Lee Je-hoon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Lee.
Lee Je-hoon
Lee Je-hun from acrofan.jpg
Sinh4 tháng 7, 1984 (35 tuổi)
Hàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Học vấnĐại học Nghệ thuật Quốc gia Seoul
Nghề nghiệpDiễn viên
Đại lýSaram Entertainment
Chiều cao177 cm (5 ft 10 in)
Cân nặng60 kg (132 lb)
Tên tiếng Hàn
Hangul이제훈
Romaja quốc ngữI Je-hun
McCune–ReischauerI Che-hun

Lee Je-hoon (Hangul이제훈; sinh ngày 4 tháng 7 năm 1984) là một diễn viên người Hàn Quốc. Bắt đầu sự nghiệp diễn viên của mình trong các phim độc lập, sau đó xuất hiện trong các phim điện ảnh như: The Front Line, Architecture 101, My Paparotti và các phim truyền hình: Fashion King, Secret DoorSignal.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Lee Je-hoon nhận ra mình muốn theo nghiệp diễn xuất, anh đã từ bỏ ngành Công nghệ sinh học tại Đại học Korea để học tại Đại học Nghệ thuật Quốc gia Seoul.[1] Từ năm 2006 đến năm 2010, Lee Je-hoon đóng hơn 18 vai học sinh trong các phim ngắn và phim indie, đáng chú ý là Just Friends? - một bộ phim đề tài đồng tính của đạo diễn Kim Jo Gwang-soo[2] và các vai phụ trong các phim điện ảnh như: The Servant, Finding Mr. Destiny[3]

Đến năm 2011 - là một năm đột phá của Lee Je-hoon, diễn xuất của anh được đánh giá cao trong Bleak Night với những chuyển biến tâm lý phức tạp của một nam sinh trung học[4][5][6] và đại úy Shin sống bằng morphine sau sang chấn tâm lý của chiến tranh trong The Front Line.[7][8][9]

Năm 2012, Lee Je-hoon được biết đến rộng rãi qua vai diễn sinh viên nhút nhát với tình đầu của mình trong Architecture 101 - một bộ phim điện ảnh vô cùng thành công về doanh thu.[3][10] Anh cũng rất thành công ở mảng phim truyền hình khi trong vai chaebol nỗ lực vực dậy nền công nghiệp thời trang của Hàn Quốc trong Fashion King.[11]

Năm 2013, phim điện ảnh My Paparotti ra mắt là sự hợp tác của Lee Je-hoon với diễn viên kì cựu Han Suk-kyu, anh trong vai một học sinh cấp 3 làm việc cho băng đảng xã hội đen có niềm đam mê opera với ước mơ sẽ trở thành nghệ sĩ hát opera như Luciano Pavarotti.[12]

Sau khi hoàn thành quá trình quay Ghost Sweepers và lồng tiếng cho nhân vật Jack Frost trong phiên bản Rise of the Guardians Hàn Quốc,[13][14] Lee Je-hoon thực hiện nghĩa vụ quân sự vào ngày 25/10/2012 phục vụ cho Cơ quan Cảnh sát thành phố Seoul.[15][16][17] Anh xuất ngũ vào ngày 24/7/2014.[18][19]

Lee Je-hoon bắt đầu trở lại sau 2 năm bằng phim truyền hình Secret Door - bộ phim tái diễn lịch sử chính trị gây ra nhiều tranh cãi về cái chết của Thái tử SaDo, là lần hợp tác thứ hai của anh với diễn viên Han Suk-kyu.[20]

Sau phim truyền hình Signal gây sốt tại Hàn Quốc đầu năm 2016, Lee Je-hoon cũng sẽ tái xuất màn ảnh rộng qua Phantom Dectective với vai thám tử Hong Gil-dong.[21]

Năm 2017, Lee Je-hoon đóng vai chính trong bộ phim truyền hình lãng mạn Tomorrow With You cùng với Shin Min-ah, trong vai CEO của một công ty bất động sản có khả năng du hành qua thời gian. Sau đó, anh đóng vai chính trong bộ phim điện ảnh Anarchist from Colony do Lee Joon-ik làm đạo diễn, trong vai Park Yeol - một nhà yêu nước sống dưới thời khi Hàn Quốc còn là thuộc địa của Nhật Bản. Cùng năm đó, anh đóng vai chính trong bộ phim điện ảnh I Can Speak, một công chức cũng như là một người dạy tiếng anh.

