Linkin Park

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Linkin Park
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh
  • Xero (1996–1999)
  • Hybrid Theory (1999–2000)
Nguyên quánAgoura Hills, California, Mỹ
Dòng nhạc
Năm hoạt động1996–nay
(tạm nghỉ 2017–2020)
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websitewww.linkinpark.com
Thành viên
Cựu thành viên

Linkin Park là một ban nhạc rock người Mỹ đến từ Agoura Hills, California. Đội hình hiện tại của ban gồm có ca sĩ kiêm tay guitar đệm Mike Shinoda, tay lead guitar Brad Delson, tay bass Dave Farrell, DJ Joe Hahn và tay trống Rob Bourdon, tất cả họ đều là các thành viên sáng lập. Mark Wakefield và Chester Bennington là các cựu thành viên của ban nhạc. Dù được phân vào thể loại alternative rock, âm nhạc thời kì đầu của Linkin Park là sự pha trộn giữa heavy metalhip hop[1], về sau họ chuyển qua dòng nhạc mang màu sắc electronicapop hơn.[2]

Được thành lập vào năm 1996, Linkin Park trở nên nổi tiếng toàn cầu với album phòng thu đầu tay Hybrid Theory (2000); nhạc phẩm đã giành được chứng nhận Kim cương bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA).[3] Album này ra mắt vào đúng thời kì dòng nhạc nu metal đang hưng thịnh nhất. Những đĩa đơn của album lên sóng liên tục trên MTV như "One Step Closer", "Crawling" và "In the End" đều xếp thứ hạng cao trên bảng xếp hạng Mainstream Rock; riêng "In the End" còn lấn sang bảng xếp hạng nhạc pop.[4] Album thứ hai của nhóm có tựa Meteora (2003) đã tiếp nối thành công của ban nhạc.[5] Nhóm đã khám phá ra dòng nhạc thử nghiệm trong album thứ ba Minutes to Midnight (2007).[6] Đến cuối thập kỷ, Linkin Park đã nằm trong số những nghệ sĩ nhạc rock thành công và nổi tiếng nhất.[7]

Ban nhạc tiếp tục khám phá nhiều thể loại âm nhạc đa dạng hơn trong album thứ tư A Thousand Suns (2010) khi họ lồng thêm nhiều lớp nhạc electronic hơn. Album thứ năm của nhóm, Living Things (2012) đã kết hợp những nhạc tố từ tất cả các đĩa nhạc mà họ phát hành trước đó. Album thứ sáu của Linkin Park, The Hunting Party (2014) trở về chất rock nặng hơn còn album thứ bảy One More Light (2017) lại là đĩa nhạc mang màu sắc nhạc pop đầu tiên của nhóm.[4] Linkin Park đã tạm nghỉ sau khi ca sĩ chính lâu năm Bennington qua đời do tự tử vào tháng 7 năm 2017. Vào tháng 4 năm 2020, tay bass Dave Farrell tiết lộ rằng ban nhạc đang thực hiện sản phẩm âm nhạc mới.[8]

Linkin Park là một trong những ban nhạc có doanh số bán đĩa nhạc chạy nhất của thế kỷ 21 và là một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa chạy nhất thế giới, với hơn 100 triệu đĩa nhạc tiêu thụ trên toàn thế giới.[9] Nhóm đã giành hai Giải Grammy, 6 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ, hai Giải thưởng Âm nhạc Billboard, 4 Giải Video Âm nhạc của MTV, 10 Giải Âm nhạc châu Âu của MTV và ba Giải thưởng Âm nhạc Thế giới. Vào năm 2003, MTV2 đã xướng tên Linkin Park là ban nhạc vĩ đại thứ 6 trong kỷ nguyên video âm nhạc và vĩ đại thứ 3 trong thiên niên kỷ mới. Billboard thì xếp Linkin Park hạng 19 trong danh sách Best Artists of the Decade[a]. Năm 2012, ban nhạc được bầu chọn là nghệ sĩ vĩ đại nhất của thập niên 2000 trong một cuộc bầu chọn Barcket Madness trên kênh VH1. Năm 2014, nhóm được tôn vinh là "The Biggest Rock Band in the World Right Now"[b] bởi tờ Kerrang!.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1996–2000: Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park được thành lập bởi ba người bạn cùng học cao học: Mike Shinoda, Rob Bourdon, và Brad Delson.[10][11] Họ theo học tại Trường Cao học AgouraAgoura Hills, California - một vùng ngoại ô của Los Angeles.[10][11] Sau khi tốt nghiệp cao học, họ bắt đầu xem trọng sở thích âm nhạc một cách nghiêm túc hơn, vì thế họ liền tuyển mộ Joe Hahn, Dave "Phoenix" FarrellMark Wakefield để thành lập một ban nhạc và đặt tên nhóm là Xero.[10][12] Mặc dù bị giới hạn về cơ sở vật chất, ban nhạc vẫn bắt đầu thu âm và sản xuất các bài hát bên trong phòng thu âm tạm bợ (cũng là phòng ngủ) của Shinoda năm 1996; họ cho ra mắt một băng demo có bốn bài với tựa đề Xero. Tuy nhiên, ban nhạc bắt đầu cảm thấy căng thẳng và chán nản sau khi họ không thể ký được một hợp đồng thu âm.[10] Do thất bại và bế tắc, Wakefield - ca sĩ của nhóm lúc bấy giờ - đã rời ban để tìm kiếm những dự án khác.[10][12] Farrell cũng rời đi để lưu diễn với Tasty Snax - một ban nhạc skapunk Kito giáo.[13][14]

