Lan Trì kiến văn lục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lan Trì kiến văn lục
[[Tập tin:|250px]]
Tác giả Vũ Trinh
Quốc gia Đại Việt
Ngôn ngữ Chữ Hán
Số trang 3 quyển x 45 thiên

Lan Trì kiến văn lục (Chép những truyện thấy và nghe của Lan Trì) hay Lan Trì văn lục, là một tập truyện truyền kỳ bằng chữ Hán do Vũ Trinh (17591828), một danh sĩ thời mạt - Nguyễn sơ (Việt Nam) biên soạn.

Giới thiệu sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi vua Quang Trung đánh tan quân đội nhà Thanh vào đầu năm 1789, Vũ Trinh về ẩn cư tại Hồ Sơn (Nam Định), và làm ra tập truyện Lan Trì kiến văn lục. Tác phẩm gồm 3 quyển, tổng cộng 45 thiên (truyện), hiện còn bản chép tay tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) mang ký hiệu VHv. 1401.

Đây là một tập truyện truyền kỳ, bao gồm nhiều đề tài khác nhau: chuyện tình giữa nam và nữ, chuyện giáo dục thi cử, chuyện báo ứng luân hồi, chuyện kỳ quái,...Phần lớn chúng được sáng tác trên cơ sở những truyền thuyết lưu hành trong dân gian lúc bấy giờ.

Năm 2004, Lan Trì kiến văn lục (bản tiếng Việt do Hoàng Văn Lâu dịch) đã được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình HổNguyễn Án; Lan Trì kiến văn lục tiếp nối dòng truyện truyền kỳ, bắt đầu từ thế kỷ 16 với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ...Và có thể nói, theo PGS. TS. Nguyễn Đăng Na, thì đây là tác phẩm cuối cùng của loại hình truyền kỳ Việt Nam thời trung đại [1].

Đề cập đến nét nổi bật của tác phẩm, GS. Nguyễn Huệ Chi viết:

...Bên cạnh những con người hoang dâm, lạm dụng uy quyền (Hầu - Đười ươi), những kẻ giết con (Hiệp hổ - Hổ nghĩa hiệp), giết vợ (Tái sinh - Sống lại)...; là những con người có những phẩm chất cao quý, nhất là ở giới phụ nữ. Một ca kỹ có nhân cách với một tình yêu đầy chủ động (Nguyễn ca kỹ - Ca kỹ họ Nguyễn), một người con gái (con của phú ông) mang mối tình thủy chung nhưng oan trái đến bạc mệnh (Thanh Trì tình trái - Nợ tình ở Thanh Trì), một người đàn bà dệt vải có chồng vẫn khao khát yêu đương (Tái sinh - Sống lại), một thiếu nữ nghèo mắc bệnh nan y vẫn sống hết mình cho tình yêu (Báo Ân tháp - Tháp Báo Ân), v.v...Về những con người này, ngòi bút của tác giả luôn tỏ ra trân trọng, và yêu mến lạ thường.
Nhìn chung, tác giả khá nhạy bén với cái mới. Tình yêu trong truyện của ông thường say đắm, và đôi khi đi tới mức nhục cảm (Báo Ân tháp)...[2].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1, tr. 419). Xem giải thích thuật ngữ "văn học thời trung đại" ở đây [1].
  2. ^ Lược theo Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 2034.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Huệ Chi, mục từ “Vũ Trinh” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.