Năm 2018, Lee Je-hoon sẽ tham gia bộ phim điện ảnh Hunting Time của đạo diễn Yoon Sung-hyun

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai diễn Notes
2007 They Live by Night Private Shin Phim ngắn
Placebo Phim ngắn
Small Town Rivals Bạn của Chun-sam
2008 Ah Man Phim ngắn
Holy Vacation Kang Young-woon Phim ngắn
2009 Just Friends? Seok-i Phim ngắn
언어생활 Kyung-min Phim ngắn
When Winter Comes Phim ngắn
The Pit and the Pendulum Sang-tae trong quá khứ
2010 The Influence Sunjong
The Servant Người may Hanbok
Finding Mr. Destiny Woo-hyung
Maldives Express Eun-seok Phim ngắn
A Dog Came Into My Flash Son/Twenty-something man Phim ngắn
Miss Communication Người thiết kế sách Phim ngắn
Ghost (Be With Me) Kim Se-young segment: "Tarot 3. The Unseen"
2011 Bleak Night Ki-tae
The Front Line Đại úy Shin Il-young
2012 Architecture 101 Lee Seung-min trong quá khứ
Ghost Sweepers Suk-hyun
Rise of the Guardians Jack Frost (Lồng tiếng) animated; Tiếng Hàn Quốc dubbed[22]
2013 An Ethics Lesson Kim Jung-hoon
My Paparotti Lee Jang-ho
늦은 후...愛 short film (SMPA PSA);
credited as assistant director
2016 Detective Hong Gil-Dong Hong Gil-dong
2017 Anarchist from Colony Park Yeol
I Can Speak Park Min-jae
2018 Earth – One Amazing Day Narrator BBC Documentary
Hunting Time Joon-seok

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai diễn Kênh truyền hình
2010 Three Sisters Kim Eun-gook SBS
2012 Fashion King Jung Jae-hyuk
2014 Secret Door Yi Sun, later Crown Prince Sado
2016 Signal Park Hae-young tvN
2017 Tomorrow With You Yoo So-joon
2018 Where Stars Land Lee Soo-yeon SBS

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Ghi chú
2012 "Love Like This" Track from Fashion King OST[23]
2013 "The Person That Makes You Happy" Track from My Paparotti OST;
Duet with Han Suk-kyu