Sau khi dành khoảng thời gian đáng kể để tìm sự thay thế cho Wakefield, Xero đã tuyển mộ ca sĩ gốc Arizona, Chester Bennington sau khi Chester được tiến cử bởi Jeff Blue - phó giám đốc của Zomba Music vào tháng 3 năm 1999.[15][16] Bennington là cựu thành viên ban nhạc post-grunge Grey Daze và nổi lên giữa những ứng viên nhờ vào phong cách hát đa dạng của ông.[10] Sau đó nhóm đã thống nhất đổi tên của họ từ Xero sang Hybrid Theory; sự hòa hợp giọng hát giữa Shinoda và Bennington đã giúp hồi sinh ban nhạc, giúp họ có động lực tạo ra những sản phẩm mới.[10][17] Năm 1999 ban nhạc đã phát hành một đĩa EP cùng tên nhóm và nó đã lan truyền trên các phòng chat trên mạng cũng như các diễn đàn nhờ sự trợ giúp của một 'street team'[c] trên mạng.[18]

Xero vẫn gặp khó khăn trong việc ký kết hợp đồng thu âm. Họ tiếp cận Jeff Blue để được trợ giúp thêm sau khi bị một vài hãng thu âm lớn từ chối nhiều lần.[15] Sau khi không thể ký kết với Warner Bros. Records trong 3 lần trước đây; ông Blue - phó giám đốc của Warner Bros. Records lúc bấy giờ - đã giúp ban nhạc ký hợp đồng với công ty dưới dạng một nghệ sĩ đang phát triển vào năm 1999.[19][20] Tuy nhiên, hãng đã khuyên ban nhạc đổi tên để tránh gây nhầm lẫn với ban nhạc từ Anh, Hybrid.[21][22] Ban nhạc đã đổi tên thành Linkin Park, gợi nhớ đến Lincoln Park[d]Santa Monica,[10] giờ có tên là Christine Emerson Reed Park.[23] Lúc đầu họ muốn dùng tên "Lincoln Park", tuy nhiên họ đã đổi tên thành "Linkin" để giành lấy tên miền internet "linkinpark.com".[22][24]

Bennington và Shinoda đều phát biểu về việc Warner Bros. Records từng hoài nghi về những bản thu âm ban đầu của Linkin Park.[25][26] Bộ phận A&R của hãng đĩa không hài lòng với phong cách hip-hop kết hợp rock của ban nhạc.[25][26] Một đại diện A&R còn đề nghị Bennington nên giảm vai trò hoặc sa thải Shinoda và tập trung hoàn toàn để sáng tác nhạc rock.[25][26] Nhưng Bennington đã đứng về phía Shinoda và không chấp nhận làm thành viên chủ lực của Linkin Park cho album.[25][26] Farrell đã trở lại ban vào năm 2000 và nhóm phát hành album Hybrid Theory gây đột phá vào cùng năm đó.[15]

2000–2002: Hybrid TheoryReanimation[sửa | sửa mã nguồn]

Joe Hahn trình diễn cùng Linkin Park tại Rock am Ring vào năm 2001

Linkin Park đã phát hành Hybrid Theory vào ngày 24 tháng 10 năm 2000.[27][28] Album là minh chứng cho một nửa thập kỷ làm việc của ban nhạc, và được biên tập bởi Don Gilmore.[10] Hybrid Theory gặt hái thành công lớn về mặt thương mại, bán ra hơn 4,8 triệu bản trong năm đầu ra mắt, rồi đoạt được danh hiệu album bán chạy nhất năm 2001, trong khi những đĩa đơn như "Crawling" và "One Step Closer" được xem là những bài tiêu chuẩn trong các danh sách phát nhạc alternative rock trên radio của năm đó.[1] Bên cạnh đó, những đĩa đơn khác trong album còn có mặt trong những bộ phim điện ảnh như Dracula 2000, Little NickyValentine.[1] Hybrid Theory đã giành chiến thắng một Giải Grammy cho Trình diễn hard rock xuất sắc nhất nhờ bài hát "Crawling" và đem về cho ban hai đề cử Giải Grammy khác: Nghệ sĩ mới xuất sắc nhấtAlbum rock xuất sắc nhất.[29] MTV thì trao cho ban nhạc giải thưởng Video nhạc rock xuất sắc và Chỉ đạo xuất sắc nhất nhờ bài hát "In the End".[10] Nhờ thành tích thắng giải Grammy cho Trình diễn hard rock xuất sắc nhất, thành công của Hybrid Theory đã làm bệ phóng để đưa ban nhạc tiến đến thành công đại chúng.

