Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Liên minh các Lực lượng Dân tộc,
Dân chủ và Hòa bình Việt Nam
Chủ tịch Trịnh Đình Thảo
Thành lập 20 tháng 4 năm 1968
Giải tán 4 tháng 2 năm 1977
Ý thức hệ Chủ nghĩa dân tộc[cần dẫn nguồn], thiên tả
Thuộc quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
FNL Flag.svg Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
Màu sắc chính thức Đỏ, vàng, xanh dương

Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (tiếng Anh: Alliance of National Democratic and Peaceful Forces of Vietnam, ANDPFVN) là một tổ chức được thành lập sau sự kiện Tết Mậu Thân vào ngày 20 tháng 4 năm 1968.[1] Tổ chức này tập hợp "đại diện các nhân sĩ, bác sĩ, nhà giáo, nhà văn, nhà báo, người tu hành, sinh viên, tư sản dân tộc, sĩ quan và công chức trong quân đội và chính quyền miền Nam"[2]

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một chủ trương của Đảng Cộng sản tạo ra một tổ chức "đệm" giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và các thế lực khác ("lực lượng thứ ba"), nhưng không phải là "lực lượng thứ ba", nhằm tranh thủ tất cả những ai tán thành độc lập dân tộc, chủ nghĩa cộng sản, trung lập và hòa bình, nhằm "làm cho kẻ thù bị cô lập cao độ".[3]

Tôn chỉ - Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích của Liên minh là đòi độc lập cho dân tộc, đòi dân chủ và hòa bình cho Việt Nam, do Luật sư Trịnh Đình Thảo lãnh đạo, Hòa thượng Thích Đôn Hậu và Kỹ sư Lâm Văn Tết đồng Phó Chủ tịch. Tổng thư ký Tôn Thất Dương Kỵ, Phó Tổng thư ký Dương Quỳnh Hoa, Hoàng Trọng Quỳ, Lê Hiếu Đằng, ủy viên thường vụ: Nguyễn Văn Kiết, Huỳnh Văn Nghị, Trần Triệu Luật, ngoài ra ban lãnh đạo có Nguyễn Văn Kỵ, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đình Chi.

Tham gia Hội nghị ngày 20 tháng 4 năm 1972 có Trịnh Đình Thảo (Chủ tịch), Lâm Văn Tết (phó chủ tịch), Trương Như Tảng (phó chủ tịch Liên minh ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định), Dương Kỵ (TTK), Dương Quỳnh Hoa (Phó TTK), Thanh Nghị (Phó TTK), Lữ Phương (ủy viên TW), Hồ Hữu Nhựt (Tổng thư ký liên minh ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định), Lê Văn Giáp (chủ tịch liên minh ở Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định), Lucien Phạm Ngọc Hùng (ủy viên thường vụ liên minh ở SG-CL-GD), Vân Trang (phó TTK ở SG-CL-GD), Thiên Giang, Trần Kim Bảng, đại diện sinh viên Trần Thị Tú, Lê Quang Lộc,... cùng đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng Phùng Văn Cung, Thích Thiện Hảo,...

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Trung ương Đảng tháng 1 năm 1968 chỉ rõ: Để triệt để cô lập đế quốc Mỹ và bè lũ Thiệu - Kỳ, để phân hoá địch đến mức cao nhất, tập hợp thêm những lực lượng, những cá nhân có tinh thần chống Mỹ và Thiệu - Kỳ và tranh thủ các tầng lớp trung gian ở các thành thị, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi hơn nữa ở ngoài nước, trong cao trào cách mạng của quần chúng, cần thành lập một Mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng, lấy một tên thích hợp với cương lĩnh rộng rãi hơn Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mặt trận thứ hai này sẽ giữ thái độ độc lập đối với Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam, nhưng tuyên bố thực hiện liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng và tất cả những người muốn phấn đấu cho miền Nam Việt Nam có độc lập, chủ quyền, dân chủ, hoà bình và trung lập.

