Bước tới nội dung

Liêu Cảnh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Liêu Cảnh Tông
遼景宗
Hoàng đế Trung Hoa
Hoàng đế Đại Liêu
Trị vì13 tháng 3 năm 96913 tháng 10 năm 982
(13 năm, 214 ngày)
Tiền nhiệmLiêu Mục Tông
Kế nhiệmLiêu Thánh Tông
Thông tin chung
Sinh(948-09-01)1 tháng 9, 948
Mất13 tháng 10, 982(982-10-13) (34 tuổi)
An tángCàn lăng
Thê thiếpHoàng hậu Tiêu Xước
Bột Hải phi
Mỗ thị
Hậu duệ
Tên thật
Gia Luật Hiền (耶律賢)
Niên hiệu
  • Bảo Ninh (保寧: 2/969 - 11/979) (ÂL)
  • Càn Hanh (乾亨: 11/979 - 9/982) (ÂL)
Thụy hiệu
Hiếu Thành Khang Tĩnh hoàng đế (孝成康靖皇帝)
Miếu hiệu
Cảnh Tông (景宗)
Thân phụLiêu Thế Tông
Thân mẫuHoàng hậu Tiêu Tát Cát Chích

Liêu Cảnh Tông (chữ Hán: 辽景宗; bính âm: Liao Jǐngzōng; 1 tháng 9 năm 948 - 13 tháng 10 năm 982), là vị hoàng đế thứ năm của nhà Liêu, cai trị từ năm 969 đến năm 982. Liêu Cảnh Tông tên thật là Gia Luật Hiền (耶律賢), ông là con Liêu Thế Tông lên nối ngôi sau khi hoàng đế Liêu Mục Tông bị ám sát khi đi săn và ông nhận được sự ủng hộ của cả quan chức Hán tộc và tộc Khiết Đan.

Ông là vị hoàng đế có nhiều đóng góp cho triều đại nhà Liêu. Trong triều đại của ông, quan chức người Hán mới bắt đầu được sử dụng ở triều đình. Điều này đã khiến cho triều đình nhà Liêu trở nên hưng thịnh hơn và biến nhanh hơn thành một xã hội phong kiến. Sử gia sau này gọi tới thời kỳ trị vì của ông là Cảnh Tông trung hưng(景宗中兴).

Liêu Cảnh Tông kế vị Liêu Mục Tông vào ngày 13 tháng 3 năm 969 sau khi Mục Tông bị người hầu của mình sát hại trong một chuyến đi săn vào 01 ngày trước đó. Ông nhận được sự ủng hộ của cả giới tinh hoa cầm quyền Khiết Đan và Hán. Sau khi Cảnh Tông kế vị, do Tiêu Tư Ôn có công giúp đỡ, Tiêu Xước (con gái út của Tiêu Tư Ôn) được tuyển làm quý phi và sau đó trở thành hoàng hậu.

Trưởng tỉ của Tiêu Xước là Tiêu Hòa Hãn đã kết hôn với Gia Luật Yểm Triệt Cát. Cảnh Tông vừa lên ngôi thì phong cho Gia Luật Yểm Triệt Cát làm Tề vương và Tiêu Hòa Hãn làm Tề vương phi. Nhị tỉ Y Lặc Lan của Tiêu Xước[1] có chồng là Gia Luật Hi Ẩn đang bị giam cầm 9 năm qua vì tội mưu phản.[2] Khi em rể của Y Lặc Lan là Cảnh Tông lên ngôi, Gia Luật Hi Ẩn lập tức được thả ra.