Vào lúc này, Linkin Park đã nhận được nhiều lời mời để trình diễn trong nhiều chuyến lưu diễn và buổi hòa nhạc nổi tiếng như Ozzfest, Family Values Tour, và KROQ Almost Acoustic Christmas.[1][30] Nhóm làm việc với Jessica Sklar để thành lập hội hâm mộ chính thức cũng như 'đội đường phố' "Linkin Park Underground", vào tháng 11 năm 2001.[31][32] Linkin Park cũng khởi chuyến lưu diễn riêng Projekt Revolution, với sự góp mặt nhiều nghệ sĩ đáng chú ý như Cypress Hill, Adema, và Snoop Dogg.[15] Trong một năm, Linkin Park đã trình diễn tại hơn 320 buổi nhạc.[10] Những trải nghiệm và các buổi trình diễn của ban nhạc được ghi làm phim tài liệu trong DVD đầu tay của nhóm mang tên Frat Party at the Pankake Festival, phát hành vào tháng 11 năm 2001. Kế đó ban tái hợp với tay bass Phoenix và bắt đầu thực hiện một album phối lại lấy tựa là Reanimation; trong album chứa những bản nhạc trích từ album Hybrid Theory cũng như những ca khúc không nằm trong album.[1] Reanimation ra mắt vào ngày 30 tháng 7 năm 2002, với sự góp mặt của những cái tên như Black Thought, Jonathan Davis, Aaron Lewis và nhiều nghệ sĩ khác.[33] Reanimation chiếm vị trí á quân trên bàng xếp hạng Billboard 200 và đã tiêu thụ gần 270.000 bản trong tuần ra mắt.[34] Hybrid Theory cũng nằm trong danh sách Top 100 Album[e] của RIAA.[35]

2002–2004: Meteora[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của Hybrid TheoryReanimation, Linkin Park đã dành nhiều thời gian đi lưu diễn quanh Hoa Kỳ. Các thành viên của nhóm bắt đầu thực hiện các dự án mới giữa lịch diễn dày đặc, nên họ chỉ bỏ ra một chút thời gian để xả hơi trong phòng thu trên xe buýt lưu diễn.[36] Ban nhạc chính thức thông báo sản xuất album phòng thu mới vào tháng 12 năm 2002, tiết lộ rằng sản phẩm mới của họ được lấy cảm hứng từ vùng núi đá Meteora ở Hy Lạp, và trên đỉnh núi đá đó có nhiều tu viện được xây dựng.[37] Meteora là sự kết hợp giữa phong cách nu metalrap metal của ban với những hiệu ứng âm thanh sáng tạo hơn, như tiếng shakuhachi (một loại sáo Nhật Bản làm từ tre) cũng như nhiều nhạc cụ khác.[10] Album thứ hai của Linkin Park đã ra mắt vào ngày 25 tháng 3 năm 2003 và ngay lập tức nhận được nhiều lời tán dương trên toàn thế giới,[10] qua đó leo lên ngôi quán quân ở Mỹ và Anh, cũng như vị trí á quân ở Úc.[12]

Meteora đã tiêu thụ hơn 800.000 bản trong tuần đầu tiên và lọt vào bảng xếp hạng album bán chạy nhất của Billboard lúc bấy giờ.[38] Những đĩa đơn trích từ album như "Somewhere I Belong", "Breaking the Habit", "Faint" và "Numb" đều thu hút sự chú ý đáng kể từ các đài phát thanh.[39] Đến tháng 10 năm 2003, Meteora bán được gần 3 triệu bản.[40] Thành công của album giúp Linkin Park thành lập ra một dự án Projekt Revolution khác, với sự góp mặt của các ban nhạc và ca sĩ như Mudvayne, BlindsideXzibit.[10] Ngoài ra, Metallica đã mời Linkin Park đến biểu diễn tại chuyến lưu diễn Summer Sanitarium Tour 2003, nơi quy tụ nhiều tên tuổi nổi tiếng như Limp Bizkit, Mudvayne và Deftones.[41] Ban nhạc còn phát hành một album và DVD có nhan đề Live in Texas; đĩa nãy chứa những bài hát cũng như video lấy từ những buổi trình diễn của nhóm tại Texas trong chuyến lưu diễn.[10] Vào đầu năm 2004, Linkin Park khởi động một chuyến lưu diễn thế giới có tên Meteora World Tour. Hỗ trợ cho ban nhạc trong chuyến lưu diễn gồm có Hoobastank, P.O.D., Story of the YearPia.[42]

