Linh dương sừng queo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Addax
DishonMikrai002.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Hippotraginae
Chi (genus) Addax
Laurillard, 1841
Loài (species) A. nasomaculatus
Danh pháp hai phần
Addax nasomaculatus
(de Blainville, 1816)[2]
Sự phân bố của Addax (IUCN 2015)  Còn tồn tại (sinh sống)  Tái nhập
Sự phân bố của Addax (IUCN 2015)
  Còn tồn tại (sinh sống)
  Tái nhập
Danh pháp đồng nghĩa

Linh dương sừng queo (trong tiếng Anh có tên là Addax, danh pháp hai phần: Addax nasomaculatus), còn được gọi là white antelope (linh dương trắng) và screwhorn antelope (linh dương sừng xoay), là một loài linh dương thuộc chi Addax, sinh sống tại hoang mạc Sahara. Loài này được Henri de Blainville mô tả năm 1816. Theo đề nghị tên thay thế, linh dương nhạt có sừng dài, xoắn - đặc trưng 55 đến 80 cm (22 đến 31 in) ở con cái và 70 đến 85 cm (28 đến 33 in) ở con đực. Linh dương đực khi đứng bờ vai cao từ 105 đến 115 cm (41 đến 45 in), với linh dương cái khoảng từ 95 đến 110 cm (37 đến 43 in). Đây là loài lưỡng hình giới tính, với linh dương cái nhỏ hơn linh dương đực. Màu bộ lông phụ thuộc theo mùa - vào mùa đông, có màu nâu xám với chân và mặt sau màu trắng, và lông nâu, dài trên đầu, cổ, vai; vào mùa hè, bộ lông trở lại gần như hoàn toàn màu trắng hoặc màu cát vàng.

Linh dương sừng queo chủ yếu ăn cỏ và lá của bất kỳ cây bụi có sẵn, cây họ đậu và cây bụi. Là loài động vật thích nghi tốt để tồn tại trong môi trường sống sa mạc, loài có thể sống mà không cần nước trong thời gian dài. Linh dương sừng queo sống theo đàn từ 5 đến 20 cá thể, gồm cả con đực và con cái. Chúng được dẫn dắt bởi con cái lớn tuổi nhất. Do chuyển động chậm chạp, linh dương là một mục tiêu dễ dàng cho kẻ thù như: sư tử, con người, chó săn châu Phi, báo Gêpa và báo hoa mai. Mùa sinh sản đỉnh cao trong suốt mùa đông và đầu mùa xuân. Môi trường sống tự nhiên là những vùng đất khô cằn, bán hoang mạc và sa mạc cát và đá.

Addax là một loài linh dương cực kỳ nguy cấp, theo phân loại do IUCN. Mặc dù cực kỳ hiếm trong môi trường tự nhiên do săn bắn không được kiểm soát, chúng khá phổ biến trong điều kiện nuôi nhốt. Addax từng dồi dào tại Bắc Phi, có nguồn gốc từ Chad, Mauritania và Niger. Loài tuyệt chủng ở Algeria, Ai Cập, Libya, Sudan và Tây Sahara. Chúng đã được tái nhập ở Morocco và Tunisia.

Cận cảnh phần đầu Addax
Addax (4390987871).jpg

Danh mục phân loại và đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh pháp 2 phần của linh dương sừng queo (Addax) là Addax nasomaculatus. Loài này lần đầu tiên được mô tả bởi nhà động vật và giải phẫu học người Pháp Henri Blainville năm 1816. Addax được đặt trong chi đơn loài (chỉ có 1 đại diện) là Addax và họ Bovidae.[2] Henri Blainville quan sát đồng loại trong Bullock's Pantherion và bảo tàng cao đẳng hoàng gia Surgeons. Nhà tự nhiên học người Anh Richard Lydekker phát biểu phân loại địa phương của loài hầu như chắc chắn ở Senegambia, mặc dù ông không làm bất cứ gì để xác minh. Cuối cùng, từ một cuộc thảo luận năm 1898, quan điểm đã trở nên xác thực hơn, khi thợ săn hoặc nhà sưu tập người Anh thu được linh dương sừng queo từ một phần của Sahara tại Tunisia.[2]

