ nhị phân giới tính và ngoài những chuẩn mực giới.".[63][64] Julius Kaggwa của SIPD Uganda đã viết rằng, trong khi cộng đồng người đồng tính" cung cấp cho chúng tôi một nơi an toàn tương đối, họ cũng không để ý đến/ không nhận biết được nhu cầu cụ thể của chúng tôi".[65]

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ hấp dẫn đồng giới cao hơn ở những người liên giới tính,[66][67] một nghiên cứu gần đây của Úc về những người sinh ra với các đặc điểm giới tính khác thường cho thấy 52% người được hỏi không phải là người dị tính,[68][69] do đó nghiên cứu về đối tượng liên giới tính đã được sử dụng để khám phá các phương tiện ngăn ngừa đồng tính luyến ái.[66][67] Là trường hợp được sinh ra với các đặc điểm giới tính không phù hợp với các chuẩn mực xã hội,[70] người liên giới tính có thể được phân biệt với người chuyển giới,[71][72][73] trong khi một số người liên giới tính là cả liên giới tính và chuyển giới.[67]

Sự chỉ trích về thuật ngữ

Các gia đình LGBT trong cuộc diễu hành Tự hào ở Boston vào năm 2007. Vì nhiều lí do, các nhà nghiên cứu đã gán nhãn họ là những người phi dị tính.[74]

Từ viết tắt LGBT hay GLBT không có được sự đồng thuận của mọi người vì chúng không bao gồm tất cả.[75] Ví dụ, một vài người tranh luận rằng bản chất người chuyển giới thì không giống như là đồng tính nam, đồng tính nữ và người song tính (LGB).[76] Tranh luận này xoay quanh vấn đề rằng là một người chuyển giới thì liên quan nhiều đến bản dạng giới hoặc sự hiểu biết của một người về việc là nam hay nữ, mà không kể đến xu hướng tính dục của họ.[16] Những vấn đề về LGB có thể được xem như là vấn đề về xu hướng và sự hấp dẫn tính dục.[16] Những sự khác biệt này đã được nêu ra trong bối cảnh chính trị, điều mà những mục tiêu của LGB như là hợp pháp hóa hôn nhân đồng giớinhân quyền (điều mà không bao gồm người chuyển giới và người liên giới tính), có thể được xem là khác với những mục tiêu của người chuyển giới.[16]

Một niềm tin vào "chủ nghĩa ly khai đồng tính nam và đồng tính nữ" (tránh nhầm lẫn với "chủ nghĩa ly khai đồng tính nam và đồng tính nữ") tin rằng những người đồng tính nam và đồng tính nữ thành lập (hoặc nên hình thành) một cộng đồng tách biệt với các nhóm khác thường được bao gồm trong phạm vi LGBTQ.[77] Những người theo chủ nghĩa ly khai mặc dù không phải lúc nào cũng có đủ số lượng để được xem là một phong trào nhưng họ là một nhân tố quan trọng, tích cực và thẳng thắn trong cộng đồng LGBT.[77][78][79] Trong một số trường hợp những người theo chủ nghĩa ly khai sẽ chối bỏ sự tồn tại và quyền bình đẳng của những người song tính và chuyển đổi giới tính,[78] đôi khi gây nên chứng ghét sợ song tínhchuyển giới.[77][78] Đối lập với những người theo chủ nghĩa ly khai, Peter Tatchell thuộc nhóm về nhân quyền LGBT OutRage!, tranh luận rằng tách phong trào của người chuyển giới ra khỏi LGB sẽ là "một sự điên rồ về mặt chính trị", anh nói:

Người Queers cũng như người chuyển giới là những chống lại chuẩn mực về giới. Chúng tôi không tuân theo bất cứ sự giả định dị tính của hành vi nam nữ, bởi vì chúng tôi có những mối quan hệ tình cảm và tình dục với người đồng giới. Chúng tôi nên ăn mừng sự khác biệt của mình với những chuẩn mực dị tính đại chúng khác.[...][80]

Một vài những người đồng tính nam, đồng tính nữ, người song tính và chuyển giới không thích cách mô tả về một “cộng đồng LGBT” hay “LGB” bao hàm tất cả.[81][82] Một số người không tán thành những chiến dịch đoàn kết chính trị xã hội, sự hiện diện và vận động nhân quyền, điều mà thường kèm theo nó là lễ diễu hành tự hào đồng tính.[81][82] Vài người tin rằng nhóm những người phi dị tính lại với nhau làm lưu truyền ý nghĩ rằng việc là người đồng tính/song tính/vô tính/toàn tính/v.v làm cho một người khác biệt do thiếu sót hơn so với người khác.[81] Những người này thường ít được biết đến hơn so với những nhà hoạt động xã hội LGBT đại chúng.[81][82] Vì bộ phận này rất khó để phân biệt với số đông người dị tính, mọi người thường cho rằng tất cả người LGBT ủng hộ phong trào tự do LGBT và sự hiện diện của người LGBT trong xã hội, bao gồm quyền được sống một cuộc đời với cách khác với số đông.[81][82][83] Trong cuốn sách Anti-Gay năm 1996, một tuyển tập các bài luận được chỉnh sửa bởi Mark Simpson, khái niệm bản dạng “một kích cỡ vừa tất cả” dựa trên những khuôn mẫu LGBT bị chỉ trích vì kìm hãm tính cá nhân của cộng đồng LGBT.[84]

Viết trong tờ BBC News Magazine năm 2014, Julie Bindel tự hỏi rằng liệu các nhóm giới hiện nay có cùng nhau chia sẻ vấn đề và mục tiêu giống nhau? Bindel nói đến một vài cách viết tắt khác chỉ những sự kết hợp khác nhau và kết luận rằng đã đến lúc các liên minh phải được cải cách hoặc tách biệt hoàn toàn.[85] Vào 2015, câu slogan “Hãy loại bỏ chữ T” được hình thành nhằm khuyến khích các tổ chức LGBT ngừng ủng hộ người chuyển giới; trong khi nhận được rất nhiều sự ủng hộ của một vài nhà nữ quyền [86][87] cũng như là một số người chuyển giới,[88] nhiều nhóm LGBT lên án chiến dịch này là kỳ thị người chuyển giới.[89][90][91][92]