Meteora đã giúp Linkin Park giành được nhiều giải thưởng. Họ đã thắng giải MTV hạng mục Video nhạc rock xuất sắc nhất nhờ "Somewhere I Belong" và Giải Lựa chọn của Khán giả nhờ "Breaking the Habit".[43] Linkin Park cũng gặt hái thành tích tại Radio Music Awards năm 2004, với các danh hiệu Nghệ sĩ của năm và Ca khúc của năm (nhờ bài "Numb").[43] Mặc dù Meteora không thành công lớn như Hybrid Theory, nhưng đây là album bán chạy thứ 3 ở Hoa Kỳ năm 2003.[1] Nhóm đã dành vài tháng đầu năm 2004 để đi lưu diễn khắp thế giới, đầu tiên là chuyến lưu diễn Projekt Revolution thứ ba, và sau đó là vài buổi hòa nhạc ở Châu Âu. Cùng lúc đó, mối quan hệ của ban nhạc với hãng Warner Bros. Records đang ngày càng xấu đi do nhiều vấn đề lòng tin và tài chính.[44] Sau nhiều tháng tranh chấp, nhóm cuối cùng đã thương thảo được một hợp đồng vào tháng 12 năm 2005.[45]

2004–2006: Những dự án phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của Meteora, Linkin Park đã thực hiện nhiều dự án phụ.[46] Bennington góp mặt trong "State of the Art" của DJ Lethal và những sản phẩm khác cùng Dead by Sunrise, trong khi Shinoda thì hợp tác cùng Depeche Mode.[1] Năm 2004, ban nhạc bắt đầu hợp tác với Jay-Z để sản xuất một album phối lại mới, có tên Collision Course. Album có những lời hát và đoạn nhạc nền được lồng ghép với nhau, chúng đều được lấy từ những album cũ của cả hai bên. Album đã ra mắt vào tháng 11 năm 2004. Shinoda cũng thành lập dự án phụ của riêng anh mang tên Fort Minor. Với sự trợ giúp của Jay-Z, Fort Minor đã phát hành album đầu tay The Rising Tied, và được giới phê bình đánh giá cao.[47][48]

Linkin Park còn tham gia nhiều sự kiện từ thiện, đáng chú ý nhất là quyên góp tiền để ủng hộ các nạn nhân của Bão Charley năm 2004 và sau đó là Bão Katrina năm 2005.[1] Ban nhạc đã ủng hộ 75.000 USD cho tổ chức Special Operations Warrior Foundation[f] vào tháng 3 năm 2004.[49] Họ còn giúp cứu trợ các nạn nhân của vụ sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004 bằng cách tổ chức nhiều buổi hoà nhạc từ thiện và thành lập một quỹ có tên Music for Relief.[50] Đáng chú ý hơn cả, nhóm đã tham gia Live 8, một chuỗi buổi hoà nhạc từ thiện được tổ chức để tăng nhận thức của toàn thế giới.[51] Ban nhạc cùng với Jay-Z đã biểu diễn trên sân khấu của Live 8 tại Philadelphia, Pennsylvania trước khán giả toàn cầu.[51] Sau đó nhóm tái hợp với Jay-Z tại Lễ trao giải Grammy 2006 để trình diễn ca khúc "Numb/Encore"; phiên bản này về sau đoạt luôn giải Grammy cho Trình diễn rap/hát xuất sắc nhất.[52] Paul McCartney cũng tham gia cùng họ trên sân khấu với tiết mục hát thêm vài phiên khúc từ bài "Yesterday". Sau đó Linkin Park tiếp tục trình diễn tại nhạc hội Summer Sonic 2006 do Metallica tổ chức tại Nhật Bản.[53]

2006–2008: Minutes to Midnight[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park trình diễn tại Nova Rock Festival vào ngày 17 tháng 6 năm 2007