Cảnh Tông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho triều đại Liêu. Ông sử dụng các quan chức người Hán trong chính phủ của mình, bổ nhiệm một người làm Bộ trưởng Bộ Nam và Công tước của Tần. Điều này đã khiến cho triều đình nhà Liêu trở nên hưng thịnh hơn và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xã hội Khiết Đan thành xã hội phong kiến. Ông thẳng tay trấn áp nạn tham nhũng trong chính phủ, sa thải những người tham ô hoặc không đủ năng lực. Cảnh Tông cũng sẵn sàng chấp nhận những lời chỉ trích. Ông ngừng săn bắn thường xuyên sau khi một quan chức liên quan đến việc săn bắn và cái chết của Mục Tông, và ông bắt đầu chuẩn bị chiến tranh chống lại các nước láng giềng phía nam của mình.

Năm 970 Tiêu Xước hoàng hậu sinh hạ trưởng nữ cho Cảnh Tông, đặt tên là Quan Âm Nữ. Năm Bảo Ninh thứ 4 (972), Tiêu Xước hoàng hậu sinh hạ trưởng tử cho Cảnh Tông, đặt tên là Gia Luật Long Tự. Cùng năm 972, Tề vương Gia Luật Yểm Triệt Cát qua đời và Tề vương phi Tiêu Hòa Hãn (trưởng tỉ của Tiêu Xước) trở thành Tề vương thái phi. Sau khi chồng qua đời, Tiêu Hòa Hãn đã đảm nhận vị trí người đứng đầu quân đội của Gia Luật Yểm Triệt Cát.

Tiêu Xước hoàng hậu còn sinh hạ được hai hoàng tử: Gia Luật Long Khánh và Gia Luật Long Hựu cùng hai công chúa: Trường Thọ Nữ và Diên Thọ Nữ. Theo "Tục tư trị thông giám trường biên" (續資治通鑑長編), hoàng tử chết yểu là Gia Luật Trịnh Ca có khả năng là hoàng tử thứ 4 mà Tiêu Xước hoàng hậu hạ sinh.[3][4] Ngoài ra, Cảnh Tông còn nạp một cô gái thuộc vương tộc Bột Hải làm phi (gọi là Bột Hải phi) và một cô gái họ Mỗ (gọi là Mỗ thị) làm phi.

Gia Luật Hi Ẩn sau khi được Cảnh Tông thả ra khỏi ngục được vài năm thì lại lên kế hoạch cho một cuộc nổi dậy khác chống lại Cảnh Tông. Gia Luật Hi Ẩn lại bị bắt, con trai ông ta và Tiêu phu nhân Y Lặc Lan (Nhị tỉ của Tiêu Xước) bị quân Liêu sát hại.

Do Cảnh Tông thân thể yếu đuối, nhiều bệnh, có khi không thể thượng triều, đại sự quốc gia phần lớn do Hoàng hậu Tiêu Xước hiệp trợ xử lý, thực tế là Tiêu Xước thay mặt ông giải quyết.

Năm Bảo Ninh thứ 8 (975), Cảnh Tông nói với sử quán học sĩ: "Trong thư tịch hãy ghi hoàng hậu xưng "trẫm" hoặc "dư"". Rất nhiều chính tích của Cảnh Tông đều có công lao của Tiêu Xước hoàng hậu.

Trong năm 975 Cảnh Tông phát động một cuộc xâm lược lớn vào hậu duệ của vương quốc Bột HảiĐịnh An Quốc (đời vua Liệt Vạn Hoa). Tuy nhiên quân Khiết Đan của Cảnh Tông đã bị quân Định An Quốc của Liệt Vạn Hoa đánh bại.[5] Quân Khiết Đan của Cảnh Tông phải lui quân.[6]

Sau cuộc chiến này, một số tướng lĩnh người Bột Hải của nhà Liêu đã nổi dậy đánh chiếm thành Phù Châu (nay là Khai Nguyên, Liêu Ninh, Trung Quốc) của nhà Liêu, lập ra vương quốc Yên Pha (頗頗 Yeonpa), tuyên bố chống lại nhà Liêu của Cảnh Tông. Kinh đô của vương quốc Yên Pha đặt tại Phù Châu.