Những thuật ngữ thay thế

Nhiều người đã tìm kiếm một thuật ngữ chung để thay thế nhiều từ viết tắt đã có từ trước.[78] Những từ như queer (một thuật ngữ chung cho các nhóm tính dục và giới tính thiểu số không thuộc về dị tính hay nhị nguyên giới) và cầu vồng đã được thử, nhưng hầu hết đều chưa được dùng rộng rãi.[78][93] Queer có nhiều hàm ý tiêu cực, đối với những người lớn tuổi nhớ từ này như một lời chế nhạo và xúc phạm, và cách sử dụng tương tự (một cách tiêu cực) khác đối với thuật ngữ này vẫn còn tiếp diễn.[78][93] Nhiều người trẻ tuổi cũng cho rằng queer có tính chính trị hơn LGBT.[93][94] "Cầu vồng" có ý chỉ những người hippies, các phong trào Thời đại Mới và các nhóm như Gia đình Cầu vồng hoặc Cầu vòng của Jesse Jackson/Liên minh PUSH. SGL ("tình yêu đồng giới") đôi khi được những người đồng tính nam Mỹ gốc Phi ưa chuộng như một cách để phân biệt mình với cộng đồng LGBT da trắng da trắng thống trị.[95]

Một số người ủng hộ thuật ngữ "nhóm thiểu số tính dục và bản dạng giới" (MSGI, được đặt ra vào năm 2000), hoặc các nhóm thiểu số giới và tính dục/nhóm thiểu số tính dục (GSM) để trực tiếp bao gồm tất cả những người không phải là người dị giớidị tính; hoặc các nhóm thiểu số giới, tính dục và tình cảm (GSRM), trong đó bao gồm cả các xu hướng lãng mạn thiểu sốsự đa ái; tuy vậy những thuật ngữ đó cũng không được sử dụng rộng rãi.[96][97][98][99][100] Các thuật ngữ bao quát hiếm gặp khác là Đa dạng Giới và Tính dục (GSD),[101] MOGII (Các tính hướng bản lề, Bản dạng giới, và Liên giới tính) và MOGAI (Các tính hướng bản lề, Gender Alignment (Sự giao nhau về giới) và Liên giới tính).[102][103]

Viện Sức khỏe Quốc gia Mỹ đã đóng khung LGBT, những người “có xu hướng tính dục và/hoặc bản dạng giới khác nhau, những người có thể không tự coi mình là LGBT" và cả người liên giới tính (những người bị các chứng rối loạn phát triển giới tính) là những người "thiểu số tính dục và giới (SGM)”. Định nghĩa này đã dẫn đến sự phát triển của một kế hoạch chiến lược nghiên cứu y tế NIH SGM.[104] Viện Williams đã sử dụng thuật ngữ tương tự trong một báo cáo về các mục tiêu phát triển bền vững quốc tế, nhưng không bao gồm người liên giới tính.[105]

Tại các cơ sở y tế công cộng, MSM ("nam quan hệ tình dục với nam") được sử dụng để mô tả những người đàn ông quan hệ tình dục với những người đàn ông khác mà không đề cập đến xu hướng tính dục của họ, cùng với WSW ("phụ nữ quan hệ tình dục với phụ nữ") cũng được sử dụng như một thuật ngữ tương tự.[106][107]

Giải thích các thuật ngữ

Đồng tính luyến ái (Homosexual)

Nói đến người có xu hướng tính dục (sexual orientation) đồng tính luyến ái bao gồm: đồng tính luyến ái nữ (lesbian) và đồng tính luyến ái nam (gay), gọi tắt là đồng tính. Họ là người cảm thấy sự hấp dẫn tình yêu và/hoặc tình dục với người cùng giới tính. Khác với người có xu hướng tính dục dị tính luyến ái, là cảm thấy sự hấp dẫn tình yêu và/hoặc tình dục với người khác giới tính.

Song tính luyến ái

Chỉ những người có sự hấp dẫn tình yêu, tình dục với cả những người cùng giới và khác giới tính một cách lâu dài.

Người chuyển giới

Là những người có bản dạng giới (nhận định, cảm nhận giới tính) khác với những đặc điểm giới tính của người đó lúc sinh ra, bao gồm người chuyển giới đã phẫu thuật và người chuyển giới chưa (hoặc không qua) qua phẫu thuật định giới.

Các vấn đề xã hội

Liên Hiệp quốc

Một báo cáo của tổ chức GLAAD ban hành vào tháng 2 năm 2011 cho thấy, 90% số người chuyển giới phải đối mặt với nạn kỳ thị tại nơi làm việc và tỷ lệ thất nghiệp gấp đôi tỷ lệ chung của dân số.[108] Hơn một nửa số họ đã bị sách nhiễu hoặc bị từ chối khi cố gắng tiếp cận vào các dịch vụ công cộng. Các thành viên của cộng đồng người chuyển giới cũng gặp phải sự phân biệt đối xử cao độ trong vấn đề chăm sóc sức khỏe hàng ngày.[109]

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho biết, trong gần 80 quốc gia trên thế giới thì quan hệ tình dục cùng giới vẫn được coi là bất hợp pháp, và ở nhiều nước vẫn còn nhiều công dân bị từ chối quyền được sống theo bản sắc giới tính của họ. Cùng với bất bình đẳng trong luật pháp, hội chứng kỳ thị và phân biệt đối xử đang hàng ngày diễn ra đối với hàng triệu người đồng tính luyến ái trên toàn thế giới..

Trưởng phụ trách các vấn đề toàn cầu - Uỷ ban nhân quyền Liên hiệp quốc Charles Radcliffe cũng cho biết: "Một trong những điều chúng tôi nhận thấy là nếu luật pháp cơ bản phản ánh tâm lý thù ghét đồng tính, thì sau đó nó sẽ tạo ra nạn thành kiến kỳ thị đồng tính trong xã hội nói chung. Nếu Chính phủ đối xử với họ như là công dân hạng hai, hoặc tệ hơn là tội phạm, thì nó sẽ dẫn đường cho dân chúng làm điều tương tự". Ông nhấn mạnh rằng tất cả các nước thành viên của Liên Hợp Quốc có nghĩa vụ tuân theo Luật nhân quyền quốc tế để phi hình sự hóa hành vi quan hệ tình dục đồng tính luyến ái.[110]