Linkin Park đã quay trở lại phòng thu âm vào năm 2006 để thực hiện dự án mới. Để sản xuất album, ban nhạc đã chọn nhà sản xuất Rick Rubin. Mặc dù ban đầu album được công bố là sẽ ra mắt vào khoảng năm 2006, lịch phát hành album lại bị hoãn đến năm 2007.[54] Nhóm thu âm được khoảng 30 đến 50 bài hát vào tháng 8 năm 2006, lúc đó Shinoda thông báo album đã hoàn thành một nửa.[55] Bennington sau đó bổ sung rằng album mới sẽ không còn theo thể loại nu metal như trước.[56] Warner Bros. Records chính thức công bố album phòng thu thứ ba của Linkin Park có tên Minutes to Midnight và album sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 5 năm 2007 ở Hoa Kỳ.[57] Sau khi dành ra 14 tháng thực hiện album, các thành viên trong nhóm đã quyết định trau chuốt nhạc phẩm hơn nữa bằng việc loại bỏ 5 trong số 17 bản nhạc gốc. Tựa đề của album lấy cảm hứng từ Đồng hồ ngày tận thế và như dự báo trước chủ đề ca từ của họ.[58] Minutes to Midnight bán được hơn 625.000 bản trong tuần đầu tiên, qua đó trở thành một trong những album có tuần ra mắt thành công nhất trong những năm gần đây. Album còn chiếm ngôi quán quân trên bảng xếp hạng của Billboard.[59]

Rob Bourdon cùng Linkin Park vào ngày 25 tháng 5 năm 2007 trong Minutes to Midnight World Tour

Đĩa đơn đầu tiên của album, "What I've Done" đã được phát hành vào ngày 2 tháng 4, đồng thời trình chiếu trên MTV và Fuse trong cùng tuần đó.[60] Đĩa đơn được giới mộ điệu đón nhận tích cực, qua đó giành được thứ hạng cao trên bảng xếp hạng Modern Rock TracksMainstream Rock Tracks của Billboard.[61] Bài hát cũng được sử dụng cho nhạc nền của bộ phim hành động Transformers (2007). Mike Shinoda còn góp mặt trong bài hát "Second to None" của Styles of Beyond (bài này cũng xuất hiện trong phim đó). Cùng năm đó, nhóm đoạt giải "Nghệ sĩ nhạc alternative yêu thích" tại lễ trao American Music Awards.[62] Ban nhạc tiếp tục gặt hái thành công với những đĩa đơn còn lại của album là "Bleed It Out", "Shadow of the Day", "Given Up" và "Leave Out All the Rest"; chúng ra mắt trong năm 2007 và đầu năm 2008. Ban nhạc đã hợp tác với Busta Rhymes trong đĩa đơn "We Made It" của ông, phát hành vào ngày 29 tháng 4.[63]

Mike Shinoda trình diễn cùng Linkin Park vào năm 2008 trong chuyến lưu diễn Projekt Revolution

Linkin Park đã khởi động một chuyến lưu diễn thế giới lớn có tên "Minutes to Midnight World Tour". Ban nhạc quảng bá cho album bằng cách lập chuyến lưu diễn Projekt Revolution thứ 4 ở Hoa Kỳ với sự góp mặt của My Chemical Romance, Taking Back Sunday, HIM, Placebo và nhiều nghệ sĩ khác. Nhóm còn chơi nhạc tại nhiều buổi diễn ở Châu Âu, Châu Á, và Úc, trong đó có một buổi trình diễn tại Live Earth Japan vào ngày 7 tháng 7 năm 2007.[64] Linkin Park là nghệ sĩ trình diễn chính tại nhạc hội Download Festival ở Donington Park, Anh Quốc và Edgefest ở Downsview Park, Toronto, Ontario, Canada. Ban nhạc đã hoàn thành chuyến lưu diễn Projekt Revolution thứ 4 trước khi tham gia một chuyến lưu diễn Arena quanh Vương quốc Anh, với các địa điểm ghé thăm là Nottingham, SheffieldManchester, để rồi kết thúc bằng 2 đêm diễn tại sân vận động O2 ở Luân Đôn. Bennington tuyên bố rằng Linkin Park dự định sẽ phát hành một album nối tiếp Minutes to Midnight.[65] Tuy nhiên, ông nói rằng trước đó ban nhạc sẽ khởi hành chuyến lưu diễn ở Hoa Kỳ để thu nhặt ý tưởng làm album nói trên.[65] Linkin Park đã khởi hành một chuyến lưu diễn Projekt Revolution khác vào năm 2008. Đây là lần đầu tiên một chuyến lưu diễn Projekt Revolution được tổ chức tại Châu Âu với ba buổi diễn tại Đức và một tại Vương quốc Anh. Một chuyến lưu diễn Projekt Revolution khác cũng có mặt ở Hoa Kỳ, tại đó quy tụ Chris Cornell, The Bravery, Ashes Divide, Street Drum Corps và nhiều nghệ sĩ khác. Linkin Park hoàn thành chuyến lưu diễn bằng một buổi diễn tại Texas. Mike Shinoda đã ra thông báo về một đĩa CD/DVD thu âm trực tiếp có tên Road to Revolution: Live at Milton Keynes; sản phẩm này là video thu trực tiếp từ phần trình diễn của Projekt Revolution tại Milton Keynes Bowl vào ngày 29 tháng 6 năm 2008, phát hành chính thức vào ngày 24 tháng 11 năm 2008.[66]

