Lee Min-ho (diễn viên)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Lee Min-ho
140120 Minho Lee c.jpg
Lee Min-ho vào năm 2014
Tên bản ngữ이민호
Sinh22 tháng 6, 1987 (33 tuổi)[1]
Dongjak-gu, Seoul, Hàn Quốc
Quốc tịchHàn Quốc
Học vịĐại học Konkuk
Nghề nghiệpDiễn viên, người mẫu
Đại lýMYM Entertainment
Nổi tiếng vìGoo Jun Pyo trong Vườn sao băng
Lee Yoon Sung trong Thợ săn thành phố
Kim Tan trong Những người thừa kế
Tác phẩm nổi bậtThợ săn thành phố
Chiều cao187 cm (6 ft 2 in)[2]
Cân nặng77 kg (169 lb)
Lee Min-ho's signature.png
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Lee.
Lee Min-ho
Hangul
이민호
Hanja
李敏鎬
Romaja quốc ngữI Min Ho
Hán-ViệtLý Mẫn Hạo

Lee Min-ho (Hangul이민호; Hanja李敏鎬; Hán-Việt: Lý Mẫn Hạo, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1987) là một nam diễn viên, người mẫu người Hàn Quốc được biết đến với các vai diễn Goo Jun-pyo trong phim Vườn sao băng, vai Lee Yoon Sung trong phim Thợ săn thành phố và trong phim Những người thừa kế với vai diễn Kim Tan năm 2013.

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Lee sinh ra ở Heukseok-dong, Dongjak-gu, Seoul. Khi còn nhỏ, Lee từng mơ ước trở thành một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Anh được chọn vào đội bóng đá trẻ do cựu cầu thủ Cha Bum-kun quản lý, nhưng anh gặp phải một chấn thương trong năm học lớp 5 đã kết thúc ước mơ bóng đá của anh. Năm thứ hai trung học, Lee chuyển hướng sang diễn xuất.

Anh đã hoàn thành chuyên ngành Điện ảnh & Nghệ thuật tại Đại học Konkuk.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2006-2008: Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lee bắt đầu thử vai và đóng vai phụ trong một số bộ phim truyền hình như Nonstop 5Recipe of Love. Anh cũng thử vai chính trong series phim Secret Campus (2003) nhưng không thành công. Đầu sự nghiệp, Lee lấy nghệ danh Lee Min vì công ty quản lý của anh nghĩ rằng tên khai sinh của anh quá bình thường. Tuy nhiên, vì nghệ danh của anh được phát âm và viết giống như từ imin trong tiếng Hàn, có nghĩa là "nhập cư", sau đó anh nói rằng rất khó để tìm thấy mình trong kết quả tìm kiếm trên internet. Cuối cùng anh trở lại sử dụng tên thật của mình.

Năm 2006, sự nghiệp diễn xuất của anh bị trì hoãn trong một năm sau tai nạn xe hơi nghiêm trọng, trong khi đi cùng với nam diễn viên Jung Il-woo. Lee bị thương nặng và phải nằm liệt giường vài tháng. Sau khi hồi phục, Lee nhận được vai chính đầu tiên của mình trong bộ phim Mackerel Run năm 2007, nhưng bộ phim đã bị giảm xuống chỉ còn tám tập do tỷ lệ người xem thấp. Năm 2008, anh xuất hiện trong nhiều vai diễn khác nhau trên truyền hình (phim truyền hình Get UpI Am Sam) và hai bộ phim Public Enemy ReturnsOur School's E.T.. Trong quá trình quay phim sau này, anh trở thành bạn tốt với nam diễn viên Kim Su-ro.

2009-2013: Đột phá[sửa | sửa mã nguồn]

Bước đột phá của Lee đến vào năm 2009 với vai chính Gu Jun-pyo trong Boys Over Flowers, bộ phim chuyển thể từ bộ truyện tranh nổi tiếng cùng tên. Bộ phim đã thu hút lượng người xem rất lớn và tiếng vang lớn trên khắp Hàn Quốc trong khi phát sóng. Sau bộ phim, Lee trở thành một ngôi sao Hallyu.