Danh pháp Addax được cho bắt nguồn bởi một từ ngữ trong tiếng Ả Rập nghĩa là 1 loài động vật hoang dã có sừng cong queo.[4] Đó cũng có nguồn gốc từ một từ Latin. Danh pháp được sử dụng lần đầu năm 1693.[5] Danh pháp loài nasomaculatus bắt nguồn trong tiếng Latin nasus (hoặc tiền tố naso) nghĩa là mũi, và macula (điểm vàng), vết đốm hoặc khoang, và hậu tố –atus đề cập đến những điểm và mảng trên mặt của linh dương. Bedouin sử dụng tên khác cho Addax, tiếng Ả Rập bakr (hoặc bagr) al wahsh, theo từng chữ mang nghĩa con bò trong hoang dã. Tên có thể được sử dụng nhằm tham khảo cho động vật móng guốc khác.[3][4] Tên gọi thông thường khác của addax là "white antelope" (linh dương trắng) và "screwhorn antelope" (linh dương sừng xoay).[6]

Di truyền học[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng queo có 29 cặp nhiễm sắc thể. Tất cả các nhiễm sắc thể là nhiễm sắc dạng que (acrocentric) ngoại trừ cho các cặp đầu tiên của thể thường nhiễm sắc (autosome), đó là hạ khuynh tâm (submetacentric). Nhiễm sắc thể X là lớn nhất trong các nhiễm sắc thể acrocentric, và nhiễm sắc thể Y ở mức trung bình. Các que ngắn và dài của các cặp nhiễm sắc thể thường submetacentric cũng tương ứng với các nhiễm sắc thể thứ 27 và thứ 1 ở bò và dê. Trong một nghiên cứu, mô hình dải nhiễm sắc thể của linh dương sừng queo được tìm thấy tương tự như trong bốn loài khác thuộc phân họ Hippotraginae.[3][7]

Lịch sử và kỷ lục hóa thạch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời cổ đại, linh dương sừng queo (Addax) cư trú từ Bắc Phi qua ArabiaLevant. Hình ảnh trong một ngôi mộ có niên đại từ năm 2500 trước Công nguyên cho thấy ít nhất là sự thuần hóa một phần Addax của người Ai Cập cổ đại. Những hình ảnh cho thấy Addax và một số loài linh dương khác cột bằng dây thừng với cọc. Số lượng Addax bị săn bắt bởi người được xem là có địa vị cao về kinh tế và xã hội trong xã hội cổ đại.[6] Nhưng hôm nay, săn bắn quá mức đã dẫn đến sự tuyệt chủng của loài này ở Ai Cập kể từ những năm 1960.[8]

Hóa thạch Addax được tìm thấy trong bốn địa điểm của Ai Cập - hóa thạch 7000 BCE từ Great Sandsee, hóa thạch 5000–6000 BCE từ Djara, hóa thạch 4000–7000 BCE từ Abu Ballas Stufenmland và hóa thạch 5000 BCE từ Gilf Kebir. Bên cạnh đó, các hóa thạch cũng đã được khai quật từ Mittleres Wadi Howar (hóa thạch 6300 BCE), và hóa thạch thế Pleistocene từ Grotte Neandertaliens, Jebel Irhoud và Parc d'Hydra.[3]

Mô tả vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Cận cảnh cặp sừng của Addax
Summer coat
Màu lông vào mùa hè
Winter coat
Màu lông vào mùa đông

Addax (linh dương sừng queo) là loài linh dương có sừng cong xoắn. Addax đực khi đứng bờ vai cao từ 105 đến 115 cm (41 đến 45 in), với con cái khoảng 95 đến 110 cm (37 đến 43 in). Đây là loài lưỡng hình giới tính, với linh dương cái nhỏ hơn linh dương đực.[9] Chiều đài từ đầu đến hết thân cả đực và cái khoảng 120 đến 130 cm (47 đến 51 in), có đuôi dài 25 đến 35 cm (9,8 đến 13,8 in). Cân nặng con đực khoảng từ 100 đến 125 kg (220 đến 276 lb), và con cái khoảng từ 60 đến 90 kg (130 đến 200 lb).[3]

Màu lông của Addax thay đổi theo mùa. Vào mùa đông, có màu nâu xám với chân và mặt sau màu trắng, và lông dài màu nâu trên đầu, cổ và vai. Vào mùa hè, bộ lông trở lại gần như hoàn toàn màu trắng hoặc màu cát vàng.[3] Đầu được đánh dấu bằng các mảng màu nâu hoặc đen có hình chữ 'X' trên mũi. Chúng có râu thô và lỗ mũi đỏ nổi bật. Lông đen dài cắm ra giữa cặp sừng cong và xoắn ốc của loài, kết thúc bằng một bờm ngắn trên cổ.[10]