2008–2011: A Thousand Suns[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park đang trình diễn tại Sonisphere Festival ở Phần Lan vào ngay 25 tháng 7 năm 2009

Vào tháng 5 năm 2009, Linkin Park đã thông báo họ đang sáng tác ra album phòng thu thứ 4, nó được dự định sẽ phát hành vào năm 2010. Shinoda đã phát biểu trên IGN rằng album mới sẽ 'kết hợp thể loại'[g] và được phát triển từ những yếu tố trong Minutes to Midnight.[67] Ông cũng đã đề cập rằng album sẽ mang tính thử nghiệm nhiều hơn và "hy vọng là sẽ đột phá hơn".[68] Bennington cũng đã xác nhận với truyền thông rằng Rick Rubin sẽ tiếp tục trở lại làm nhà sản xuất cho album mới. Ban nhạc sau đó đã tiết lộ rằng album sẽ có tên A Thousand Suns.[69] Trong lúc tạo ra album mới, Linkin Park đã làm việc với nhà soạn nhạc phim thành đạt Hans Zimmer để tạo ra nhạc nền phim cho Transformers: Bại binh phục hận.[70] Ban nhạc đã phát hành một đĩa đơn cho bộ phim, có tên "New Divide". Joe Hahn đã tạo ra video nhạc cho bài hát, trong đó có những đoạn clip lấy từ phim.[71] Vào ngày 22 tháng 6, Linkin Park đã trình diễn một buổi nhạc ngắn tại Westwood Village sau buổi công chiếu bộ phim.[72] Sau khi hoàn thành công việc cho Transformers: Bại binh phục hận, ban nhạc trở lại phòng thu để hoàn thành album của họ.[73]

Brad Delson đang trình diễn cùng Linkin Park trong A Thousand Suns World Tour năm 2010

Vào ngày 26 tháng 4, ban nhạc đã phát hành một trò chơi có tên 8-Bit Rebellion! trên iPhone, iPod Touch, và iPad. Trong trò chơi, các thành viên ban nhạc là những nhân vật có thể chơi. Ngoài ra trong trò chơi còn có một bài hát mới tên là "Blackbirds". Bài hát có thể được mở khóa bằng cách phá đảo trò chơi. Bài hát sau đó cũng được phát hành dưới dạng bài bổ sung trên iTunes trong album A Thousand Suns.[74]

A Thousand Suns đã được phát hành vào ngày 14 tháng 9. Đĩa đơn đầu tiên của album, "The Catalyst", đã được phát hành vào ngày 2 tháng 8. Ban nhạc đã quảng bá album mới của họ bằng việc khởi động chuyến lưu diễn của họ tại Los Angeles vào ngày 7 tháng 9.[75][76][77] Linkin Park cũng nhờ vào MySpace để quảng bá album của họ cũng như phát hành thêm 2 bài hát: "Waiting for the End" và "Blackout" vào ngày 8 tháng 9.[78][79][80][81] Ngoài ra, một phim tài liệu về quá trình sản xuất album, có tên Meeting of A Thousand Suns, đã được đăng tải lên cho xem trên trang MySpace của ban nhạc. Vào ngày 31 tháng 8 năm 2010, ban nhạc đã thông báo họ sẽ trình diễn đĩa đơn lần đầu tiên tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2010 vào ngày 12 tháng 9 năm 2010.[82] Sân khấu để trình diễn là Griffith Observatory[h], một vị trí mang tính biểu tượng được sử dụng trong những phim Hollywood.[83][84][85] "Waiting for the End" đã được phát hành làm đĩa đơn thứ 2 của A Thousand Suns.[86][87]

Năm 2010, Linkin Park đã leo lên hạng 8 trên Billboard Social 50, một bảng xếp hạng những nghệ sĩ tích cực nhất trên các mạng xã hội hàng đầu của thế giới.[88] Với những bảng xếp hạng Billboard Year-End[i] khác của năm 2010: ban nhạc đã đứng hạng 92 trên Top Artists[j],[89] A Thousand Suns đứng hạng 53 trên Billboard Top 200 albums[k][90] và hạng 7 trên Rock Albums[l], The Catalyst đứng hạng 40 trên Rock Songs[m].[91]