Luật pháp

Luật pháp trên thế giới về đồng tính luyến ái

Mặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp tại nhiều nơi ở phương Tây, chẳng hạn như[111][112] Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 và Anh 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chế cho đến giữa những năm 70[113][114] Năm 1977, Québec tại Canada đã trở thành bang đầu tiên cấm kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục.[114] Những năm 80 và 90, nhiều nước phát triển đã hợp pháp hóa đồng tính luyến ái và cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú và dịch vụ. Tính tới năm 2015, đã có hơn 20 quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính gồm: Hà Lan - 2001, Bỉ - 2003, Canada - 2005, Tây Ban Nha - 2005, Nam Phi - 2006, Na Uy - 2009, Thụy Điển - 2009, Bồ Đào Nha - 2010, Iceland - 2010, Argentina - 2010, Đan Mạch - 2012, New Zealand - 2013, Uruguay - 2013, Brazil - 2013, Vương Quốc Anh - 2013, Pháp - 2013, Scotland - 2014, Luxembourg - 2014, Slovenia - 2015, Phần Lan - 2015, Ireland - 2015, Hoa Kỳ - 2015. Ngoài ra, nhiều quốc gia khác hiện đã công nhận quyền kết hôn của người đồng tính dưới hình thức kết hợp dân sự hoặc đăng ký chung sống, một hình thức để những cặp đôi đồng giới hợp pháp hóa việc chung sống với nhau và hưởng một số quyền, nghĩa vụ giống như như hôn nhân của các cặp khác giới. Mới đây nhất, ngày 26 tháng 6 năm 2015, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thông qua quyết định chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.[115]

Tuy nhiên, tính đến tháng 7 năm 2015, vẫn có 72 nước có luật hình sự hóa đồng tính luyến ái, hầu hết số đó nằm ở châu Á và châu Phi. Các nước này gồm: Afghanistan, Algeria, Angola, Antigua and Barbuada, Bangladesh, Barbados, Belize, Bhutan, Botswana, Brunei, Burundi, Cameroon, Comoros, Dominica, Egypt, Eritrea, Ethiopia, Gambia, Ghana, Grenada, Guinea, Guyana, India, Iran, Jamaica, Kenya, Kiribati, Kuwait, Liberia, Libya, Malawi, Malaysia, Maldives, Mauritania, Morocco, Myanmar, Namibia, Nauru, Nigeria, Oman, Pakistan, Papua New Guinea, Qatar, Saint Kitts and Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Samoa, Saudi Arabia, Senegal, Seychelles, Sierra Leone, Singapore, Solomon Islands, Somalia, South Sudan, Sri Lanka, Sudan, Swaziland, Syria, Tanzania, Togo, Tonga, Trinidad và Tobago, Tunisia, Turkmenistan, Tuvalu, Uganda, United Arab Emirates, Uzbekistan, Yemen, Zambia và Zimbabwe.[116] Trong số trên có 7 nước hồi giáo gồm: Afghanistan, Saudi Arabia, Brunei, Iran, Yemen và Nigeria có hình phạt tử hình với người đồng tính luyến ái.[117]

Tới năm 2013, chưa có quốc gia Châu Á nào công nhận hôn nhân đồng tính hoặc đăng ký sống chung. Tại Thái Lan có cộng đồng LGBT sôi nổi, nhưng điều này chỉ có ở ngành kinh doanh giải trí thu lợi nhuận vốn tách biệt với nền chính trị và xã hội Thái bảo thủ.[118] Năm 2014, một dự luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính được soạn thảo bởi Quốc hội Thái Lan và được hỗ trợ từ cả hai Đảng, nhưng sau đó đã bị đình trệ do khủng hoảng chính trị trong nước.[119] Tuy nhiên ngày 13 tháng 3 năm 2015, Thái Lan đã ban hành Luật bình đẳng giới (có hiệu lực từ ngày 09 tháng 09 năm 2015), trong đó bao gồm cả các điều khoản luật chống kỳ thị đối với người LGBT và hình sự hóa các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử cộng đồng LGBT. Trong đó, hành vi "phân biệt đối xử giữa các giới tính" có thể bị phạt từ 20.000 Bath (tương đương khoảng 13 triệu VNĐ) cho đến 6 tháng tù giam.[120]

Ở những quốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm khắc chống lại người đồng tính. Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20 năm tù và bị đánh roi ở Malaysia. Năm 2003 ở Đài Loan, một dự luật được đưa ra để công nhận hôn nhân đồng tính đã không đạt đủ số phiếu để thông qua.[118]. Tháng 7 năm 2015, chính quyền Đài Loan tuyên bố có kế hoạch soạn thảo một bộ luật để hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới nhằm củng cố vị trí của cộng đồng LGBT trong xã hội Đài Loan[121]. Ở Nhật Bản, văn hóa và những tôn giáo lớn không có thái độ thù ghét những cá nhân đồng tính, nước này không có luật nào chống lại đồng tính luyến ái nhưng hôn nhân đồng tính thì không được công nhận.[122]. Năm 2010, trong khuôn khổ Diễn đàn nhân dân ASEAN, Mạng lưới Xu hướng tính dục và Bản dạng giới ASEAN được hình thành. Đây là lần đầu tiên, quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới được nhắc đến trong tuyên bố chung của Diễn đàn thường niên, đặt nền tảng cho những hoạt động tích cực của mạng lưới để thúc đẩy quyền của LGBT trong khu vực[123].

Ở khu vực Trung Đông vốn tập trung nhiều nước đạo Hồi, đồng tính luyến ái bị pháp luật cấm nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp luật hỗ trợ.[124] Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao nhất thế giới với 61% người dân ủng hộ.[125] Israel là nước Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận sự chung sống không đăng ký của cặp đôi đồng giới. Mặc dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới, Israel là quốc gia Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận hôn nhân đồng giới ở nước khác. Kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục bị cấm vào năm 1992. Theo một quyết định năm 2008, các cặp đồng giới cũng được quyền nhận con nuôi. Ở đây, người đồng tính được quyền công khai tham gia quân ngũ.[126][127][128][129][130][131][132][133]

Với người chuyển giới, hiện tại đã có hơn 25 quốc gia và vùng lãnh thổ công nhận người chuyển giới. Cho đến năm 2014, các quốc gia đã công nhận và cho phép phẫu thuật chuyển giới bao gồm: Thụy Điển (1972), Đức (1981), Italia (1982), Hà Lan (1985), Thổ Nhĩ Kỳ (1988), Trung Quốc (2003), Nhật Bản (2004), New Zealand (1995), Panama (1975), Romani (1996), Nam Phi (2003), Iran, Vương quốc Anh (2004), Tây Ban Nha (2006), Urugoay (2009), Bồ Đào Nha (2011), Ấn Độ, Lithuana, Serbia, Argentina, Malaysia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Hồng Kông – Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc (năm 2012) và nhiều bang, vùng của Australia, Canada, Hoa Kỳ[134]... Australia, New Zealand và Nepal đã cấp hộ chiếu (visa) công nhận người chuyển giới, trong đó những người không thuộc giới tính "M" hay "F" có thể chọn chữ "X" thay thế[135][136]. Tháng 8/2015, Hoa Kỳ đã bổ nhiệm cô Raffi Freedman-Gurspan - một người chuyển giới nữ công khai, giữ chức vụ Giám đốc khai thác và tuyển dụng nhân sự phục vụ cho Tổng thống[137].