Sừng, được tìm thấy ở cả đực và cái, có 2 đến 3 vòng xoắn và thường dài 55 đến 80 cm (22 đến 31 in) ở con cái và 70 đến 85 cm (28 đến 33 in) ở con đực, mặc dù chiều dài tối đa được ghi nhận là 109,2 cm (43,0 in).[3] Các phần dưới và giữa của sừng được đánh dấu bằng một loạt 30 đến 35 dãy hình vòng.[3] Đuôi ngắn và mảnh mai, kết thúc bằng một búi lông đen. Móng guốc rộng với lòng bàn chân phẳng và móng huyền khỏe giúp chúng bước đi trên cát mềm.[10] Tất cả bốn chân có tuyến mùi.[3] Tuổi thọ trung bình của Addax trên 19 năm trong hoang dã,[4] có thể được kéo dài đến 25 năm dưới điều kiện nuôi nhốt.[3][9]

Linh dương sừng queo (Addax) có sự tương đồng mật thiết với linh dương sừng kiếm (scimitar oryx), nhưng được phân biệt bằng hình dạng sừng và những mảng trên mặt. Trong khi Addax có sừng cong xoắn, còn Scimitar oryx sừng lại thẳng, sừng dài 127 cm (50 in). Addax có 1 chùm lông nâu mở rộng từ cơ sở cặp sừng đến giữa đôi mắt. Một mảng trắng, tiếp tục từ lông nâu, kéo dài đến giữa má. Mặt khác, linh dương sừng kiếm có một vầng trán trắng với chỉ một màu nâu nổi bật đánh dấu một sọc ngang màu nâu dọc mắt.[3] Loài khác với các loài linh dương khác bởi có răng lớn và vuông như bò nhà, và thiếu các tuyến điển hình trên mặt.[3]

Ký sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Addax dễ bị ký sinh trùng nhất trong điều kiện khí hậu ẩm.[11] Addax luôn bị nhiễm giun tròn trong họ TrichostrongyloideaStrongyloidea.[12] Tại 1 trang trại ngoại lai ở Texas, 1 con linh dương bị nhiễm giun Haemonchus contortusLongistrongylus curvispiculum trong dạ dày múi khế,[3] trong đó có loài cũ đã chiếm ưu thế hơn.[13]

Hành vi và sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Là loài chủ yếu hoạt động về đêm, đặc biệt là trong mùa hè. Trong ngày, chúng đào sâu vào cát tại các địa điểm râm mát và nghỉ ngơi tại chỗ lõm đào được, điều đó bảo vệ linh dương tránh khỏi bão cát. Linh dương sừng queo (Addax) theo đàn có cả đực và cái, và có từ 5 đến 20 cá thể. Chúng sẽ ở lại một nơi và chỉ đi lang thang rộng rãi để tìm thức ăn. Addax có một cấu trúc xã hội mạnh mẽ, dựa vào tuổi tác, đàn được dẫn dắt bởi con cái lớn tuổi nhất.[3] Đàn nhiều khả năng được tìm thấy dọc theo rìa phía bắc của hệ thống mưa nhiệt đới suốt mùa hè và di chuyển về phía bắc khi mùa đông đến. Chúng có thể theo dõi lượng mưa và sẽ dẫn đầu các khu vực này, là nơi thực vật phong phú hơn. Con đực chiếm lãnh thổ và bảo vệ con cái,[14] trong khi con cái thiết lập nhóm thống trị riêng của chúng.[15]

Do chuyển động chậm, Addax là một mục tiêu dễ dàng cho động vật ăn thịt như sư tử, con người, chó hoang châu Phi, báo Gêpabáo hoa. Mãn rừng, linh cẩumèo đồng cỏ châu Phi tấn công con non. Addax thường không hung hăng, mặc dù tính cách có thể thay đổi nếu bị kích động.[3]

Sự thích nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Addax gặm cỏ trong điều kiện khô

