Liên hoan phim quốc tế Tokyo
Liên hoan phim quốc tế Tokyo
| |
|---|---|
| Nội dung | |
| Địa điểm | Tokyo, Nhật Bản |
| Ngôn ngữ | Quốc tế |
| http://www.tiff-jp.net | |
Liên hoan phim Quốc tế Tokyo (tiếng Nhật: 東京国際映画祭, Tōkyō Kokusai Eigasai; viết tắt: TIFF) là một liên hoan phim được thành lập vào năm 1985. Sự kiện được tổ chức hai năm một lần trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1991 và được tổ chức thường niên sau đó. Theo Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội các Nhà sản xuất phim (FIAPF), đây là một trong những liên hoan phim cạnh tranh của châu Á, đồng thời là liên hoan phim lớn thứ hai tại châu Á sau Liên hoan phim Quốc tế Thượng Hải, và cũng là liên hoan phim duy nhất của Nhật Bản được FIAPF công nhận.[1][2]
Các giải thưởng được trao trong khuôn khổ liên hoan phim đã có sự thay đổi qua từng giai đoạn tồn tại, tuy nhiên Tokyo Grand Prix), dành cho phim xuất sắc nhất, vẫn luôn là giải thưởng cao nhất. Những giải thưởng khác được trao thường xuyên bao gồm Giải thưởng Đặc biệt của Ban giám khảo, cùng các giải cho Nam diễn viên xuất sắc nhất, Nữ diễn viên xuất sắc nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất.[3]
Trong những năm gần đây, các sự kiện chính của lễ hội đã được tổ chức trong hơn một tuần vào cuối tháng 10, tại khu phát triển Roppongi Hills. Các sự kiện bao gồm chiếu ngoài trời, chiếu lồng tiếng và sự xuất hiện của các diễn viên cũng như các cuộc hội thảo và hội nghị chuyên đề liên quan đến thị trường điện ảnh.
Danh sách các kỳ và người đoạt giải
[sửa | sửa mã nguồn]Giải thưởng khác
[sửa | sửa mã nguồn]Best Screenplay Award
[sửa | sửa mã nguồn]- 2017 - Euthanizer, Teemu Nikki
- 2018 - Amanda, Mikhael Hers and Maud Ameline
- 2019 - A Beloved Wife, Shin Adachi
Best Artistic Contribution Award
[sửa | sửa mã nguồn]- 2012 - Pankaj Kumar, Ship of Theseus[4]
- 2014 - Ispytanie, Aleksandr Kott
- 2015 - Family Film, Olmo Omerzu
- 2017 - The Looming Storm
- 2018 - The White Crow
- 2019 - Chaogtu with Sarula
- 2021 - Crane Lantern
- 2022 - Peacock Lament, Sanjeewa Pushpakumara
- 2024 - My Friend An Delie, Dong Zijian
- 2025 - Mother, Teona Strugar Mitevska
Audience Award
[sửa | sửa mã nguồn]- 2013 - Red Family, Lee Ju-hyoung[5]
- 2014 - Pale Moon, Daihachi Yoshida
- 2015 - God Willing, Edoardo Falcone
- 2016 - Die Beautiful, Jun Lana
- 2017 - Tremble All You Want, Akiko Ooku
- 2018 - Another World, Junji Sakamoto
- 2019 - Only the Animals, Dominik Moll
- 2020 - Hold Me Back, Akiko Ooku (sole award given)
- 2021 - Just Remembering, Daigo Matsui
- 2022 - By the Window, Rikiya Imaizumi
- 2024 - Big World, Yang Lina
- 2025 - Blonde, Sakashita Yuichiro
Asian Future Best Film Award
[sửa | sửa mã nguồn]- 2014 - Bedone marz بدون مرز, Amirhossein Asgari امیرحسین عسگری
- 2015 - Pimpaka Towira, The Island Funeral
- 2016 - Birdshot
- 2017 - Passage of Life
- 2018 - A First Farewell
- 2019 - Summer Knight
- 2021 - World, Northern Hemisphere
- 2022 - Butterflies Live Only One Day, Mohammadreza Vatandoust
- 2024 - Apollon by Day Athena by Night, Emine Yildirim
- 2025 - Halo, Roh Young-wan
Japanese Cinema Splash Best Picture Award
[sửa | sửa mã nguồn]
- 2014 - 100 Yen Love, Masaharu Take
- 2015 - Ken and Kazu, Hiroshi Shoji
- 2017 - Of Love & Law, Hikaru Toda
- 2016 - Poolsideman, Hirobumi Watanabe
- 2018 - Lying to Mom, Katsumi Nojiri
- 2019 - i -Documentary of the Journalist-, Tatsuya Mori
Tokyo Gemstone Award
[sửa | sửa mã nguồn]- 2017 - Mayu Matsuoka, Shizuka Ishibashi, Adeline D'Hermy, Daphne Low
- 2018 - Liên Bỉnh Phát, Karelle Tremblay, Mai Kiryu, Nijiro Murakami
- 2019 - Josefine Frida Pettersen, Sairi Ito, Riru Yoshina, Yui Sakuma
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ International Federation of Film Producers Associations Lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2017 tại Wayback Machine.
- ↑ "FIAPF Accredited Festivals Directory - 2019 edition". Fiapf | International Federation of Film Producers Associations (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Grand Prix Winners at the Tokyo International Film Festival". nippon.com (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Ship of Theseus, truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018
- ↑ Conran, Pierce (ngày 28 tháng 10 năm 2013). "RED FAMILY Triumphs in Tokyo Int. Film Fest". Korean Film Council. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2018.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Official site of the Tokyo International Film Festival
- Tokyo International Film Festival at the Internet Movie Database Lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2010 tại Wayback Machine