Gia tộc họ Liệt cai trị Định An Quốc bị thay thế bởi gia tộc họ Ô vào năm 976 sau một cuộc binh biến lớn trên khắp vương quốc. Vua Liệt Vạn Hoa bị giết chết. Nhiều vương tộc họ Liệt cũng bị giết. Vương quốc Định An nằm dưới quyền của Ô Huyền Minh (오현명, 烏玄明, Oh Hyeon-myeong) - hậu duệ của Ô Tế Hiển (người từng giúp Liệt Vạn Hoa thành lập Định An Quốc vào năm 935). Các nhà sử học Triều Tiên và Hàn Quốc đưa ra giả thuyết rằng việc gia tộc họ Ô thay thế Gia tộc họ Liệt bằng hành vi bạo lực có thể đã đóng một vai trò nào đó trong việc hủy diệt Định An Quốc. Ô Huyền Minh tự lập làm vua của Định An Quốc và bổ nhiệm dòng tộc họ Ô của mình vào các chức vụ quan trọng của Định An Quốc. Thành Tự Khánh (nay là Diên Biên, Cát Lâm, Trung Quốc) tiếp tục được vua Ô Huyền Minh chọn làm kinh đô của vương quốc.

Hàn Đức Nhượng hầu hạ Cảnh Tông, nhờ cẩn thận mà nổi tiếng, được Cảnh Tông phong làm Đông đầu thừa phụng quan, bổ chức Khu mật viện thông sự. Rồi sau đó Hàn Đức Nhượng được chuyển sang làm Thượng kinh hoàng thành sứ, diêu thụ[7] Chương Đức quân tiết độ sứ, nhận chức cũ của cha là Thượng kinh lưu thủ, quyền Tri kinh sự. Uy tín của Hàn Đức Nhượng rất được khen ngợi.

Cuộc xung đột đầu tiên của Cảnh Tông với triều đại Bắc Tống là cuộc xâm lược của nhà Tống với triều đại Bắc Hán. Đầu năm 979, vua Tống Thái Tông quyết định xuất quân, lệnh Phan Mĩ làm thống soái, cùng Thôi Tiến, Lý Hán Quỳnh, Tào Hàn, Mễ Tín, Lưu Ngộ, Điền Trọng Tiến... đánh Thái Nguyên; Quách Tiến đóng quân ở Thạch Lĩnh ngăn chặn viện binh nhà Liêu. Cảnh Tông sai sứ đến Tống, ngăn cản việc bắc phạt, Tống Thái Tông không theo. Biết thế nào người Liêu cũng sẽ ra quân, Tống Thái Tông quyết định thân chinh ra Hà Bắc, để Thẩm Luân, Vương Nhâm Thiện ở lại trấn thủ Biện Kinh.

Quân Tống tiến đến Thái Nguyên. Cảnh Tông được tin, cử Gia Luật SaGia Luật Địch Lý đến cứu viện Bắc Hán. Hai quân giao chiến một trận lớn ở Bạch Ma Lĩnh,[8] quân Liêu thảm bại trước Quách Tiến, Gia Luật Địch Lý tử trận, Gia Luật Sa phải tháo chạy. Lúc này Tống Thái Tông đang ở Trấn châu,[9] được tin thắng trận, mệnh Phan Mĩ đưa đại quân tới công thành Thái Nguyên. Tiết độ sứ Kiến Hùng của Bắc Hán là Lưu Kế Nghiệp quyết tâm tử thủ. Bấy giờ có Quách Siêu ra hàng, nhưng quân Tống cho là gian trá, liền giết Phạm Siêu. Về sau Tống Thái Tông mới hối hận, cho hậu táng chu đáo. Các tướng trong thành biết tin đưa nhau ra hàng, thành Thái Nguyên thế cùng lực kiệt, không còn giữ được bao lâu. Vua Bắc Hán Lưu Kế Nguyên trước tình thế đó, đành phải ra đầu hàng,[10] được phong tước quận công. Từ thời điểm đó, Trung Quốc được thống nhất làm một dưới triều Bắc Tống.[11]

Khi đó Hàn Đức Nhượng phục vụ nhà Liêu như một tướng lĩnh quân đội cùng năm 979. Ông ta dần dần được thăng chức. Hàn Đức Nhượng ở lại Nam Kinh và trở thành Thượng thư có ảnh hưởng và quyền lực nhất không lâu sau khi được thăng chức.