Addax có đủ khả năng để sống trong sa mạc sâu dưới điều kiện khắc nghiệt. Chúng sống sót mà không cần nước tự do gần như vô hạn, bởi vì loài này hút được độ ẩm từ thức ăn và sương cô đọng trên cây. Các nhà khoa học tin rằng Addax có một lớp lót đặc biệt trong dạ dày, nước tích trữ trong túi được sử dụng trong thời gian mất nước. Chúng cũng đào thải nước tiểu loại bỏ tạp chất cao độ nhằm tiết kiệm nước.[16] Màu sắc nhợt nhạt của lông phản xạ nhiệt bức xạ, độ dài và độ dày của lông giúp điều hòa thân nhiệt. Trong ngày, Addax tụ tập với nhau trong khu vực bóng râm, và thời gian còn lại trong đêm mát tụ tập tại những hốc cát. Những hoạt động này giúp tản nhiệt cơ thể và tiết kiệm nước bằng cách làm mát cơ thể thông qua sự bốc hơi.[3]

Trong 1 nghiên cứu, 8 linh dương Addax trong 1 chế độ ăn cỏ khô (Chloris gayana) được nghiên cứu để xác định thời gian lưu giữ thức ăn qua đường tiêu hóa. Tìm thấy rằng thời gian lưu giữ thức ăn khá dài, thích ứng với một chế độ ăn bao gồm một tỷ lệ cao cỏ lên men chậm; trong khi thời gian lưu giữ chất lỏng dài có thể được giải thích là do cơ chế tiết kiệm nước với lượng hấp thu nước thấp và một dạ cỏ rộng rãi[17]

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Con non và linh dương mẹ

Addax sống tại địa hình sa mạc, nơi chúng ăn cỏ và lá của những loại cây bụi, quả đậu thảo mộc và bụi rậm có sẵn. Thức ăn chủ yếu của loài là cỏ thuộc các loài Aristida, Artemisia, CitrullusAcacia;[18] thực vật lâu năm khi chuyển sang màu xanh và nảy mầm ở độ ẩm nhẹ hay khi có mưa. Addax chỉ ăn một số bộ phận của cây và có xu hướng gặm cỏ Aristida có chiều cao vừa phải. Ngược lại, khi ăn vào cỏ Panicum, lá ngoài khô còn lại một mình trong khi linh dương ăn lá mềm, chồi non và hạt bên trong. Những loại hạt là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống của Addax, là nguồn cung protein chính.[10]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương cái động dục khi 2 đến 3 năm tuổi và linh dương đực khi khoảng 2 tuổi. Mùa giao phối diễn ra suốt năm, nhưng cao điểm suốt mùa đông và đầu mùa xuân. Ở phía bắc Sahara, giao phối cao điểm vào cuối mùa đông và bắt đầu mùa xuân; ở phía nam Sahara, giao phối cao điểm từ tháng 9 đến tháng 10 và từ tháng 1 đến giữa tháng 4. Mỗi cơn động dục kéo dài trong một hoặc hai ngày.[3]

Trong một nghiên cứu, huyết thanh từ máu linh dương cái được phân tích thông qua xét nghiệm miễn dịch nhằm tìm hiểu về chu kỳ kinh nguyệt. Chu kỳ động dục kéo dài khoảng 33 ngày. Trong thời gian mang thai, siêu âm cho thấy cặp sừng trong tử cung đã xoắn cuộn. Đường kính tối đa của nang buồng trứngthể vàng khoảng 15 mm (0,59 in) và 27 mm (1,1 in). Mỗi con cái trải qua một giai đoạn không rụng trứng kéo dài từ 39 đến 131 ngày, trong thời gian đó không diễn ra sự rụng trứng. Sự không rụng trứng hiếm hoi trong mùa đông, điều này cho thấy ảnh hưởng của mùa trên chu kỳ động dục.[19]

Thai kỳ kéo dài khoảng từ 257 đến 270 ngày (khoảng 9 tháng). Con cái có thể nằm hoặc đứng khi sinh sản, sau đó một con non được sinh ra. Một lần động dục hậu sản xảy ra sau hai hoặc ba ngày.[20] Con non nặng khoảng 5 kg (11 lb) khi sinh và cai sữa khi được từ 23 đến 29 tuần tuổi.[21]

