Linh Quang Viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LINH QUANG VIÊN
Tiểu sử
Sinh 11 tháng 11 năm 1918
Cao Bằng, Việt Nam
Mất 17 tháng 1, 2013 (95 tuổi)
Virginia, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1939-1973
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị QD II VNCH.jpg Đệ Tứ Quân khu
ARVN 22nd Division Insignia.svg Sư đoàn 22 Bộ binh
ARVN Political Warfare Corps (General) Insignia.svg Nha An ninh Quân đội
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[1]
Flag of Dong De Military School.svg Trường Hạ sĩ quan
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Thuộc địa Pháp
Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ II[2]
Công việc khác Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg TMT Quốc phòng[3]
Flag of the Central African Republic.svg Đại sứ tại T.Phi[4]
Flag of Chad.svg Đại sứ tại Tchad[5]
[[ ]] Tổng trưởng[6]
[[ ]] Tiểu khu trưởng[7]

Linh Quang Viên (1918-2013) nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở Bắc Việt nhằm đào tạo sĩ quan cho các thí sinh trên toàn Đông Dương với mục đích phục vụ cho Quân đội Thuộc địa Pháp. Ông đã từng tham gia làm cấp chỉ huy và chiến đấu dưới Tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng. Ông cũng từng chỉ huy các đơn vị Địa phương người dân tộc Tự trị vùng Đông Bắc, Bắc Việt. Về sau ông làm đến chức vụ Tổng trưởng Nội vụ trong Nội các Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1918 tại Hòa An, Cao Bằng, vùng đông bắc Bắc phần trong một gia đình quan lại khá giả. Thiếu thời, ông học Tiểu học ở Cao Bằng. Năm 1933, khi lên Trung học, do gia đình có điều kiện, ông được về Hà Nội học ở trường Trung học Albert Sarraut theo chương trình Pháp. Năm 1939 ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần ban Triết (Part II)

Quân đội Thuộc địa Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1939, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp ở Đông Dương, mang số quân: 38/300.619. Sau đó được theo học khóa 1 tại trường Võ bị Tông, Sơn Tây[8] (Chỉ huy trưởng là Đại tá Corbonel). Một năm sau, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Ra trường, ông được cử làm Trung đội trưởng thuộc Chiến đoàn 4 Lưu động, đồn trú tại vùng Tây bắc Bắc phần. Đầu năm 1942, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm.

Quốc dân đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1943, ông được giải ngũ, trở về với đời sống dân sự cư ngụ ở Tỉnh Vĩnh Yên và tham gia Quốc dân đảng ở Đảng bộ Vĩnh Yên. Đến tháng 8 năm 1945, ông làm Uỷ viên Quân sự thuộc Đệ tam Khu chiến của Việt Nam Quốc dân đảng gồm các tỉnh từ Vĩnh yên lên đến Tuyên Quang, Lào Cai và Lai Châu. Tham gia các trận chiến chống Việt Minh tấn công vào Đệ tam khu chiến từ năm 1945 cho đến năm 1946. Sau đó ông làm Chỉ huy trưởng trường Quân chính Vĩnh Yên (tiền thân của trường Lục quân Yên Bái).

Trở lại binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1946, sau khi Đệ tam khu chiến tan vỡ ông trở về Hà Nội và bị An ninh Quân đội Pháp bắt giữ điều tra. Sau đó, ông được trả tự do và tình nguyên tái ngũ vào Quân đội Liên Hiệp Pháp với cấp bậc cũ (Thiếu úy). Tháng giêng năm 1947, ông được cử giữ chức vụ chỉ huy Trung đội Nùng ở Tiên Yên, Móng Cái, luân phiên hành quân vùng biên giới Việt-Hoa. Tháng 9 cùng năm ông được thăng cấp Trung úy, biệt phái giữ chức vụ Phụ tá cho Đại tá Vòng A Sáng[9] Chỉ huy trưởng khu Tự trị Nùng ở Móng Cái. Cuối năm, ông được cử làm Chỉ huy trưởng trường Thiếu sinh quân Móng Cái kiêm làm trung gian giữa Văn phòng Quốc trưởng Bảo Đại ở Hà Nội và Khu Tự trị Nùng Ở Móng Cái để sát nhập Khu tự trị vào Hoàng triều Cương thổ.