Mùa hạ năm 979, sau khi diệt Bắc Hán, vua Tống Thái Tông muốn thừa cơ đánh Liêu, khôi phục 16 châu Yên Vân nên đã xuất quân từ Thái Nguyên, tiến vào Yến, Vân; nhanh chóng lấy được hai châu Trác, Dịch. Quân Tống thừa thắng đánh sang U châu.[12] Tướng Liêu Gia Luật Hi ĐạtTiêu Thảo Cố dẫn quân ra chống, song không thành công, thua trận bỏ chạy. Thành Nam Kinh bị quân Tống bao vây, người Tống vừa đánh vừa gọi hàng, tình thế khẩn trương, lòng người hoang mang, tướng Liêu là Hàn Đức Nhượng lên thành đốc thúc quân sĩ chống đỡ, đêm ngày phòng bị khiến quân Tống không phá nổi thành. Tống Thái Tông mệnh bọn Tống Ốc đánh mạnh vào thành Yến Kinh; lại chia quân đánh các châu Kế, Thuận. Tướng Liêu là Gia Luật Học Cổ Đa Phương ra sức giữ thành, quân Tống công phá đã lâu vẫn không chiếm được. Gia Luật Sa đem quân tới cứu U châu. Tháng 8, hai bên giao chiến tại Cao Lương hà. Ban đầu quân Tống chiếm ưu thế, liền thừa cơ truy đuổi; bỗng rơi vào ổ mai phục của quân Liêu, do hai tướng Gia Luật Hưu Ca, Gia Luật Tà Chẩn chỉ huy.[11][13] Quân Tống đại bại, quân Liêu thừa thắng kéo vào giải vây U châu. Tống Thái Tông kinh hoàng thất sắc; may nhờ có Hô Duyên Tán, Phụ Siêu đưa quân đến cứu mới có thể an toàn mà rút về Trác châu.

Hàn Đức Nhượng cũng dẫn quân Liêu xông ra khỏi Nam Kinh đón đán quân Tống và đại phá quân Tống. Nhờ công lao đó, Hàn Đức Nhượng được bái làm Liêu Hưng quân tiết độ sứ, gọi về làm Nam Viện xu mật sứ.[14]

Gia Luật Hưu Ca cho quân đuổi tới, quân Tống bị đánh tan tác, bỏ chạy về hướng nam. Giữa đường, ngựa của Tống Thái Tông rơi vào vũng lầy không kéo lên được, tình thế vô cùng nguy cấp, nhưng lúc đó có Dương Nghiệp (tức Lưu Kế Nghiệp, đã hàng Tống) đến cứu giá kịp lúc. Dương Nghiệp tình nguyện ở lại chặn đường quân Liêu, thắng được một trận, đẩy lui truy binh Liêu. Tống Thái Tông về Định châu, lệnh Mạnh Huyền Triết giữ nơi này, Thôi Ngạn Triết giữ Quan Nam, Lưu Đình HànLý Hán Quỳnh giữ Chân Định rồi xa giá về Biện Kinh.[11]

Cuối tháng 9 năm 979, Cảnh Tông nhân vừa mới thắng trận thì lệnh Hàn Khuông Tự (cha của Hàn Đức Nhượng) làm Đô thống, Gia Luật Sa, Gia Luật Hưu Ca dẫn 50.000 quân tiến đánh Trấn châu của nhà Tống. Lưu Đình Hàn, Thôi Ngạn Tiến bàn nhau dùng kế trá hàng, dụ quân Liêu vào rồi đặt mai phục. Gia Luật Hưu Ca có đề phòng từ trước, nhưng quân Liêu vẫn thiệt hại hơn 10.000 người.