Môi trường sống và phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng queo (Addax) thích nghi ở miền khô hạn, bán hoang mạchoang mạc cát hoặc đá.[16] Chúng thậm chí còn cư trú ở khu vực cực kỳ khô hạn, với lượng mưa hàng năm ít hơn 100 mm.[1] Loài này cũng sống ở sa mạc có cỏ mọc thành bụi rậm (loài cỏ Stipagrostis) và cây bụi gai mọng nước (Cornulaca).[22] Trước đây, Addax phân bố rộng trong khu vực Sahelo vùng Sahara của châu Phi, phía tây của thung lũng sông Nile và tất cả quốc gia có chung đường sa mạc Sahara; nhưng ngày nay chỉ còn số lượng tự duy trì hiện diện trong khu dự trữ Termit Massif (Niger). Tuy nhiên, có những báo cáo nhìn thấy từ phía đông dãy núi Aïr (Niger) và Equey (Chad). Đàn du mục hiếm có thể được nhìn thấy ở phía bắc Niger, miền nam Algeria và Libya; và linh dương được đồn đại có mặt dọc theo biên giới Mali/Mauritania, mặc dù không có chứng cứ xác nhận.[1] Addax từng dồi dào tại Bắc Phi, có nguồn gốc từ Chad, MauritaniaNiger. Loài linh dương này đã tuyệt chủng ở Algeria, Ai Cập, Libya, Sudan và tây Sahara. Loài này được tái nhập tại MoroccoTunisia.[1]

Sự đe dọa và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Addax tại vườn thú Kolmården, Thụy Điển
Bảo tồn tại Ramat-Gan Safari, Israel

Giảm số lượng linh dương sừng queo (Addax) bắt đầu từ giữa những năm 1800.[22] Gần đây hơn, Addax được tìm thấy từ Algeria tới Sudan, nhưng chủ yếu săn quá mức, chúng trở nên rất hạn hẹp và hiếm.[1]

Addax dễ dàng để săn do chuyển động chậm của chúng. Roadkill, vũ khí dễ săn bắt và khu du mục gần hố nước (nơi kiếm ăn mùa khô của loài) cũng đã làm giảm số lượng.[23] Hơn nữa, thịt và da của Addax có giá cao. Các mối đe dọa khác bao gồm hạn hán thường xuyên ở hoang mạc, mất môi trường sống do bởi sự định cư của con ngườinông nghiệp. Ít hơn 500 cá thể được cho là tồn tại trong tự nhiên ngày nay, hầu hết linh dương được tìm thấy giữa các khu vực Termit thuộc Niger, miền Bodélé thuộc phía tây Chad,[1]Aoukar tại Mauritania.[24]