Năm 2010, Lee đóng vai chính trong bộ phim hài lãng mạn Personal Taste, trong đó anh vào vai một kiến ​​trúc sư trẻ cầu toàn đầy tham vọng. Khi được hỏi về lý do tại sao anh chọn vai diễn này trong một cuộc phỏng vấn, anh trả lời:

Năm 2011, anh thủ vai chính trong bộ phim hành động Thợ săn thành phố, dựa trên bộ truyện tranh nổi tiếng của Tsukasa Hojo. Bộ phim là một thành công thương mại trên khắp châu Á, và góp phần vào sự nổi tiếng ngày càng gia tăng của Lee, đáng chú ý nhất là ở Nhật Bản, Philippines, Trung Quốc và một phần châu Âu. Anh cũng tham gia một chương trình tạp kỹ nổi tiếng của Trung Quốc Happy Camp vào tháng 12 năm 2011.

Năm 2012, Lee đóng vai chính trong bộ phim lịch sử - y học Faith cùng với Kim Hee-sun. Mặc dù bộ phim đã thu hút tỷ suất người xem thấp với khoảng 10%, nhưng đây là một thành công thương mại.

2013-nay: Nổi tiếng trên phạm vi quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lee trở lại màn ảnh nhỏ với bộ phim truyền hình mới mang tên Người thừa kế, một bộ phim truyền hình tuổi teen được đạo diễn bởi Kim Eun-sook. Về lý do tại sao anh quyết định đảm nhận vai diễn của một người thừa kế chaebol ở trường trung học bốn năm sau thành công trong Boys Over Flowers, anh trả lời "Trước khi tôi qua tuổi 20, tôi muốn đóng một nhân vật lạc quan hơn, một nhân vật cho phép tôi để trở lại cảm giác ngây thơ đơn giản, không phức tạp mà tôi khi còn trẻ". Ra mắt vào ngày 9 tháng 10 năm 2013, The Heirs thành cả ở trong nước, với tỷ lệ cao nhất là 28,6% và trên toàn thế giới. Lee ngày càng trở nên nổi tiếng trên phạm vi quốc tế, đặc biệt là ở Trung Quốc.

Vào ngày 30 tháng 1 năm 2014, Lee trở thành người nổi tiếng đầu tiên của Hàn Quốc biểu diễn trong buổi đại tiệc mừng Tết Nguyên Đán của CCTV. Anh trình diễn một bài hát với Harlem Yu, chủ nhân phiên bản Đài Loan của bài hát chủ đề Vườn sao băng. Anh cũng được mời tham dự hội nghị thứ ba của Ủy ban Văn hóa của Tổng thống Hàn Quốc với tư cách là đại diện cho ngành công nghiệp giải trí, để chia sẻ và đóng góp vào cuộc thảo luận về các vấn đề liên quan đến phát triển văn hóa Hàn Quốc. Lee nhận "Giải thưởng Thủ tướng" tại Giải thưởng Văn hóa & Nghệ thuật nổi tiếng Hàn Quốc lần thứ 5 vì những đóng góp của anh đối với làn sóng Hallyu.

Sau đó, Lee thu âm và phát hành EP thứ hai Song for You vào tháng 10 năm 2014 do Universal Music Group phát hành. Giống với album trước của Lee, anh nói rằng các bài hát được thu âm để gửi đến người hâm mộ của anh và anh không có ý định theo đuổi sự nghiệp ca hát.

Sau đó, anh đảm nhận một vai chính trong bộ phim hành động của Yoo Ha Gangnam Blues (2015), lấy bối cảnh vào những năm 1970 khi sự phát triển bất động sản bùng nổ trên khắp khu vực Gangnam. Bộ phim có sự tham gia của Kim Rae-won, đánh dấu vai chính đầu tiên của Lee trong một bộ phim truyện.

Năm 2016, Lee đóng vai chính trong bộ phim hài hành động Bounty Hunters, do Shin Terra đạo diễn. Bộ phim đứng đầu các bảng xếp hạng phòng vé trong ngày phát hành và đạt doanh thu 29 triệu đô la Mỹ tại Trung Quốc. Cuối năm đó, Lee trở lại màn ảnh nhỏ trong bộ phim tình cảm giả tưởng Huyền thoại Biển xanh cùng với nữ diễn viên Jun Ji-hyun.

