Lam Sơn căn bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lam Sơn căn bản là một võ phái cổ truyền ở Thanh Hóa - Việt Nam

Nguồn gốc, lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất phát từ 5 gia phái ở các vùng như: Băng Sơn, Phú Khê, Trung Hà, Trinh Nga (Hoằng Hóa), Phú Điền (Hậu Lộc) của Thanh Hóa. Ngày 6 tháng 6 năm 1946 tại đình làng Trung Hà (huyện Hoằng Hóa), có bảy người đại diện cho các gia phái trên đã thành lập nên môn phái Lam Sơn căn bản dựa trên hệ thống kỹ thuật được tổng hợp từ những kỹ thuật riêng lẻ gia truyền lâu đời của các gia phái trong vùng. Lấy tên Lam Sơn căn bản là muốn phát huy truyền thống thượng võ từ lâu đời của quê hương. Võ sư trưởng môn đầu tiên là võ sư Phi Hùng nguyên là người Hải Hưng (người đầu tiên có ý tưởng vận động thành lập môn phái). Võ sư trưởng môn thứ hai và cũng là cuối cùng cho đến bây giờ là võ sư Hà Định (người làng Trinh Nga) võ sư kế nhiệm từ năm 1947. Nơi võ phái bố cáo thành lập trước công chúng là đình làng Trung Hà, nơi mà năm xưa tướng quân Dương Đình Nghệ đóng quân, và nổi tiếng với giai thoại múa kiếm dưới mưa ngay tại sân đình, mưa không làm ướt sân dưới chân.

Chủ trương tập luyện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rèn luyện thân thể cường tráng, tinh nhanh, dũng cảm, hào hiệp, chống lại tư tưởng hống hách, tàn bạo, uy hiếp người yếu thế.
  • Có lòng quảng đại, không kiêu ngạo, luôn luôn lấy đức độ tôn trọng việc nghĩa, khiêm tốn lễ phép với mọi người, chấp hành pháp luật.

Hệ thống cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống đai đẳng của môn phái chủ yếu dựa vào phân hạng chung của liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam, chia thành 4 màu đai với 4 bậc đai mỗi màu. Nhập môn là huyền đai (đai đen), sau đó là nhất đẳng huyền đai (đai đen 1 vạch), đai đen có nhiều nhất là 4 vạch. Bậc sau đó là nhất đẳng thanh đai (đai xanh 1 vạch), đai xanh cao nhất có 4 vạch. Trên đó chuyển sang hoàng đai (đai vàng), tiếp theo là hồng đai (đai đỏ), riêng đai đỏ cao nhất chỉ có 3 vạch thôi, sau đó chuyển sang bạch đai (là màu đai chỉ ai là võ sư mới được thắt. Cao nhất là đai trắng có viền vàng, chỉ dành cho các bậc võ sư trưởng môn.

Hệ thống kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Võ sư chưởng môn Hà Định (áo đỏ chính giữa) cùng thế hệ môn sinh cuối cùng (chụp năm 2001)

Trong chương trình tập luyện của môn phái gồm các bài quyền, vũ khí kết hợp của võ cổ truyền và vay mượn một số bài của võ Thiếu lâm.

Giai đoạn nhập môn[sửa | sửa mã nguồn]

Môn sinh làm quen với quá trình tập luyện là chủ yếu, thời gian đầu tiên chỉ là dùng xẻng xúc cát hất đổ từ đống này sang bên đống cát kia, nếu hết lại làm ngược lại, với động tác này võ sinh vừa luyện thể lực, lại tình cờ làm quen dần với bộ tấn đầu tiên là đinh tấn. Thời gian tiếp theo sẽ là dùng rìu sắt để bổ củi, võ sinh sẽ dùng 1 chân để giẫm chặt giữ đoạn gỗ củi, hai tay vung rìu sắt bổ dọc đoạn gỗ, động tác này nhằm tăng cường thể lực và cũng giúp võ sinh đứng tấn vững hơn, tay mạnh khỏe cốt gân hơn. Qua bài nhập môn này, nều võ sinh vẫn còn muốn theo học thì sẽ chính thức bắt đầu tập luyện nghiêm túc theo hệ thống kỹ thuật quyền cước của môn phái.

Giai đoạn chính thức tập luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn này hệ thống kỹ thuật mà môn sinh sẽ được học bao gồm:

Quyền pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Kiếm thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Có 5 bộ kiếm:

  1. Bộ Vô cực kiếm: Gồm có 2 bài
Kim long hoa kiếm
Hoa mai kiếm
  1. Bộ Tuyệt âm kiếm
Kim quang thần kiếm
  1. Bộ Thanh phong kiếm
Ngọc lâm chu kiếm
  1. Bộ Vân hà tỏa kiếm
  2. Bộ Thiếm diện kiếm

Có 1 bài trường kiếm (gươm dài):

Ma lai nguyệt kiếm

Kế thừa một bài kiếm cổ truyền Việt Nam ngoại phái:

Thăng long đệ nhất kiếm

Đao pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Côn pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]