Đầu năm 980, Cảnh Tông lại cử Gia Luật Sa, Gia Luật Tà Chẩn dẫn 100.000 quân tiến thẳng tới Nhạn Môn quan của nhà Tống, uy hiếp Đại châu. Vua Tống Thái Tông cử Dương Nghiệp làm tướng giữ Đại châu. Quân Tống ra giao chiến, giết được phò mã nước Liêu là Tiêu Đốt Lý, quân Liêu phải tháo chạy. Dương Nghiệp cho quân chiếm lại Nhạn Môn quan, từ đó người Liêu đều sợ danh tiếng của ông ta.

Cảnh Tông được tin liên tiếp thua trận, tức giận vô cùng. Ngày 30 tháng 11 năm 980 (2 tháng 10 ÂL), Cảnh Tông đích thân dẫn đại quân tiến xuống phía nam, trước hết là đánh Ngõa Kiều quan.[15] Quân Tống chủ quan, khinh địch, nên bị quân Liêu của Gia Luật Hưu Ca đánh bại, phải lui về Mạc châu. Gia Luật Hưu Ca cho quân đuổi tới Mạc châu, bắt và giết nhiều quân, tướng Tống. Tin bại trận bay về Biện Kinh. Vua Tống Thái Tông hạ lệnh thân chinh, đưa quân đến phủ Đại Danh, Cảnh Tông nghe tin thì cho lui quân, đó là vào ngày 20 tháng 12 (11 tháng 11 ÂL).[11]

Năm 981, vua Ô Huyền Minh phái quân Định An Quốc tấn công vương quốc Yên Pha. Quân Yên Pha liên tục bại trận. Quân Định An Quốc bao vây kinh thành Phù Châu (nay là Khai Nguyên, Liêu Ninh, Trung Quốc) của vương quốc Yên Pha. Vua của vương quốc Yên Pha tuyên bố đầu hàng quân Định An Quốc. Vua Ô Huyền Minh sáp nhập lãnh thổ của vương quốc Yên Pha vào lãnh thổ Định An Quốc của mình. Việc này đe dọa đến nhà Liêu của Cảnh Tông. Một số quý tộc và dân chúng Bột Hải của vương quốc Yên Pha đã di tản sang vương quốc Hậu Bột Hải ở kinh thành Hốt Hãn (nay là Ninh An, Hắc Long Giang, Trung Quốc).

Cùng năm 981, vua Ô Huyền Minh của Định An Quốc đã cử một sứ giả đến nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông) và đưa ra chiến dịch gọng kìm chống lại nhà Liêu (đời vua Liêu Cảnh Tông). Vua Ô Huyền Minh tuyên bố rằng người dân của ông ta là tàn dư của vương quốc Bột Hải sống trên vùng đất cũ của Cao Câu Ly, không phải là liên minh Mã Hàn. Mục đích của sứ mệnh triều cống nhà Tống của Định An Quốc lần này là đề nghị nhà Tống cùng Định An Quốc lập liên minh và bắt đầu một cuộc tấn công chung chống lại nhà Liêu, nhưng nhà Tống của Thái Tông đã từ chối đề nghị này do e ngại sức mạnh quân sự của nhà Liêu.[16][17][18]

Qua đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 13 tháng 10 năm 982, Cảnh Tông qua đời trên đường trở về sau một chuyến đi săn vá được an táng ở Càn lăng.[19] Thụy hiệu của ông là Hiếu Thành Khang Tịnh Hoàng Đế (孝成康靖皇帝). Khi mất ông mới 34 tuổi. Vợ ông là hoàng hậu Tiêu Xước lập con ông là Gia Luật Long Tự (khi đó mới 12 tuổi) lên ngôi vua, tức là vua Liêu Thánh Tông. Tiêu Xước trở thành thái hậu.