Ngày nay có hơn 600 Addax ở châu Âu, khu dự trữ tự nhiên Yotvata Hai-Bar (Israel), Sabratha (Libya), vườn thú Giza (Ai Cập), bắc America, Nhật và Australia dưới chương trình nhân giống nuôi nhốt. Có hơn 1.000 trong các khu chăn nuôi tư nhân và các trại nuôi ở Hoa Kỳ và Trung Đông. Addax được pháp luật bảo vệ ở Morocco, Tunisia và Algeria; săn bắn tất cả các loài linh dương bị cấm ở Libya và Ai Cập. Mặc dù bảo tồn rất lớn, chẳng hạn như Hoggar MountainsTasilli tại Algeria, Ténéré ở Niger, khu dự trữ hệ động vật Ouadi Rimé-Ouadi Achim tại Chad, và vườn quốc gia Wadi Howar mới thành lập ở Sudan bao gồm khu vực trước đây Addax từng sống, một số không giữ Addax nữa do nguồn lực ngày càng ít. Addax được tái nhập trong vườn quốc gia Bou Hedma (Tunisia) và vườn quốc gia Souss-Massa (Morocco). Sự tái nhập đầu tiên trong tự nhiên đang diễn ra tại vườn quốc gia Jebil (Tunisia), Grand Erg Oriental (Sahara) và một số khác được quy hoạch ở Morocco.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Addax nasomaculatus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 13 November 2008.Database entry includes justification for why this species is listed as critically endangered and the criteria used.
  2. ^ a ă â b Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). tr. 717. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Krausman, P.R. & Casey, A.L. (2012). “Addax nasomaculatus”. Mammalian Species: Number 807: pp. 1–4. doi:10.1644/807.1. 
  4. ^ a ă â Huffman, B. “Addax”. Ultimate Ungulate. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013. 
  5. ^ “Entry Addax. Encyclopaedia Britannica. Merriam-Webster. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013. 
  6. ^ a ă Burton, M.; Burton, R. (2002). International Wildlife Encyclopedia (ấn bản 3). New York: Marshall Cavendish. tr. 24–5. ISBN 978-0-7614-7266-7. 
  7. ^ Claro, F.; Hayes, H.; Cribiu, E.P. (1996). “The karyotype of the addax and its comparison with karyotypes of other species of Hippotraginae antelopes.”. Hereditas 124 (3): 223–7. doi:10.1111/j.1601-5223.1996.00223.x. PMID 8931355. 
  8. ^ Manilus, N. (2000). “Historical ecology and biogeography of the addax in Egypt”. Israel Journal of Zoology 46 (4): 261–71. doi:10.1560/H4XC-Y7PP-T1D9-014B. 
  9. ^ a ă Atlan, B. Addax nasomaculatus. University of Michigan Museum of Zoology. Animal Diversity Web. 
  10. ^ a ă â Burton, M.; Burton, R. (1974). The Funk & Wagnalls Wildlife Encyclopedia 1. New York, N.Y.: Funk and Wagnalls. OCLC 20316938. 
  11. ^ Mungall, E. C. (2007). Exotic Animal Field Guide : Nonnative Hoofed Mammals in the United States (ấn bản 1). College Station: Texas A&M University Press. ISBN 1-58544-555-X. 
  12. ^ AAZPA Regional Conference Proceedings. American Association of Zoological Parks and Aquariums. 1993. tr. 553. 
  13. ^ Craig, T.M. (1993). “Longistrongylus curvispiculum (Nematoda: Trichostrongyloidea) in free-ranging exotic antelope in Texas”. Journal of wildlife diseases 29 (3): 516–7. doi:10.7589/0090-3558-29.3.516. PMID 8355363. 
  14. ^ Spevak, E.M. (1993). “Species survival plan contributions to research and reintroduction of the addax Addax nasomaculatus”. International Zoo Yearbook 32 (1): 91–98. doi:10.1111/j.1748-1090.1993.tb03520.x. 
  15. ^ Reason, R.C. & Laird, E.W. (1988). “Determinants of dominance in captive female addax (Addax nasomaculatus)”. Journal of Mammalogy 69 (2): 375–377. doi:10.2307/1381391. 
  16. ^ a ă “Addax”. Wildscreen. ARKive. 
  17. ^ Hummel, J.; Steuer, P.; Südekum, Karl-Heinz; Hammer, S.; Hammer, C.; Streich, W. J.; Clauss, M. (2008). “Fluid and particle retention in the digestive tract of the addax antelope (Addax nasomaculatus)—Adaptations of a grazing desert ruminant”. Comparative Biochemistry and Physiology Part A: Molecular & Integrative Physiology 149 (2): 142–9. doi:10.1016/j.cbpa.2007.11.001. 
  18. ^ Mallon, D.P.; Kingswood, S.C. (2001). Antelopes. Gland, Switzerland: IUCN. tr. 44. ISBN 2-8317-0594-0. 
  19. ^ Asa, C.S.; Houston, E.W.; Fischer, M.T.; Bauman, J.E.; Bauman, K.L.; Hagberg, P.K.; Read, B.W. (1996). “Ovulatory cycles and anovulatory periods in the addax (Addax nasomaculatus).”. Journal of reproduction and fertility 107 (1): 119–24. doi:10.1530/jrf.0.1070119. PMID 8699424. 
  20. ^ Densmore, M.A. & Kraemer, D.C. (1986). “Analysis of reproductive data on the addax (Addax nasomaculatus) in captivity”. International Zoo Yearbook 24 (1): 303–306. doi:10.1111/j.1748-1090.1985.tb02559.x. 
  21. ^ Manski, D.A. (1991). “Reproductive behavior of addax antelope”. Applied Animal Behaviour Science 29 (1): 39–66. doi:10.1016/0168-1591(91)90237-r. 
  22. ^ a ă “Addax”. Sahara Conservation Fund. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2013. 
  23. ^ Newby, J. (2009). “Can Addax and Oryx be saved in the Sahel?”. Oryx 15 (03): 262. doi:10.1017/S0030605300024662. 
  24. ^ Richard Trillo, The Rough Guide to West Africa

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]