Tháng 4 năm 2014, Toà án tối cao Ấn Độ đã ra phán quyết công nhận người chuyển giới là "giới tính thứ ba" trong luật pháp, cho phép người chuyển giới thực hiện chuyển đổi giới tính và sửa lại giới tính của mình trong các giấy tờ pháp lý là giới tính thứ 3 (không phải nam cũng không phải nữ) giống như Nepal, luật đã có tác động tới khoảng 3 triệu người chuyển giới tại Ấn Độ[138][139][140]. Tuy nhiên, hành vi đồng tính tại Ấn Độ thì sẽ bị phạt nặng, có thể lên tới 10 năm tù giam[141][142]

Công khai

Mức độ công khai thiên hướng tình dục của những người LGBT phụ thuộc vào việc họ sống trong một môi trường phân biệt đối xử ra sao, cũng như tình trạng về quyền LGBT nơi họ sinh sống[1].

Có nhiều người LGBT nổi tiếng công khai thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó có cả nhiều nguyên thủ quốc gia, nhà lãnh đạo các tập đoàn hàng đầu thế giới như: Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel [143], nữ thủ tướng Iceland Johanna Sigurdardottir [144], Tim Cook - Giám đốc điều hành của Tập đoàn Apple, Robert Hanson - Giám đốc Tập đoàn về trang sức John Hardy, Anthony Watson - Giám đốc thông tin tập đoàn Nike, John Browne - CEO Tập đoàn dầu khí BP của Anh, Christopher Bailey - CEO của Tập đoàn bán lẻ cao cấp Burberry (Anh), Nick Denton - Nhà sáng lập Tập đoàn Gawker Media của Hoa Kỳ, Robert Greenblatt - Chủ tịch hãng truyền thông NBC Entertainment của Hoa Kỳ[145], Trevor Burgess - Giám đốc điều hành Ngân hàng St. Peterburg [146], Lisa Brummel - nữ Phó chủ tịch Bộ phận nhân lực của Microsoft, Peter Thiel - Cựu Tổng Giám đốc Tập đoàn PayPal kiêm nhà đầu tư đầu tiên Facebook, Chris Hughes - người đồng sáng lập và là người phát ngôn của Facebook, Megan Smith - nữ phó chủ tịch Google x, Giám đốc tổ chức công nghệ Linux Internationa, Bob Page - Giám đốc điều hành Tập đoàn Replacement (nhà bán lẻ lớn nhất thế giới về các mặt hàng đồ cổ, pha lê và bạc)[147][148]...

Nhiều ngôi sao giải trí nổi tiếng Hollywood, ca sĩ, MC nổi tiếng cũng công khai là người đồng tính như: Ricky Martin, nam diễn viên nổi tiếng Neil Patrick Harris, Wentworth Miller - nam diễn viên chính phim "Vượt ngục", Ben Whishaw - nam diễn viên chính của phim "Điệp viên 007", nam diễn viên hành động hàng đầu Hollywood Luke Evans, Jodie Foster - nữ diễn viên chính phim "Sự im lặng của bầy cừu" (người từng đoạt 2 giải Quả cầu vàng và 2 giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất), Raven-Symone - nữ ngôi sao phim "Cosby Show", Nữ MC thành danh nhất thế giới Ellen DeGeneres (bảy lần đoạt giải Emmy cho Người dẫn chương trình truyền hình xuất sắc nhất), Á quân của American Idol Adam Lambert...[149][150][151][152].

Nhiều cầu thủ bóng đá cũng công khai mình là người đồng tính như: Thomas Hitzlsperger (từng 52 lần đại diện cho Đội tuyển quốc gia Đức)[153], Robbie Rogers, David Testo, Anton Hysén, Thomas Berling, Jonathan De Falco, Marcus Urban, Justin Fashanu, Liam Davis...[154]. Vào tháng 4/2015, 2 tuyển thủ trụ cột của Đội tuyển bóng đá Thái Lan là Charyl Chappuis và Chanathip Songkrasin đã gây bất ngờ khi công khai quan hệ đồng tính.[155]

Có 1 vị cựu đại sứ và 6 đại sứ đương nhiệm của Hoa Kỳ là người đồng tính, gồm: David Huebner - cựu đại sứ Hoa Kỳ tại New Zealand; Đại sứ Hoa Kỳ tại Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), James Costos - đại sứ tại Tây Ban Nha; Rufus Gifford - đại sứ tại Đan Mạch; James "Wally" Brewster - đại sứ tại DominicaTed Osius - đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam [156].

Trích dẫn

Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc đã phát biểu:

Quan điểm chính thức của Giáo hội Công giáo Rôma với hơn 1 tỷ tín đồ trên toàn thế giới, đại diện là Tòa Thánh Vatican, phân biệt giữa khuynh hướng đồng tính và hành vi đồng tính, đồng thời đón nhận người đồng tính nhưng không chấp nhận hôn nhân đồng tính. Một mặt, Tòa thánh kêu gọi bao dung và phản đối các hành động bạo hành chống người đồng tính, "phải đón nhận họ với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công",[158] nhưng mặt khác, Tòa thánh kiên quyết chống lại hôn nhân đồng giới để bảo vệ giá trị của gia đình truyền thống và đức tin Ki-tô giáo. Giáo hoàng hưu trí Biển Đức XVI khi còn tại vị đã tiếp tục quan điểm này khi cho rằng hôn nhân đồng tính cấu thành hành vi chống lại sự thật bản chất của con người. Đó là một nỗ lực không mệt mỏi của cả Vatican mà người đứng đầu là Giáo hoàng, nhằm cố gắng thức tỉnh Hoa Kỳ và một loạt các nước châu Âu đang đòi hỏi công nhận hôn nhân đồng tính trong thời gian qua. Giáo hoàng Biển Đức XVI đã lên tiếng bày tỏ quan điểm rằng: hôn nhân đồng tính là phi tự nhiên và có thể gây nhiều phẫn nộ ảnh hưởng tới hòa bình và công lý trên thế giới. Giáo hoàng Biển Đức XVI từng kêu gọi:[159][160]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă Gay and lesbian issues - discrimination | Better Health Channel
  2. ^ Julia Goicichea (16 tháng 8 năm 2017). “Why New York City Is a Major Destination for LGBT Travelers”. The Culture Trip. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2019. 
  3. ^ Eli Rosenberg (24 tháng 6 năm 2016). “Stonewall Inn Named National Monument, a First for the Gay Rights Movement”. The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ “Workforce Diversity The Stonewall Inn, National Historic Landmark National Register Number: 99000562”. National Park Service, U.S. Department of the Interior. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  5. ^ Cahill, Sean, and Bryan Kim-Butler. "Policy priorities for the LGBT community: Pride Survey 2006." New York, NY: National Gay and Lesbian Task Force (2006).
  6. ^ Media Reference Guide (citing AP, Washington Post style guides), GLAAD. Retrieved 23 Dec 2019.
  7. ^ Minton, Henry (2002). Departing from Deviance. University of Chicago Press. tr. 238. ISBN 978-0-226-53043-7. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  8. ^ Stein, Marc (14 tháng 6 năm 2012). Rethinking the Gay and Lesbian Movement (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-1-136-33157-2. 
  9. ^ “Masked Voices”. www.sunypress.edu. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2020. 
  10. ^ Ross, E. Wayne (2006). The Social Studies Curriculum: Purposes, Problems, and Possibilities. SUNY Press. ISBN 978-0-7914-6909-5. 
  11. ^ a ă Swain, Keith W. (21 tháng 6 năm 2007). “Gay Pride Needs New Direction”. Denver Post. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008. 
  12. ^ Esterberg, Kristen (1994). “From Accommodation to Liberation: A Social Movement Analysis of Lesbians in the Homophile Movement”. Gender and Society 8 (3): 424–443. doi:10.1177/089124394008003008. 
  13. ^ Faderman, Lillian (1991). Odd Girls and Twilight Lovers: A History of Lesbian Life in Twentieth Century America, Penguin Books. ISBN 0-14-017122-3, p. 210–211.
  14. ^ Faderman (1991), p. 217–218.
  15. ^ a ă Leli, Ubaldo; Drescher, Jack (2005). Transgender Subjectivities: A Clinician's Guide. Haworth Press. ISBN 978-0-7890-2576-0. 
  16. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Alexander, Jonathan; Yescavage, Karen (2004). Bisexuality and Transgenderism: InterSEXions of The Others. Haworth Press. ISBN 978-1-56023-287-2. 
  17. ^ “Out of the Closet and Into the Streets”. Center for the Study of Political Graphics. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  18. ^ Research, policy and practice: Annual meeting, American Educational Research Association Verlag AERA, 1988.
  19. ^ a ă â Shankle, Michael D. (2006). The Handbook of Lesbian, Gay, Bisexual, and Transgender Public Health: A Practitioner's Guide To Service. Haworth Press. ISBN 978-1-56023-496-8. 
  20. ^ “I Advocate...”. The Advocate (Issue #1024). Tháng 3 năm 2009. tr. 80. 
  21. ^ Ring, Trudy (26 tháng 10 năm 2016). “Expanding the Acronym: GLAAD Adds the Q to LGBT”. Advocate. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016. 
  22. ^ Nadal, Kevin (15 tháng 4 năm 2017). The SAGE Encyclopedia of Psychology and Gender. Thousand Oaks, California: SAGE Publications. tr. 1384. ISBN 978-1-4833-8427-6. OCLC 994139871. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2019. 
  23. ^ “Marcha del Orgullo LGBTIQ” (bằng tiếng Spanish). Comisión Organizadora de la Marcha (C.O.M.O). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2016. 
  24. ^ Bloodsworth-Lugo, Mary K. (2007). In-Between Bodies: Sexual Difference, Race, and Sexuality. SUNY Press. ISBN 978-0-7914-7221-7. 
  25. ^ Alder, Christine; Worrall, Anne (2004). Girls' Violence: Myths and Realities. SUNY Press. ISBN 978-0-7914-6110-5. 
  26. ^ Cherland, Meredith Rogers; Harper, Helen J. (2007). Advocacy Research in Literacy Education: Seeking Higher Ground. Routledge. ISBN 978-0-8058-5056-7. 
  27. ^ “Lesbian, gay, bisexual and transgender couples urged to research honeymoon destinations”. International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and Intersex Association. 26 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015. 
  28. ^ “The National LGB&T Partnership”. The National LGB&T Partnership. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015. 
  29. ^ “Green Party LGBT Group Website”. Lgbtiq-greens.greenparty.org.uk. 17 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011. 
  30. ^ “EQUALITY FOR ALL” (PDF). Green Party of England and Wales. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015. 
  31. ^ Duffy, Nick (1 tháng 5 năm 2015). “Green Party wants every teacher to be trained to teach LGBTIQ issues”. PinkNews. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015. 
  32. ^ a ă “LGBTQQIAAP - 'Alphabet Soup 101'. PugetSoundOff.org. Bản gốc lưu trữ tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  33. ^ DeMarco, Linda; Bruni, Sylvain (18 tháng 7 năm 2012) [1st pub. 18 May 2012]. “No More Alphabet Soup”. The Huffington Post. 1527958. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  34. ^ Brown, Catrina; Augusta-Scott, Tod (2006). Narrative Therapy: Making Meaning, Making Lives. Sage Publications Inc. ISBN 978-1-4129-0988-4. 