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Hạng mục Tên Kết quả
2011 20th Buil Film Awards Best Dressed Không có Đoạt giải
Best New Actor The Front Line Đoạt giải
48th Grand Bell Awards Bleak Night Đoạt giải
The Front Line Đề cử
31st Korean Association of Film Critics Awards Đoạt giải
Cine 21 Awards Bleak Night, The Front Line Đoạt giải
32nd Blue Dragon Film Awards Bleak Night Đoạt giải
19th Korean Culture and Entertainment Awards Đoạt giải
2012 3rd KOFRA Film Awards Đoạt giải
6th Asian Film Awards Best Supporting Actor The Front Line Đề cử
48th Baeksang Arts Awards Best New Actor (Film) Architecture 101 Đề cử
6th Mnet 20's Choice Awards 20's Male Movie Star Đoạt giải
16th Puchon International Fantastic Film Festival Fantasia Award[24] Đoạt giải
2014 10th Jecheon International Music & Film Festival Best Actor in a Music Film[25] My Paparotti Đoạt giải
CGV Arthouse Opening Ceremony Plaque for Rising Star in Independent Film Bleak Night Đoạt giải
SBS Drama Awards Top Excellence Award, Actor in a Serial Drama Secret Door Đoạt giải
Top 10 Stars Đoạt giải
2016 tvN10 Awards Best Actor Signal Đề cử
PD's Choice Award, Drama Đoạt giải
1st Asia Artist Awards Best Celebrity Award, Actor Đề cử
Korea Top Star Awards Popular Star Award Detective Hong Gil-Dong Đoạt giải
KAFA 10th Anniversarry Award Actor Special Merit Award Bleak Night Đoạt giải
2017 26th Buil Film Awards Best Actor Anarchist from Colony Đề cử
54th Grand Bell Awards Đề cử
5th BIFF with Marie Claire Asia Star Awards Asia Star Award Đoạt giải
17th Korea World Youth Film Festival Favorite Film Actor Đoạt giải
20th Amnesty International Awards Special prize I Can Speak Đoạt giải
2018 1st Resistance Film Festival in Korea Best Actor Anarchist from Colony, I Can Speak Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Lee Je-hoon drops out of Korea Uni and joins Korea National University of Arts”. Hancinema. Ngày 9 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ ‘친구사이?’ 김조광수 감독&서지후&이제훈, "밝은 퀴어 영화를 기대해 달라" [Kim Jo Gwang-soo’s second queer film Friends]. Movieweek (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 8 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă Lee, Claire (ngày 11 tháng 6 năm 2012). “Lee Je-hoon evolves”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ Beck, Una (ngày 3 tháng 3 năm 2011). “PREVIEW: Film Bleak Night. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ Cho, Jae-eun (ngày 25 tháng 3 năm 2011). “No easy answers in complex portrait of teen angst”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ Young, Neil (ngày 15 tháng 2 năm 2011). “Bleak Night: Film Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ Lee, Hyo-won (ngày 11 tháng 7 năm 2011). Front brings harrowing views of war”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ Elley, Derek (ngày 27 tháng 7 năm 2011). “The Front Line”. Film Business Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Kuipers, Richard (ngày 23 tháng 10 năm 2011). “The Front Line”. Variety. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  10. ^ Oh, Mi-jung (ngày 15 tháng 3 năm 2012). “Lee Je Hoon is Doing Three Things at the Same Time”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  11. ^ Kim, Ji-yeon (ngày 9 tháng 6 năm 2012). “Interview: Lee Je Hoon Looks Up to His Fellow Actors”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ Lee, Tae-ho (ngày 9 tháng 8 năm 2012). “Lee Jae-hoon, Han Suk-kyu to portray student-teacher relationship in new film”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  13. ^ Lee, Claire (ngày 24 tháng 10 năm 2012). “Four local actors voice Hollywood-animated film”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ Oh, Mi-jung (ngày 25 tháng 10 năm 2012). “Lee Je Hoon Says He'll Return as a Stronger Actor after He Serves His Duties”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  15. ^ Suk, Monica (ngày 21 tháng 6 năm 2012). “Lee Je-hoon to serve as riot police during second half of 2012”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  16. ^ Lee, Tae-ho (ngày 25 tháng 7 năm 2012). “Lee Je-hoon to portray police officer in new thriller”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ Hong, Lucia (ngày 23 tháng 8 năm 2012). Architecture 101 star Lee Jae-hoon's enlistment date set”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ Lee, Sun-min (ngày 24 tháng 7 năm 2014). “Lee Je-hoon completes military duty”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  19. ^ “Lee Je-hoon Out of the Military”. The Chosun Ilbo. Ngày 25 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  20. ^ Lee, Sun-young; Chung, Joo-won; Ahn, Sung-mi (ngày 16 tháng 9 năm 2014). “New TV dramas to look out for”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014. 
  21. ^ Kim, Erika (ngày 25 tháng 7 năm 2014). “Lee Je Hoon to Star in Movie Detective Hong Gil Dong. enewsWorld. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  22. ^ Lee, Claire (ngày 24 tháng 10 năm 2012). “Four local actors voice Hollywood-animated film”. The Korea Herald. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  23. ^ Ho, Stewart (ngày 22 tháng 5 năm 2012). Fashion King's Lee Je Hoon Sings for His Drama OST”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ Hong, Lucia (ngày 20 tháng 7 năm 2012). “Min Hyo-rin, Lee Je-hoon at 2012 PiFan opening ceremony”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  25. ^ “Lee Je Hoon and Shim Eun Kyung Win Awards at Jecheon International Music and Film Festival”. Soompi. Ngày 17 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2015. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]