Bộ Chính trị trong điện mật gửi Phạm Hùng (TW Cục MN), Võ Chí Công (Khu ủy V), Trần Văn Quang (Khu ủy Trị Thiên - khi đó là Bí thư, tháng 11 Hoàng Anh thay Trần Văn Quang) ngày 21/1/1968 đã xác định tên tổ chức, đấu tranh thực hiện các khẩu hiệu: "Độc lập - chủ quyền", "Tự do-Dân chủ", "Hòa bình - trung lập", "Cơm áo - ruộng đất", "Mỹ rút quân", "Thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc", "Lập quan hệ bình thường giữa hai miền Nam Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc", độc lập và liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và những người muốn cho Miền Nam có chủ quyền, độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, đồng thời xác định cờ của tổ chức và lập chính quyền cách mạng trong tương lai, mặt trận này thành lập chủ yếu ở các thành phố.

Tổ chức này được thành lập ở cấp địa phương, Sài Gòn, Thừa Thiên - Huế, Trung Trung Bộ tháng 1 năm 1968... Sau khi thành lập Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Liên minh ở Huế mới thành lập và gia nhập vào tháng 6 năm 1968. Liên minh làm nhiệm vụ chủ yếu ở các thành thị Miền Nam. Lá cờ của Liên minh lần đầu tiên xuất hiện công khai tại Huế khi Quân giải phóng chiếm thành phố này trong tổng tiến công năm 1968 [4]

Chủ trương ban đầu của Đảng là Liên minh này sẽ liên kết với Mặt trận để tạo đa số giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử tự do dự kiến tại Nam Việt Nam. Nhưng sau đó tình hình không thuận lợi, do đó Liên minh với Mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời để tạo một địa vị pháp lý cao hơn cho đàm phán tại Paris. Ban lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam hy vọng lực lượng này có thể thu hút sự ủng hộ của những người có lập trường chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nhưng lo ngại Cộng sản ở Miền Nam chi phối Mặt trận.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 6 năm 1969 Liên minh kết hợp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Tháng 12 năm 1972 tổ chức này và Mặt trận giải phóng tổ chức hội nghị kết nối. Radio MTGP công bố 19- 12 -1972 đoàn chủ tịch TW MT (kết nối MTDT, LM và CPCMLT): Nguyễn Hữu Thọ (CT MT), Trịnh Đình Thảo (CT LM), Huỳnh Tấn Phát (CT CPCM), Võ Chí Công (phó chủ tịch MT, đại diện Đảng Nhân dân cách mạng Việt Mam), Ibil Aleo (phó CT MT, Chủ tịch Phong trào tự trị nhân dân Tây Nguyên, Phạm Xuân Thái (ủy viên đoàn chủ tịch MT, chủ tịch Liên hiệp lao động giải phóng), Nguyễn Hữu Thế (ủy viên DCT MT, chủ tịch Hội nông dân giải phóng), Nguyễn Thị Định (ủy viên DCT MT, chủ tịch Hội phụ nữ giải phóng, Phó Tư lệnh Quân giải phóng), Thích Thiện Hảo (ủy viên DCT MT, Chủ tịch Hội Lục hòa Phật tử), Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi (ủy viên DCT MT, đại diện Cao Đài), Trần Bạch Đằng (ủy viên DCT MT, Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Giải phóng), Joseph Marie Hồ Huệ Ba (ủy viên TW MT, chủ tịch Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước), Huỳnh Văn Trí (thành viên HDCV CPCMLT, đại diện Phật giáo Hòa Hảo), Ung Ngọc Kỳ (đại diện Đảng Dân chủ Nam Việt Nam), Nguyễn Ngọc Thương (đại diện Đảng Xã hội cấp tiến Nam Việt Nam).

Hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Việt Nam thống nhất, sự thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia đòi hỏi hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, Đại hội các Mặt trận tại Việt Nam họp từ 31/1/1977 đến 4/2/1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc Việt Nam (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt NamLiên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam) thành một tổ chức Mặt trận duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]