Gia quyến

[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ mẫu

[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Hoàng hậu Tiêu Xước, tên khác là Tiêu Yến Yến (萧燕燕), con gái Bắc phủ Tể tướng Tiêu Tư Ôn (蕭思溫) và Yên quốc Đại trưởng công chúa Gia Luật Lã Bất Cổ - con gái Liêu Thái Tông. Nhan sắc mỹ miều thông tuệ, năm Bảo Ninh nguyên niên (969) nhập cung, sơ phong Quý phi (贵妃), cùng năm sách lập Hoàng hậu, sinh bốn con trai và ba con gái. Liêu Thánh Tông đăng cơ, tôn vị Hoàng thái hậu, nhiếp chính nhà Liêu trong 27 năm, không lâu sau thì qua đời, tặng Duệ Đức Thần Lược Ứng Vận Khải Hóa Pháp Đạo Hồng Nhân Thánh Vũ Khai Thống Thừa Thiên Hoàng thái hậu (睿德神略應運啟化法道洪仁聖武開統承天皇太后).
  • Chẩm thị (枕氏), xuất thân quý tộc Bột Hải, sau khi nhập cung thì phong Phi (妃), sinh một con gái.
  • Tiêu thị (萧氏), cháu gái Bắc phủ Tể tướng Tiêu Á Cổ Chỉ (蕭阿古只), sau khi nhập cung thì phong Phi (妃), sinh một con gái.
  • Thứ phi Hồ thị (胡氏), người Hán, xuất thân cung nữ.
  • Thứ phi Thẩm thị (沈氏), người Hán, xuất thân cung nữ.
  • Thứ phi Tiêu thị (萧氏), người Hề, nhập cung mà không có phong hiệu.

Bốn người con trai đầu do Tiêu Xước sinh ra, người còn lại không rõ sinh mẫu.

