Larry Ellison

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Larry Ellison
Larry Ellison on stage.jpg
Larry Ellison tháng 10 năm 2009.
Sinh 17 tháng 8, 1944 (73 tuổi)
Lower East Side, Manhattan, New York, Hoa Kỳ
Nơi cư trú Woodside, California, Hoa Kỳ
Quốc gia Mỹ
Học vấn Đại học Illinois tại Urbana-Champaign (bỏ học)
Đại học Chicago (bỏ học)
Nghề nghiệp CEO của tập đoàn Oracle
Nổi tiếng vì Đồng sáng lập tập đoàn Oracle
Tiền lương 96,2 triệu $ (2012)[1]
Tài sản tăng 43 tỉ US$ (2012)[2]
Phối ngẫu
  • Adda Quinn (kết hôn 1967–1974) «start: (1967)–1974 (1974-end+1:)»"Hôn nhân: Adda Quinn đến Larry Ellison" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Larry_Ellison)
  • Nancy Wheeler Jenkins (kết hôn 1977–1978) «start: (1977)–1978 (1978-end+1:)»"Hôn nhân: Nancy Wheeler Jenkins đến Larry Ellison" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Larry_Ellison)
  • Barbara Boothe (kết hôn 1983–1986) «start: (1983)–1986 (1986-end+1:)»"Hôn nhân: Barbara Boothe đến Larry Ellison" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Larry_Ellison)
  • Melanie Craft (kết hôn 2003–2010) «start: (2003)–2010 (2010-end+1:)»"Hôn nhân: Melanie Craft đến Larry Ellison" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Larry_Ellison)
Con cái David Ellison
Megan Ellison
Website Larry Ellison

Lawrence Joseph "Larry" Ellison (sinh 17 tháng 8 năm 1944) là một ông trùm tư bản người Mỹ, đồng sáng lập và giám đốc điều hành của tập đoàn Oracle, chuyên về phần mềm quản trị. Năm 2012, Forbes xếp ông giàu thứ 5 trên thế giới.[3]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Larry Ellison sinh tại thành phố New York, mẹ ông là một người Do Thái chưa kết hôn[4][5][6] cha của ông là một phi công không quân Mỹ gốc Italia. Sau khi ông bị viêm phổi lúc mới chín tháng tuổi, mẹ ông đã đưa ông cho cô và chú của bà để làm con nuôi.[6] Ellison đã không gặp lại mẹ ruột của mình cho đến khi ông 48 tuổi[7]

Ellison đã tốt nghiệp trường phổ thông Eugene Field ở Chicago tháng 1 năm 1958 rồi theo học trường trung học Sullivan ít nhất cho đến hết mùa xuân năm 1959 trước khi chuyển đến South Shore. Ông sống trong một căn hộ hai phòng ngủ tại khu trung lưu của người Do Thái ở South Shore, Chicago. Ellison nhớ lại rằng mẹ nuôi của ông, Lillian Ellison, là người đằm thắm và giàu tình cảm, trái ngược với người cha nuôi Louis Ellison khắc khổ, lạnh nhạt và hay xa nhà. Louis đã chọn họ Ellison để ghi nhớ nơi ông đã nhập cảnh vào Mỹ, đảo Ellis.

Mặc dù Ellison lớn lên trong một gia đình theo đạo Do Thái cải cách, cha mẹ nuôi thường xuyên đến giáo đường Do Thái, ông vẫn là một người hoài nghi tôn giáo. Ellison đã nói rằng: "Trong khi tôi cho rằng tôi cũng là một người mộ đạo theo cách hiểu nào đó, những giáo điều đạo Do Thái lại không phải những giáo điều tôi chấp nhận. Tôi không tin rằng chúng là thật. Chúng là những câu chuyện thú vị. Chúng là những truyền thuyết thú vị và tôi chắc chắn tôn trọng những người tin đây là đúng theo nghĩa đen, nhưng tôi thì không... Tôi chẳng thấy thuyết phục gì với những thứ này". Khi 13 tuổi, Ellison đã từ chối nghi lễ "bar mitzvah" (đánh dấu tuổi 13 cho người Do Thái).[8]

Ellison là một học sinh sáng dạ nhưng thiếu tập trung. Ông đã rời đại học Illinois tại Urbana-Champaign sau năm thứ 2, không làm bài thi cuối năm vì mẹ nuôi của ông vừa qua đời. Sau mùa hè ở Bắc California, Ellison theo học đại học Chicago một học kỳ, tại đây lần đầu tiên ông tiếp cận với thiết kế máy tính. Năm 1966, 22 tuổi, Ellison chuyển đến bắc California.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Larry Ellison thuyết giảng tại Oracle OpenWorld, San Francisco 2010

Trong những năm 1970, sau một thời gian ngắn tại tập đoàn Amdahl, Ellison làm việc cho tập đoàn Ampex. Một trong các dự án của ông là xây dựng cơ sở dữ liệu cho CIA, ông đặt tên nó là "Oracle". Ellison lấy cảm hứng từ bài báo của Edgar F. Codd viết về các hệ thống cơ sở dữ liệu liên kết gọi là "A Relational Model of Data for Large Shared Data Banks"[9]. Năm 1977, ông thành lập Phòng thí nghiệm Phát triển Phần mềm (Software Development Laboratories SDL) với hai cộng sự và một khoản đầu tư 2.000 USD; riêng ông đóng góp 1.200 USD.

Năm 1979, công ty đổi tên thành Relational Software Inc., sau đó lại đổi thành Oracle theo tên sản phẩm then chốt Oracle Database. Ông đã nghe nói đến cơ sở dữ liệu IBM System R, cũng dựa trên lý thuyết của Codd và ông muốn Oracle tương thích với nó, nhưng điều này là không thể vì IBM từ chối chia sẻ mã của System R. Oracle phát hành lần đầu là Oracle 2; không có Oracle 1.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Post a Job (ngày 7 tháng 9 năm 2010). “Oracle Paid CEO Larry Ellison $70.1 Million Last Year”. Businessweek. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011. 
  2. ^ Larry Ellison Forbes.com. Truy cập April 2010.
  3. ^ Kroll, Luisa (ngày 7 tháng 3 năm 2012). “The World’s Billionaires 2012”. Finance.yahoo.com. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  4. ^ The Jerusalem Post: The World's 50 Richest Jews: Larry Ellison ngày 7 tháng 9 năm 2010
  5. ^ CNN Money: "The Next Richest Man In the World Larry Ellison is a very lucky guy: He has more money than anyone—except Bill Gates" By Andy Serwer Reporter Associates Julia Boorstin, Jessica Sung
  6. ^ a ă Matthew Symonds, Larry Ellison. Software: An Intimate Portrait of Larry Ellison and Oracle Simon and Schuster, 2004. pp332-333
  7. ^ More by Justin Rohrlich. “Rags To Riches CEOs: Larry Ellison”. Minyanville.com. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011. 
  8. ^ Matthew Symonds, Sandis Fingers Software: An Intimate Portrait of Larry Ellison and Oracle Simon and Schuster, 2004. pp. 19-20
  9. ^ Codd, E.F. (1970). “A relational model of data for large shared data banks”. Communications of the ACM 13 (6): 377–387. doi:10.1145/362384.362685.