  35. ^ Vikhrov, Natalie (26 tháng 4 năm 2019). “Armenia's LGBT+ community still waits for change one year after revolution”. Thomson Reuters Foundation. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019. 
  36. ^ “Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, Queer, Intersex, Asexual Resource Center”. University of California, Davis. 21 tháng 9 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017. 
  37. ^ Lebaron, Sarah; Pecsenye, Jessica; Roland, Becerra; Skindzier, Jon (2005). Oberlin College: Oberlin, Ohio. College Prowler, Inc. ISBN 978-1-59658-092-3. 
  38. ^ Chen, Edith Wen-Chu; Omatsu, Glenn (2006). Teaching about Asian Pacific Americans: Effective Activities, Strategies, and Assignments for Classrooms and Communities (Critical Perspectives on Asian Pacific Americans). Rowman & Littlefield. ISBN 978-0-7425-5338-5. 
  39. ^ Babb, Florence E. (2001). After Revolution: Mapping Gender and Cultural Politics in Neoliberal Nicaragua. University of Texas Press. ISBN 978-0-292-70900-3.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  40. ^ Padilla, Yolanda C. (2003). Gay and Lesbian Rights Organizing: Community-based Strategies. Haworth Press. ISBN 978-1-56023-275-9. 
  41. ^ Swigonski, Mary E.; Mama, Robin S.; Ward, Kelly; Shepard, Matthew (2001). From Hate Crimes to Human Rights: A Tribute to Matthew Shepard. Haworth Press. ISBN 978-1-56023-257-5. 
  42. ^ Becker, Ron (2006). “Gay-Themed Television and the Slumpy Class: The Affordable, Multicultural Politics of the Gay Nineties”. Television & New Media 7 (2): 184–215. ISSN 1527-4764. doi:10.1177/1527476403255830. 
  43. ^ DeTurk, Sara (2011). “Allies in Action: The Communicative Experiences of People Who Challenge Social Injustice on Behalf of Others”. Communication Quarterly 59 (5): 569–590. ISSN 0146-3373. doi:10.1080/01463373.2011.614209.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  44. ^ O'Rourke, P. J. (2001). Peace Kills: America's Fun New Imperialism. Grove Press. ISBN 978-0-8021-4198-9. 
  45. ^ Gurjar, Kaumudi. “Maiden stage act by city's LGBT face gets censor's chop”. punemirror.in. Pune Mirror. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  46. ^ McCusker, Ros. “Gay Leeds — Your comprehensive guide to all things gay in Leeds”. gayleeds.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  47. ^ Kelly, Morgan. “Adding 'allies' to LGBT acronym sparks controversy”. iowastatedaily.com. Iowa State Daily. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2014. 
  48. ^ Richard, Katherine. “Column: “A” đại diện cho người vô tính, không phải đồng minh”. loyolamaroon.com. The Maroon. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2014. Chữ A đó không dành cho những người đồng minh[,] chữ A đó dành để chỉ những người vô tính. [...] Cũng như sự song tính, sự vô tính cũng chịu sự xóa bỏ. 
  49. ^ “Reaching into the QUILTBAG: The Evolving World of Queer Speculative Fiction”. Apex Magazine. 6 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  50. ^ University, La Trobe. “What does LGBTIQA+ mean”. www.latrobe.edu.au (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. 
  51. ^ University, Texas. “Concepts & Categories of LGBTQA+Identities” (PDF). www.utexas.edu// (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2020. 
  52. ^ “Government of Canada initiatives to support LGBTQ2 communities and promote diversity and inclusion”. JUSTIN TRUDEAU, PRIME MINISTER OF CANADA. 28 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019. 
  53. ^ “Rainbow Refugee”. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019. 
  54. ^ “LGBT2Q+”. www.vch.ca. 
  55. ^ Szklarski, Cassandra (2 tháng 7 năm 2016). “Is it time to drop LGBTQ's 'infinitely expanding alphabet' for something simpler? | CBC News”. CBC (bằng tiếng Anh) (CBC). Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019. 
  56. ^ Ryan, Hugh (10 tháng 1 năm 2014). “What Does Trans* Mean, and Where Did It Come From?'. Slate. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014. 
  57. ^ “Glossary of Transgender Terms”. Vaden Health Center Stanford University. 14 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014. 
  58. ^ Bohan, Janis S. (1996). Psychology and Sexual Orientation: Coming to Terms. Routledge. ISBN 978-0-415-91514-4. 
  59. ^ Dreger, Alice (4 tháng 5 năm 2015). “Reasons to Add and Reasons NOT to Add "I" (Intersex) to LGBT in Healthcare” (PDF). Association of American Medical Colleges. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  60. ^ Aragon, Angela Pattatuchi (2006). Challenging Lesbian Norms: Intersex, Transgender, Intersectional, and Queer Perspectives. Haworth Press. ISBN 978-1-56023-645-0. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008. 
  61. ^ Makadon, Harvey J.; Mayer, Kenneth H.; Potter, Jennifer; Goldhammer, Hilary (2008). The Fenway Guide to Lesbian, Gay, Bisexual, and Transgender Health. ACP Press. ISBN 978-1-930513-95-2. 
  62. ^ Koyama, Emi. “Adding the "I": Does Intersex Belong in the LGBT Movement?”. Intersex Initiative. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  63. ^ “Intersex for allies”. 21 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  64. ^ OII releases new resource on intersex issues Error in Webarchive template: Empty url., Intersex for allies and Making services intersex inclusive by Organisation Intersex International Australia, via Gay News Network, 2 June 2014.
  65. ^ Kaggwa, Julius (19 tháng 9 năm 2016). “I'm an intersex Ugandan – life has never felt more dangerous”. The Guardian. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2016. 
  66. ^ a ă Meyer-Bahlburg, Heino F.L. (tháng 1 năm 1990). “Phương pháp trị liệu hormone trước khi sinh liệu có chữa đồng tính?”. Tạp chí Tâm lý học trẻ em và trẻ vị thành niên 1 (4): 279–283. ISSN 1044-5463. doi:10.1089/cap.1990.1.279. các nghiên cứu trên người về tác động của sự thay đổi môi trường hóc môn thai kỳ bằng cách sử dụng các hormone ngoại sinh ủng hộ lý thuyết hormone thai kỳ rằng cả hormone androgen và estrogen đều liên quan đến sự phát triển của sự ưu tiên về giới ... có khả năng các biến thể hormone thai kỳ có thể chỉ là một trong số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của xu hướng tính dục. 