Năm 2020, Lee được chọn tham gia bộ phim khoa học viễn tưởng của Netflix Quân vương bất diệt.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai diễn Bạn diễn Số tập Kênh
2004 Nonstop 5 MBC
2005 Love Hymn
2006 Secret Campus - Bí mật sân trường Park Du Hyeon Seung-hyeon, Do-hyeon Lee, Chae Woon, Seong-min Seol, Jang Ki-Beom, Hyeon-ho Shin, Yu-mi Bae, Park Bo-Young, Kang Hae-In 24 EBS
2007 Mackerel Run SBS
I'm Sam Heo Mo-se KBS2
2008 Get Up MBC
2009 Vườn sao băng Goo Jun Pyo Goo Hye Sun KBS2
2010 Nàng ngốc và Quân Sư Jeon Jin Ho Son Ye‑jin, Wang Ji‑hye, Kim Ji‑seok, Ryu Seung‑ryo 16 MBC
2011 Thợ săn thành phố Lee Yoo Seong Park Min-young 20 SBS
2012 Thần y Choi Yong Kim Hee Sun
2013 Những người thừa kế Kim Tan Park Sin Hye 16
2016 Huyền thoại biển xanh Heo Joon Jae Jun Ji-hyun 16
7 Nụ Hôn Đầu Lee Min Ho TV Naver
2020 Quân vương bất diệt Lee Gon Kim Go-eun 16 SBS & Netflix

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai diễn Bạn diễn
1997 Repechage
2004 Ghost Lives
2006 Arang
2007 Humming
2008 Public Enemy Returns Jung Ha‑yeon Sol Kyung‑gu, Kim Nam‑gil, Jung Jae‑young, Yu Hae‑jin
Our School E.T Oh Sang Hoon Kim Soo Ro, Park Bo‑young, Moon Chae‑won, Baek Sung‑hyun
2015 Gangnam Blues 1970 - Bụi đời Gang Nam Kim Jong Dae Kim Rae-won, Kim Seolhyun, Lee Yeon‑doo
2016 Bounty Hunters - Thợ săn tiền thưởng Lý Sơn (Tiếng Hán) Chung Hán Lương, Đường Yên, Ngô Thiên Ngữ, Siu-Wong Fan