Năm 1949, ông rời chức vụ Chỉ huy trưởng trường Thiếu sinh quân để đi thành lập Bảo chính đoàn Bắc Việt tại Hà Nội do Đại tá Hoàng Văn Tỷ làm Chỉ huy trưởng. Ông được mang cấp bậc Trung tá Bảo chính đoàn (cấp bậc giả định) và được giữ chức vụ Tham mưu trưởng kiêm Giám đốc trường Sĩ quan Bảo chính đoàn Nam Đồng, Hà Nội.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1950, ông được cử làm Chánh Võ phòng cho Quốc trưởng Bảo Đại, nhận lệnh thành lập Ngự lâm quân và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Ngự lâm quân tân lập tại Đà Lạt. Sau đó ông chính thức gia nhập Quân đội Quốc gia với cấp bậc Đại úy.

Tháng 6 năm 1952, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi học khóa tham mưu tại trường Tham mưu Paris, Pháp.[10] Đầu năm 1953, mãn khóa về nước ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm làm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Ban Mê Thuột kiêm Tư lệnh Đệ tứ Quân khu Cao nguyên. Tháng giêng năm 1954, tham gia Chiến Dịch Atlante ở Trung Việt gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Tháng 6 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá và chính thức nhậm chức Tư lệnh Đệ tứ Quân khu.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đâu tháng 5 năm 1955, ông thừa lệnh Thủ tướng Diệm giải tán Ngự lâm quân, sau khi đã thuyết phục được Đại tá Nguyễn Tuyên (Chỉ huy trưởng Ngự lâm quân) để tránh đổ máu. Sau đó Lực lượng này được sát nhập vào Quân đội Quốc gia. Đầu năm 1956, bàn giao Đệ tứ Quân khu lại cho Đại tá Thái Quang Hoàng, đi du hành quan sát các nước Đông Á, Đông Nam Á và Úc, tìm hiểu về chiến lược phòng thủ vĩ tuyến. Giữa năm 1957, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1958 mãn khóa về nước, ông được cử giữ chức vụ phó Tổng thư ký Bộ Quốc phòng, Phụ tá Thiếu tướng Trần Văn Minh (Lục quân).

Năm 1963, sau khi tham gia cuộc đảo chính chế độ gia đình trị họ Ngô (ngày 1 tháng 11). Ngày 2 tháng 11 ông được thăng cấp Thiếu tướng giữ chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng Đặc trách Tiếp vận.

Sau cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh Đầu tháng 2, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Thanh Sằng[11] Tháng 9 cùng năm, bàn giao Sư đoàn 22 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Hiếu (nguyên Tham mưu trưởng Quân đoàn I). Sau đó, ông được cử chức vụ Giám đốc Nha An ninh Quân đội thay thế Đại tá Nguyễn Ngọc Loan.

Trung tuần tháng 1 năm 1965, bàn giao Nha An ninh Quân đội lại cho Trung tá Trang Văn Chính. Sau đó tham chính giữ chức vụ Tổng trưởng Thông tin Tâm lý chiến và kiêm chức vụ Ủy viên Thường vụ Chính trị trong Hội đồng Quân lực. Cuối tháng 5 cùng năm, chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân.

Trung tuần tháng 4 năm 1966, bàn giao chức Tham mưu trưởng lại cho Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn (Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn) để trực tiếp giữ chức vụ Tổng trưởng Nội vụ kiêm Đặc uỷ trưởng Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo. Cuối tháng 10 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tướng. Tháng 5 năm 1968, ông rời chức vụ Tổng trưởng Nội vụ để trở về phục vụ Quân đội.

Đầu năm 1969, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa (Đồng Đế) thay thế Đại tá Lê Văn Nhật[12] Đến đầu tháng 7 năm 1972, bàn giao Quân trường Đồng Đế lại cho Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh.[13] Sau đó ông được cử đi Du hành Quan sát các Quân trường ở Hoa Kỳ.

Đầu năm 1973, về nước ông được cử làm Tổng Thanh tra 2 Quân đoàn III và Quân đoàn IV. Đến đầu tháng 3 cùng năm ông được giải ngũ với lý do đã phục vụ Quân đội trên 20 năm.

Tháng 5 năm 1974, ông được bổ nhiệm đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại nước Cộng hòa Trung Phi. Sang năm 1975 kiêm nhiệm thêm chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại nước Cộng hòa Tchad.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, tại nước ngoài ông trở thành người sống lưu vong và từ châu Phi ông sang nước Pháp tạm cư tại Paris. Tháng 8 năm 1977, ông sang định cư tại Washington DC, Hoa Kỳ.