Ban nhạc đã được đề cử cho 6 Giải thưởng Billboard năm 2011 cho các hạng mục: Top Duo or Group[n], Best Rock Album[o] với A Thousand Suns, Top Rock Artist[p], Top Alternative Artist[q], Top Alternative Song[r] với Waiting for the End, và Top Alternative Album[s] với A Thousand Suns, nhưng đã không đoạt giải nào.[92] Ban nhạc đã được xếp hạng trong nhiều bảng xếp hạng Billboard Year-End năm 2011. Ban nhạc đã đứng hạng 39 trên Top Artists,[93] hạng 84 trên Billboard 200 Artists[t],[94] hạng 11 trên Social 50,[95] hạng 6 trên Top Rock Artists[u],[96] hạng 9 trên Rock Songs Artists[v],[97] hạng 16 trên Rock Albums,[98] hạng 4 trên Hard Rock Albums[w],[99] và hạng 7 trên Alternative Songs[x].[100]

2011–2013: Living ThingsRecharged[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2011, Bennington đã nói trên tờ Rolling Stone rằng Linkin Park nhắm tới tiến độ sản xuất một album mới sau mỗi 18 tháng, và ông tin chắc một album mới sẽ ra lò vào năm 2012. Ông sau đó đã tiết lộ trong một bài phỏng vấn khác vào tháng 9 năm 2011 rằng ban nhạc vẫn đang ở giai đoạn ban đầu của album tiếp theo, nói rằng "Chúng tôi chỉ vừa mới khởi động. Chúng tôi muốn giữ niềm cảm hứng sáng tạo luôn tuôn trào,... chúng tôi thích hướng đi hiện tại của mình".[101] Sau đó, vào ngày 28 tháng 3 năm 2012, Shinoda đã xác nhận rằng ban nhạc đang ghi hình một video nhạc cho bài "Burn It Down".[102][103] Joe Hahn là đạo diễn của video.[104] Shinoda đã nói với Co.Create về nghệ thuật của album, nói rằng nó sẽ "thổi bay họ [các fan] đi... người bình thường sẽ không thể chấp nhận nó ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi hiểu rằng nó hoàn toàn mới lạ, không chỉ về hình ảnh mà ngay cả phương cách tạo ra hình ảnh nữa.".[105]

Ngày 15 tháng 4 năm 2012, Shinoda đã thông báo rằng Living Things sẽ là tựa đề cho album thứ năm của Linkin Park.[106] Shinoda đã khẳng định rằng họ chọn tựa đề Living Things bởi vì album này liên quan đến con người, sự tương tác giữa các cá nhân, và nó mang tính cá nhân hơn các album trước đây.[107] Ban nhạc đã quảng bá album trong Honda Civic Tour phiên bản năm 2012, họ với Incubus là đồng nghệ sĩ chính của tour. Ban nhạc đã trình diễn "Burn It Down" tại Giải thưởng Âm nhạc Billboard 2012. Ngày 24 tháng 5, ban nhạc đã phát hành video nhạc cho bài "Burn It Down" và công bố "Lies Greed Misery", một bài hát khác từ Living Things, trên đài BBC Radio 1. "Powerless", bài hát thứ 12 và cũng là bài kết thúc album, đã xuất hiện trong đoạn danh đề cuối phim Abraham Lincoln: Thợ săn ma cà rồng.[108]

Living Things đã bán được hơn 223.000 bản trong tuần công bố, xếp hạng 1 trên US Albums Charts[y] .[109] Đĩa đơn của album, "Castle of Glass", đã được đề cử cho giải 'Best Song in a Game'[z] tại Giải thưởng Trò chơi điện tử Spike năm 2012. Ban nhạc cũng đã trình diễn tại lễ trao giải vào ngày 7 tháng 12, nhưng đã mất giải thưởng vào tay bài "Cities" của Beck.[110] Linkin Park cũng đã trình diễn tại lễ hội âm nhạc Soundwave ở Úc, ở đó họ diễn chung sân khấu với Metallica, Paramore, SlayerSum 41.[111]

Ngày 10 tháng 8 năm 2013, ban nhạc đã hợp tác với nghệ sĩ người Mỹ Steve Aoki để ghi âm ca khúc "A Light That Never Comes" cho trò chơi giải đố-hành động trực tuyến của Linkin Park là LP Recharge[aa], nó đã được công bố trên Facebook và trang web chính thức của LP Recharge vào ngày 12 tháng 9 năm 2013. Vào ngày phát hành trò chơi, Linkin Park đã đăng một bài trên Facebook của họ để giải thích rằng bài hát được dùng để quảng bá trò chơi sẽ nằm trong một album phối lại mới, có tên Recharged. Nó đã được phát hành ngày 29 tháng 10 năm 2013 dưới dạng đĩa CD, đĩa than, và tải về dạng số. Tương tự như Reanimation, album chứa những bản phối lại của 10 ca khúc từ Living Things, với sự đóng góp của những nghệ sĩ khác, như Ryu của Styles of Beyond, Pusha T, Datsik, KillSonik, Bun B, Money Mark, và Rick Rubin.[112][113] Ban nhạc cũng đã góp phần tạo ra nhạc nền cho phim Mall, bộ phim được đạo diễn bởi Joe Hahn.[114]