  67. ^ a ă â Chú thích trống (trợ giúp) 
  68. ^ “New publication "Intersex: Stories and Statistics from Australia". Organisation Intersex International Australia. 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016. 
  69. ^ Jones, Tiffany; Hart, Bonnie; Carpenter, Morgan; Ansara, Gavi; Leonard, William; Lucke, Jayne (2016). Intersex: Stories and Statistics from Australia (PDF). Cambridge, UK: Open Book Publishers. ISBN 978-1-78374-208-0. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016. 
  70. ^ “Free & Equal Campaign Fact Sheet: Intersex” (PDF). United Nations Office of the High Commissioner for Human Rights. 2015. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016. 
  71. ^ Children's right to physical integrity, Council of Europe Parliamentary Assembly, Report Doc. 13297, 6 September 2013.
  72. ^ “Trans? Intersex? Explained!”. Inter/Act. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  73. ^ “Basic differences between intersex and trans”. Organisation Intersex International Australia. 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  74. ^ Klesse, Christian (2007). The Spectre of Promiscuity: Gay Male and Bisexual Non-Monogamies and Polyamories. Ashgate Publishing, Ltd. ISBN 978-0-7546-4906-9. [cần giải thích][cần nguồn tốt hơn]
  75. ^ Finnegan, Dana G.; McNally, Emily B. (2002). Counseling Lesbian, Gay, Bisexual, and Transgender Substance Abusers: Dual Identities. Haworth Press. ISBN 978-1-56023-925-3.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  76. ^ Wilcox, Melissa M. (2003). Coming Out in Christianity: Religion, Identity, and Community. Indiana University Press. ISBN 978-0-253-21619-9. 
  77. ^ a ă â Mohr, Richard D. (1988). Gays/Justice: A Study of Ethics, Society, and Law. Columbia University Press. ISBN 978-0-231-06735-5. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008. 
  78. ^ a ă â b c d Atkins, Dawn (1998). Looking Queer: Body Image and Identity in Lesbian, Bisexual, Gay, and Transgender Communities. Haworth Press. ISBN 978-0-7890-0463-5. 
  79. ^ Blasius, Mark (1994). Gay and Lesbian Politics: Sexuality and the Emergence of a New Ethic. Temple University Press. ISBN 978-1-56639-173-3. 
  80. ^ Tatchell, Peter (24 tháng 6 năm 2009). “LGB - nhưng sao lại là T?”. mother-ship.com. Mothership Blog. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. Cố gắng tách bạch LGB khỏi T và khỏi phụ nữ là sự hỗn loạn chính trị. Những người queer, giống như những người chuyển giới, đều là lệch lạc mang ấn tượng tiêu cực. Chúng ta không tuân theo những giả định truyền thống của chủ nghĩa dị tính về hành vi nam và nữ, bởi vì chúng ta có các mối quan hệ tình dục và tình cảm với người cùng giới. Chúng ta nên tôn vinh sự bất hòa của mình với các chuẩn mực dị tính chính thống. Quyền được khác biệt là một quyền cơ bản của con người. Quan niệm chúng ta nên tuân theo những kỳ vọng dị tính có tính hạ thấp và xúc phạm. 
  81. ^ a ă â b c Sycamore, Matt Bernstein (2005). That's Revolting!: Queer Strategies for Resisting Assimilation. Soft Skull Press. ISBN 978-1-932360-56-1. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008. 
  82. ^ a ă â b Carlsson, Chris (2005). The Political Edge. City Lights Books. ISBN 978-1-931404-05-1. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  83. ^ Leondar-Wright, Betsy (2005). Class Matters: Cross-Class Alliance Building for Middle-Class Activists. New Society Publishers. ISBN 978-0-86571-523-3. 
  84. ^ “Anti-Gay”. Marksimpson.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2011. 
  85. ^ Julie Bindel (2 tháng 7 năm 2014). “Viewpoint: Should gay men and lesbians be bracketed together?”. BBC News Magazine. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  86. ^ Glover, Katie (10 tháng 9 năm 2015). “Why it's time to take the T out of LGBT”. The Independent. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2019. 
  87. ^ McCloy, Spencer (27 tháng 7 năm 2018). “Why the LGBT Alliance Could Be on the Brink of Schism”. The Heritage Foundation. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2019. 
  88. ^ “Why it's time to remove the T from LGBT”. Metro News. 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2019. 
  89. ^ “LGBT Groups Respond to Petition Asking to 'Drop the T'. www.advocate.com. 6 tháng 11 năm 2015. 
  90. ^ “Signatures for 'Drop The T' counter-petition surpass original - PinkNews · PinkNews”. www.pinknews.co.uk. 12 tháng 11 năm 2015. 
  91. ^ Nast, Condé. “Why More Than 1,000 People Have Signed a Petition to Drop the "T" From LGBT”. Teen Vogue. 
  92. ^ Beyer, Dana; Director, ContributorExecutive; Maryl, Gender Rights (12 tháng 11 năm 2015). “Gay Transphobia, 2015 Style”. HuffPost. 
  93. ^ a ă â Armstrong, Elizabeth A. (2002). Forging Gay Identities: Organizing Sexuality in San Francisco, 1950–1994. University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-02694-7. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008. 
  94. ^ Halpin, Mikki (2004). It's Your World—If You Don't Like It, Change It: Activism for Teenagers. Simon and Schuster. ISBN 978-0-689-87448-2. 
  95. ^ Rimmerman, Craig A.; Wald, Kenneth D.; Wilcox, Clyde (2006). The Politics of Gay Rights. University of Chicago Press. ISBN 978-1-4129-0988-4. 
  96. ^ “Welcome to the Bradford University Minority Sexual and Gender Identity Site!”. Bradford Uni MSGI Society. 2008. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2008. 
  97. ^ “GSRM - Gender, Sexual, and Romantic Minorities”. acronymfinder.com. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  98. ^ 'Diversities' May Enrich 'LGBTQIAP' Alphabet Soup”. The Huffington Post. 19 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  99. ^ “LGBT? LGBTQ? Queer? QUILTBAG? GSM? GSRM?”. queerumich.com. University of Michigan (on Tumblr). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  100. ^ “Gender and Sexual Minority Students (LGBTIQA)”. University of Derby. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  101. ^ Organisation proposes replacing the 'limiting' term LGBT with 'more inclusive' GSD, February 25, 2013