Ngày 17 tháng 1 năm 2013 ông từ trần tại Virginia, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 95 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Một số Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu, Sao vàng, Sao bạc.
- Giây Biểu chương cùng các Huy chương Quân sự và Dân sự khác.
- Đệ ngũ đẳng Bắc đẩu Bội tinh Pháp (Chevalier de la Legion d'Honneur.
- Croix de Guerre Pháp.
- Chiến thương Bội tinh Pháp.
- Một số Huy chương của Trung hoa Quốc gia, Nam Hàn và Thái Lan.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ ông Linh Quang Vọng (1895-1945, từng giữ chức vụ Tuần Phủ Lạng Sơn dưới thời Pháp thuộc)
  • Thân mẫu: Cụ bà Bế Thị Mậu.
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Nghĩa (1921-2006), là con gái của hai Cụ Nguyễn Bách và Nguyễn Thị Hạc.
-Ông bà có bảy người con, 3 trai 4 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tướng Linh Quang Viên có hai lần phục vụ tại Bộ Tổng Tham mưu. Lần thứ nhất: Thiếu tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng đặc trách Tiếp vận (1963-1964). Lần thứ hai: Thiếu tướng Tham mưu trưởng Liên quân (1965-1966).
  2. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  3. ^ Tướng Linh Quang Viên có hai lần phục vụ tại Bộ Quốc phòng. Lần thứ nhất: Đại tá Tham mưu trưởng (TMT) Biệt bộ (1956-1957). Lần thứ hai: Phó Tổng thư ký Thường trực (1957-1958)
  4. ^ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Cộng hòa Trung Phi.
  5. ^ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Cộng hòa Tchad.
  6. ^ Tướng Linh Quang Viên có hai lần làm Tổng trưởng trong Nội các Chính phủ VNCH. Lần thứ nhất: Tổng trưởng Thông tin Tâm lý chiến, Hai Nội các Chính phủ Trần Văn HươngPhan Huy Quát (1965). Lần thứ hai: Tổng trưởng Nội vụ, Nội các Chính phủ Nguyễn Văn Lộc.
  7. ^ Chỉ huy trưởng Tiểu khu Ban Mê Thuột từ năm 1953 đến 1955.
  8. ^ Đầu tiên, Võ bị Tông Sơn Tây ở miền Bắc chỉ dành cho thí sinh miền Bắc và miền Trung. Trường Võ bị Thủ Dầu Một dành cho thí sinh miền Nam Việt Nam, hai nước bạn là Miên và Lào. Cả hai trường đều mở cùng một thời điểm. Sau trường Thủ Dầu Một giải tán, chỉ còn trường Sơn Tây tiếp nhận thí sinh trên toàn Đông Dương và đào tạo thêm mấy khóa nữa rồi cũng giải tán.
  9. ^ Sinh năm 1902 tại Hải Ninh, xuất thân Thiếu sinh quân Pháp, tốt nghiệp trường sĩ quan Frejus ở Pháp, giải ngũ năm 1956.
  10. ^ Cùng theo học lớp Tham mưu với Thiếu tá Linh Quang Viên tại Paris, Pháp năm 1953 còn có:
    -Trung úy Phạm Xuân Chiểu, sinh năm 1920, tốt nghiệp trường Võ bị Lục quân Yên Bái. Cấp bậc sau cùng là Trung tướng.
    -Trung úy Vương Văn Đông, sinh năm 1930, tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Huế. Cấp bậc sau cùng là Trung tá. Năm 1960 cùng với Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu đảo chính Tống thống Diệm, thất bại đào ngũ sang Cam Bốt tị nạn.
  11. ^ Đại tá Nguyễn Thanh Sằng được cử làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  12. ^ Sinh 1928 tại Hà Nam, tốt nghiệp trường Võ bị Địa phương Trung Việt (Trường Sĩ quan Đập Đá, Huế).
  13. ^ Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh, sinh năm 1922, tốt nghiệp Võ bị Địa phương Trung Việt K3 (Sĩ quan Đập Đá, Huế), Nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Lam Sơn kiêm Chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ được cử thay thế tướng Linh Quang Viên. Sau cùng là Thiếu tướng Phụ tá Tổng trưởng Nội vụ (ngang cấp Thứ trưởng).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.