Giải thưởng và Đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Year Award Category Nominated work Kết quả
2009
45th Baeksang Arts Awards
Best New Actor (TV) Boys Over Flowers Đoạt giải
Most Popular Actor (TV) Đề cử
MTN Broadcast Advertisement Festival
Most Popular Advertisement Model Trugen Commercial Đoạt giải
14th Asian Television Award
Best Drama Actor Boys Over Flowers Đề cử
3rd Mnet 20's Choice Awards
Hot Male Drama Star[3] Đề cử
Hot CF Star Dunkin' Donuts Đề cử
Hot New Star Không có Đề cử
Hot Summer Heat Popularity Award Không có Đề cử
Hot Character ("Gu Jun-pyo") Boys Over Flowers Đề cử
4th Seoul International Drama Awards
People's Choice Actor Đề cử
2nd Style Icon Awards
Viewers' Best Popularity Icon Không có Đề cử
Yahoo! Asia Buzz Awards
Top Buzz Star: Male Category Không có Đề cử
ASAP Pop Viewers' Choice Awards
POP Kapamilya TV Character "(Gu Jun-pyo)" Boys Over Flowers Đoạt giải
KBS Drama Awards
Best New Actor Đoạt giải
Netizen Award, Actor Đề cử
Best Couple Award with Ku Hye-sun Đoạt giải
2010
4th Mnet 20's Choice Awards
Hot Actor Personal Taste Đoạt giải
3rd Style Icon Awards
Popularity Award Không có Đề cử
Yahoo! Asia Buzz Awards
Top Buzz Star: Male Actor Không có Đề cử
Top Buzz Star: Male Category Không có Đề cử
Korean Updates Awards
Best Actor Personal Taste Đề cử
MBC Drama Awards
Excellence Award, Actor[4] Đoạt giải
Popularity Award, Actor Đề cử
Best Couple Award with Son Ye-jin Đề cử
2011
4th Korea Drama Awards[5]
Top Excellence Award, Actor City Hunter Đoạt giải
Hallyu Star Award Đoạt giải
5th Mnet 20's Choice Awards
Hot Male Drama Star Đề cử
Hot 20's Voice Không có Đề cử
Korean Updates Awards
Actor of the Year City Hunter Đoạt giải
Best Couple Award with Park Min-young Đề cử
SBS Drama Awards[6]
Top Excellence Award, Actor in a Drama Special Đoạt giải
Popularity Award, Actor Đoạt giải
Top 10 Stars Đoạt giải
Best Couple Award with Park Min-young[7] Đề cử
2012
48th Baeksang Arts Awards
Most Popular Actor (TV) Đề cử
7th Seoul International Drama Awards
Outstanding Korean Actor Đề cử
People's Choice Actor Đề cử
5th Style Icon Awards
Top 10 Style Icons[8] Không có Đề cử
Korean Updates Awards
Best Actor Faith Đoạt giải
SBS Drama Awards
Top Excellence Award, Actor in a Miniseries[9] Đoạt giải
Popularity Award, Actor[9] Đề cử
Top 10 Stars[9] Đoạt giải
2013
12th China Fashion Awards
Most Popular Asian Actor Không có Đoạt giải
1st DramaFever Awards
Best Actor Faith Đoạt giải
Best Couple with Kim Hee-sun Đoạt giải
49th Baeksang Arts Awards
Most Popular Actor (TV) Đề cử
8th Seoul International Drama Awards
People's Choice Actor Đề cử
Sohu Media Awards
Most Popular International Actor Không có Đoạt giải
Baidu Feidian Awards[10]
Best Asian Actor The Heirs Đoạt giải
Korean Updates Awards
Best Actor Đoạt giải
Most Favourite Couple with Park Shin-hye Đoạt giải
Grand Awards / Daesang for Drama Đoạt giải
SBS Drama Awards[11]
Top Excellence Award, Actor in a Drama Special Đoạt giải
Popularity Award, Actor Đoạt giải
Top 10 Stars Đoạt giải
Best Couple Award with Park Shin-hye Đoạt giải
Best Dressed Đoạt giải
2014
2nd DramaFever Awards
Best Actor Đoạt giải
Best Bromance with Kim Woo-bin Đoạt giải
50th Baeksang Arts Awards
Most Popular Actor (TV) Đề cử
Singapore Entertainment Awards
Most Popular Korean TV Artiste Không có Đoạt giải
OMY Hot Star Không có Đề cử
9th Seoul International Drama Awards
Outstanding Korean Actor The Heirs Đề cử
People's Choice Actor Đề cử
7th Korea Drama Awards
Grand Prize (Daesang) Đề cử
7th Style Icon Awards
Top 10 Style Icons Không có Đề cử
3rd APAN Star Awards
Top Excellence Award, Actor in a Miniseries The Heirs Đề cử
5th Korean Popular Culture & Arts Award
Prime Minister Award Không có Đoạt giải
NATE Awards
People's Choice Hallyu Star Không có Chưa quyết định

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Extreme - Quảng cáo cho Cass Beer 2x
  • My Everything - "Album F4" phiên bản đặc biệt...
  • Album "Love Motion".
  • Painful Love - Nhạc phim The Heirs
  • Album "Song For You".
  • Album "Always"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Những diễn viên tuổi mèo hót nhất xứ Hàn”. Báo Zing.vn. Ngày 31 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Naver Profiles
  3. ^ Who’s hot this summer? MNet 20′s Choice Awards. allkpop. ngày 5 tháng 8 năm 2009.
  4. ^ “Winners Announced at MBC Drama Awards”. Soompi. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ “Winners of the 2011 Korea Drama Awards”. Visitkorea. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2013. 
  6. ^ “Winners from the SBS 2011 Drama Awards”. Allkpop. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2013. 
  7. ^ SBS releases list of nominations for the best couple of ’2011 SBS Drama Awards’. allkpop. ngày 21 tháng 12 năm 2011.
  8. ^ Polls Open for the 2012 Style Icon Awards. mnet. ngày 27 tháng 9 năm 2012.
  9. ^ a ă â “Winners from the ‘SBS Drama Awards’”. allkpop. 6Theory Media. Ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2013. 
  10. ^ Lee Min Ho and EXO to attend the '2013 Baidu Fei Dian Awards'
  11. ^ “SBS Drama Awards 2013 Winners”. Hancinema. Ngày 31 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]