  102. ^ 'Gender And Sexual Diversities,' Or GSD, Should Replace 'LGBT,' Say London Therapists”. The Huffington Post. 25 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  103. ^ “Pride on the prowl”. Dalhousie News. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  104. ^ Alexander, Rashada; Parker, Karen; Schwetz, Tara (tháng 10 năm 2015). “Sexual and Gender Minority Health Research at the National Institutes of Health”. LGBT Health 3 (1): 7–10. ISSN 2325-8292. PMC 6913795. PMID 26789398. doi:10.1089/lgbt.2015.0107. 
  105. ^ Park, Andrew (tháng 6 năm 2016). A Development Agenda for Sexual and Gender Minorities. The Williams Institute. 
  106. ^ Young, R M & Meyer, I H (2005) The Trouble with "MSM" and "WSW": Erasure of the Sexual-Minority Person in Public Health Discourse American Journal of Public Health July 2005 Vol. 95 No. 7.
  107. ^ Glick, M Muzyka, B C Salkin, L M Lurie, D (1994) Necrotizing ulcerative periodontitis: a marker for immune deterioration and a predictor for the diagnosis of AIDS Journal of Periodontology 1994 65 p. 393–397.
  108. ^ Gay and Lesbian Alliance Against Defamation. "Groundbreaking Report Reflects Persistent Discrimination Against Transgender Community", GLAAD, USA, ngày 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập 2011-02-24.
  109. ^ Gay and Lesbian Alliance Against Defamation. "IN THE LIFE Follows LGBT Seniors as They Face Inequality in Healthcare", "GLAAD", USA, ngày 3 tháng 11 năm 2010. Truy cập 2011-02-24.
  110. ^ UN issues first report on human rights of gay and lesbian people
  111. ^ LGBT world legal wrap up survey
  112. ^ http://bama.ua.edu/~safezone/timeline.pdf LGBTQ Timeline
  113. ^ Homosexuality and Sexual Orientation Disturbance:Proposed Change in DSM-II, 6th Printing, page 44 POSITION STATEMENT (RETIRED)
  114. ^ a ă “A timeline of the homosexual "rights" juggernaut.”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  115. ^ “https://www.whitehouse.gov/blog/2015/06/26/live-updates-lovewins-supreme-court-rules-gay-and-lesbian-couples-can-marry-0/” (bằng tiếng English). 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập 28 tháng 6 năm 2015. 
  116. ^ World laws_pertaining to_homosexual relationships and expression
  117. ^ World Day against Death Penalty: 7 countries still put people to death for same-sex acts
  118. ^ a ă Unlikely Vietnam considers same-sex marriage
  119. ^ Thai marriage equality bill unable to proceed due to political crisis
  120. ^ Thái Lan thông qua luật chống kỳ thị người LGBT
  121. ^ Đài Loan xây dựng luật về hôn nhân đồng giới
  122. ^ [Japan and Sexual Minorities http://www.hurights.or.jp/archives/focus/section2/2008/06/japan-and-sexual-minorities.html]
  123. ^ Tọa đàm bảo vệ quyền người đồng tính, song tính và chuyển giới
  124. ^ “The five most improved places for gay tolerance”. The Independent (London). Ngày 17 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. Israel is the only Middle-Eastern country to support gay rights legislation, and the country attracts gay people from Palestine and Lebanon. 
  125. ^ “Three-in-Five Israelis Back Same-Sex Marriage”. Angus Reid Public Opinion. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  126. ^ “The five most improved places for gay tolerance”. The Independent. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  127. ^ “Angus Reid Global”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  128. ^ "The world's most gay-friendly places". Calgary Herald. Jun 29, 2011.
  129. ^ “Log In”. Truy cập 23 tháng 9 năm 2015. 
  130. ^ James Kirchick. "Was Arafat Gay?". Out.
  131. ^ “Tel Aviv named 'world's best gay city' for 2011”. The Jerusalem Post JPost.com. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  132. ^ “Two killed in shooting at Tel Aviv gay center”. Haaretz.com. 1 tháng 8 năm 2009. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  133. ^ “Israel’s monument to gays persecuted by Nazis planned for Tel Aviv”. Size Doesn't Matter. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  134. ^ Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới
  135. ^ http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20150811/nepal-cap-ho-chieu-cong-nhan-gioi-tinh-thu-ba/947634.html
  136. ^ Giới tính thứ ba được cấp thị thực ở Nepal
  137. ^ Nhà Trắng lần đầu tuyển dụng nhân viên chuyển giới
  138. ^ “India recognises transgender people as third gender”. The Guardian. Ngày 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2014. 
  139. ^ McCoy, Terrence (ngày 15 tháng 4 năm 2014). “India now recognizes transgender citizens as ‘third gender’”. Washington Post. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2014. 
  140. ^ “Supreme Court recognizes transgenders as 'third gender'. Times of India. Ngày 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2014. 
  141. ^ “Rare unity: Religious leaders come out in support of Section 377”. DNA India. Ngày 12 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  142. ^ “India's Supreme Court turns the clock back with gay sex ban”. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  143. ^ Vị thủ tướng đầu tiên trong khối EU tổ chức kết hôn đồng tính
  144. ^ Thế giới có nữ thủ tướng đồng tính đầu tiên
  145. ^ 6 CEO tập đoàn hàng đầu công khai đồng tính trước Tim Cook
  146. ^ CEO ngân hàng đầu tiên công khai đồng tính | Thế giới | Báo điện tử Tiền Phong
  147. ^ Những người đồng tính quyền lực nhất làng công nghệ
  148. ^ Những CEO đồng tính quyền lực của nước Mỹ
  149. ^ Các sao Hollywood công khai là người đồng tính
  150. ^ Các sao Hollywood công khai đồng tính (tiếp)
  151. ^ Khi sao công khai là người đồng tính
  152. ^ Luke Evans
  153. ^ Cựu cầu thủ Đức xác nhận mình là người đồng tính
  154. ^ 8 cầu thủ nam từng công khai đồng tính
  155. ^ Sốc: Hai tuyển thủ Thái Lan công khai quan hệ đồng tính Huyền Châu ANTĐ 18:18 05/04/2015
  156. ^ http://www.thanhnien.com.vn/the-gioi/my-bo-nhiem-ong-ted-osius-lam-dai-su-tai-viet-nam-510503.html
  157. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên http://www.apa.org
  158. ^ Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 2358, cf. Phần thứ ba, Đoạn thứ hai, Chương hai, Mục 6: Điều răn thứ sáu
  159. ^ “Nước Pháp chia rẽ vì dự luật hôn nhân đồng tính”. Báo điện tử Người đưa tin. Truy cập 23 tháng 9 năm 2015. 
  160. ^ “Thông điệp của Giáo hoàng Biển Đức XVI: Hôn nhân đồng tính là phi tự nhiên”. Báo điện tử An ninh Thế giới. 

Liên kết ngoài