  • Trưởng tử, Liêu Thánh Tông Gia Luật Long Tự.
  • Nhị tử, Lương vương Gia Luật Long Khánh (耶律隆庆, 973 - 1016), tên thuở nhỏ là Phổ Hiền Nô (普賢奴), từng nhậm Thị trung, Nam Kinh lưu thủ, sau thăng đến Thái sư rồi Đại nguyên soái, cải thành Tấn vương (晉王). Khi mất, tặng Hiếu Trinh Hoàng thái thúc (孝贞皇太叔), an táng tại Hiển Châu. Chính thê Tiêu thị (蕭氏), phong Tần Quốc phi (秦國妃), con gái Tề Quốc công chúa Gia Luật Quan Âm Nữ (耶律觀音女); kế thê Tiêu thị (蕭氏, 1001 - 1069), phong Tần, Tấn Quốc Vương phi (秦晉國王妃), con gái Vệ Quốc công chúa Gia Luật Trường Thọ Nữ (耶律長壽女), sau tái giá với Lưu Nhị Huyền (劉二玄); trắc thất Tiêu thị (蕭氏), phong Tề Quốc phi (齊國妃), con gái Bân Quốc phu nhân.
    • Trung Sơn Quận vương Gia Luật Tra Cát (耶律查葛), mẹ là Tề Quốc phi Tiêu thị.
    • Lạc An Quận vương Gia Luật Toại Ca (耶律遂哥).
    • Trường Sa Quận vương Gia Luật Tạ Gia Nô (耶律謝家奴), mẹ là Tề Quốc phi Tiêu thị.
    • Gia Luật Hy Cổ (耶律希古), Gia Luật Tô Tát (耶律蘇撒).
    • Trưởng nữ, mẹ là Tần Quốc phi Tiêu thị, phong Hàn Quốc Trưởng công chúa (韓國長公主), lấy Tiêu Thất Địch (蕭匹敵).
    • Nhị nữ, phong Ngô Quốc công chúa (吳國公主).
    • Tam nữ (1000 - 1018), mẹ là Tần Quốc phi Tiêu thị, phong Trần Quốc công chúa (陳國公主), lấy Tiêu Thiệu Củ (蕭紹矩).
  • Tam tử, Sở vương Gia Luật Long Thành (耶律隆佑, 979 - 1012), tên thuở nhỏ là Hồ Đô Cẩn (胡都堇), sau thăng Trịnh vương (鄭王), Ngô Quốc vương (吳國王) rồi Sở Quốc vương (楚國王), nhậm Tây Nam diện Chiêu thảo sứ, Bắc Viện khu mật sứ, lại cải Tề Quốc vương (齊國王), qua đời tặng Thủ Thái sư (守太師), thụy Nhân Hiếu (仁孝), sau cải thành Hiếu Tĩnh (孝靖). Vợ là Tiêu thị (蕭氏), phong Tề Quốc phi (齊國妃), con gái thứ hai của Tề Quốc công chúa Gia Luật Quan Âm Nữ (耶律觀音女).
    • Gia Luật Hô Đô Cổ (耶律胡都古), Gia Luật Hợp Lộc (耶律合祿), được Liêu Thánh Tông ban làm dưỡng tử của Hàn Đức Nhượng.
  • Tứ tử Gia Luật Trịnh Ca (耶律郑哥), chết yểu khi mới 8 tháng tuổi.
  • Ngũ tử Gia Luật Dược Sư Nô (耶律藥師奴, ? - 981), chết yểu, có thuyết cho rằng với Gia Luật Trịnh Ca là một.
  • Trưởng nữ Gia Luật Thục Ca (耶律淑哥), mẹ là Phi Chẩm thị, do địa vị sinh mẫu nên thường bị xếp thành con gái thứ tư. Phong Công chúa, lấy quý tộc Bắc Hán quy thuận là Lư Tuần (盧俊), về sau do không hòa hợp nên ly hôn, năm 983 tái giá với Tiêu Thần Nô (蕭神奴)
  • Nhị nữ Gia Luật Quan Âm Nữ (耶律觀音女, 969 - 1045), tên khác là Yến Ca (燕哥), mẹ là Tiêu Xước. Sơ phong Tề Quốc công chúa (齊國公主), sau thăng Sở Quốc Trưởng công chúa (楚國長公主), Tấn Quốc Trưởng công chúa (晉國長公主), Ngô Việt Quốc Trưởng công chúa (吳越國長公主), Triệu Ngụy Quốc Trưởng công chúa (趙魏國長公主), Yến Quốc Đại Trưởng công chúa (燕國大長公主), sau lại gia phong Cung Thọ Nhân Ý (恭壽仁懿) rồi thêm hai chữ Ung Túc (雍肅), gả cho em họ của mẹ là Tiêu Kế Tiên (蕭繼先) vào những năm Càn Hanh, có con trai là Tiêu Thiệu Tông (蕭紹宗), hai con gái được gả làm chính phi của hai em trai.
  • Tam nữ Gia Luật Trường Thọ Nữ (耶律長壽女, 975 - 1017), mẹ là Tiêu Xước. Sơ phong Ngô Quốc công chúa (吳國公主), sau thăng Vệ Quốc công chúa (衛國公主), Ngụy Quốc Trưởng công chúa (魏國長公主), ban đầu lấy Tiêu Ngô Lưu (蕭吳留) năm 983, sau lấy Tể tướng Tiêu Bài Áp (蕭排押) năm 989, có ít nhất một con gái được gả làm kế phi của em trai.
  • Tứ nữ Gia Luật Diên Thọ Nữ (耶律延壽女, 976 - 996), mẹ là Tiêu Xước. Sơ phong Việt Quốc công chúa (越國公主), sau cải thành Triệu Quốc công chúa (趙國公主), lấy Tiêu Hằng Đức (蕭恆德). Công chúa là người được Tiêu Xước sủng ái nhất, tính cách điềm đạm, kính trọng phu quân. Năm 996, công chúa lâm bệnh, Tiêu Xước cử cung nhân Hiển Thích (賢釋) đến hầu hạ công chúa. Tiêu Hằng Đức tư thông với Hiển Thích, công chúa uất hận mà qua đời, Thái hậu đại nộ mà giết chết hai người.

Niên hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đời ông có hai niên hiệu là:

  • Bảo Ninh (保寧 Bǎoníng): 969 - 979
  • Càn Hanh (乾亨 Qiánhēng): 979 - 982

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Twitchett, Denis C.; Tietze, Klaus-Peter (1994). "The Liao". In Twitchett, Dennis; Franke, Herbert (eds.). The Cambridge History of China, Volume 6: Alien Regimes and Border States, 907–1368. Cambridge: Cambridge University Press. pp. 43–153. ISBN 978-0-521-24331-5.
  1. 齐伟. 《路振〈乘轺录〉中“韩统军”与“齐妃”考》. 中国边疆史地研究 (上海市: 中国社会科学院中国边疆研究所). 2010, (2010年第3期
  2. Tục Tư trị thông giám, quyển 1.
  3. 《续资治通鉴长编 卷五十五》(咸平六年秋七月)己酉,契丹供奉官李信來歸。信言其國中事云:「戎主之父明記,號景宗,后蕭氏,挾力宰相之女,凡四子:長名隆緒,即戎主;次名贊,偽封梁王,今年三十一;次名高七,偽封□王,年二十五;次名鄭哥,八月而夭。女三人:長曰燕哥,年三十四,適蕭氏弟北宰相留住哥,偽署駙馬都尉;次曰長壽奴,年二十九,適蕭氏姪東京留守悖野;次曰延壽奴,年二十七,適悖野母弟肯頭。延壽奴出獵,為鹿所觸死,蕭氏即縊殺肯頭以殉葬。
  4. 《续资治通鉴长编 卷五十五》行文未提及渤海妃所生第四女耶律淑哥。
  5. Twitchett, Dennis (1994). "The Liao", The Cambridge History of China, Alien Regime and Border States, 907–1368. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 102.
  6. Twitchett and Tietze (1994), 102.
  7. Diêu thụ nghĩa là nhận quan hàm mà không nhận quan chức
  8. Huyện Vu, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  9. Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  10. Tân Ngũ Đại sử,
  11. 1 2 3 4 Tục tư trị thông giám, quyển 10
  12. Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc hiện nay
  13. Liêu sử, quyển 84
  14. Louise Standen, Naomi (1994). Frontier Crossings from North China to Liao, C. 900-1005 (bằng tiếng Anh). University of Michigan: University of Durham. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
  15. Huyện Hùng, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  16. The Cambridge History of China. The Liao (Chapter 1). Cambridge University Press. tháng 3 năm 2008. tr. 43–88.
  17. "정안국" [Jeongan Kingdom]. terms.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  18. Tống sử, Quyển 491, Định An Quốc: "Gia tộc Mã Hàn ban đầu của vương quốc Định An đã bị người Khiết Đan chinh phục, các thủ lĩnh của họ đã tập hợp những người còn lại và bảo vệ họ ở Tây Bỉ, họ thành lập đất nước và thay đổi nhà Nguyên, tự gọi mình là Vương quốc Định An. ... Tôi dựa trên mảnh đất cũ của Cao Ly và phần còn lại của biển Bột Hải. Tôi đã đảm bảo vị trí của mình trong góc. Tôi đã du hành qua các vì sao và niên đại. Tôi đã nhìn lên để tiết lộ những đức tính của Hồng quân. Tôi đã đắm mình trong vẻ đẹp của thế giới bên ngoài, mỗi người đều tìm thấy vị trí của riêng mình và thể hiện đúng bản chất thật của mình."
  19. Liêu sử, quyển 9