2013–2015: The Hunting Party[sửa | sửa mã nguồn]

Bennington và Shinoda đang trình diễn nhạc sống tại Montreal vào ngày 23 tháng 8 năm 2014

Trong một cuộc phỏng vấn với Fuse, Shinoda đã xác nhận rằng Linkin Park đã bắt đầu thu âm album phòng thu thứ sáu của họ vào tháng 5 năm 2013.[115] Ban nhạc đã phát hành đĩa đơn đầu tiên của album tiếp theo, có tên "Guilty All the Same" vào ngày 6 tháng 3 năm 2014 thông qua Shazam.[116] Đĩa đơn sau đó được phát hành bởi Warner Bros. Records vào ngày hôm sau và ra mắt ở hạng 28 trên bảng xếp hạng US Billboard Rock Airplay[ab] trước khi leo lên hạng 1 trên bảng xếp hạng Mainstream Rock[ac] vào những tuần tiếp theo.[117][118] Không lâu sau khi phát hành đĩa đơn, ban nhạc đã tiết lộ album thứ 6 của họ sẽ có tên The Hunting Party. Album được sản xuất bởi Shinoda và Delson, họ muốn khám phá thêm những yếu tố âm nhạc từ Hybrid Theory và những sản phẩm trước đó của họ.[119] Shinoda đã bình luận rằng album là một "đĩa nhạc rock mang phong cách của những năm 90". Ông đã giải thích: "Nó là một đĩa nhạc rock. Nó ồn ào và nó là rock, nhưng không phải theo kiểu nhạc bạn đã từng nghe trước đây, cái kiểu nhạc hardcore-punk-thrash của những năm 90."[120] Album có sự đóng góp âm nhạc từ rapper Rakim, Page Hamilton của Helmet, Tom Morello của Rage Against the Machine, và Daron Malakian của System of a Down.[121][122] The Hunting Party đã được phát hành vào ngày 13 tháng 6 năm 2014 ở hầu hết các nước, và sau đó phát hành ở Hoa Kỳ vào ngày 17 tháng 6.[123]

Linkin Park đã trình diễn tại Download Festival vào ngày 14 tháng 6 2014, tại đó họ đã trình diễn toàn bộ album đầu tay của họ, Hybrid Theory.[124][125][126] Linkin Park là nghệ sĩ chính tại Rock am Ring and Rock im Park năm 2014, cùng với Metallica, Kings of Leon, và Iron Maiden.[127][128] Ban nhạc cũng đã cùng Iron Maiden làm nghệ sĩ chính lần nữa tại Greenfield Festival vào tháng 7.[129] Ngày 22 tháng 6, Linkin Park đã làm bất ngờ làm nghệ sĩ chính mà không lên kế hoạch trước tại Vans Warped Tour, tại đó họ trình diễn cùng những thành viên của Issues, The Devil Wears Prada, A Day To Remember, Yellowcard, Breathe Carolina, Finch, và Machine Gun Kelly.[130] Tháng 1 năm 2015, ban nhạc đã khời hành chuyến lưu diễn để quảng bá The Hunting Party, bao gồm 17 buổi hòa nhạc tại khắp Hoa Kỳ và Canada. Chuyến lưu diễn đã bị hủy sau chỉ 3 buổi nhạc khi Bennington bị chấn thương mắt cá.[131][132] Ngày 9 tháng 5, Linkin Park đã trình diễn tại phiên bản đầu tiên của Rock in Rio USA, để ủng hộ trực tiếp cho Metallica.[133]

Dave Farrell đang trình diễn cùng Linkin Park năm 2014

Ngày 9 tháng 11 năm 2014, MTV Europe đã trao cho Linkin Park giải Best Rock act[ad] của năm 2014 tại lễ trao giải âm nhạc thường niên của họ.[134] Ban nhạc đã thắng giải Best Rock Band[ae]Best Live Act[af] của năm 2014 tại Giải thưởng Âm nhạc của Loudwire.[135] Revolver đã xếp hạng The Hunting Party làm album xuất sắc thứ 4 của năm 2014.[136] Trong một buổi phỏng vấn với AltWire vào ngày 4 tháng 5, Shinoda đã nhìn lại The Hunting Party và bình luận về tương lai của Linkin Park, ông phát biểu: "Tôi rất hạnh phúc với sự đón nhận của The Hunting Party, và tôi nghĩ chúng tôi đã sẵn sàng để tiến đến một nơi khác mới mẻ hơn trong album kế tiếp, nó sẽ đến [vào năm 2016]".[137]

Linkin Park đã hợp tác cùng Steve Aoki với ca khúc "Darker Than Blood" cho album của Aoki là Neon Future II, nó đã được phát hành vào tháng 5 năm 2015.[138] Bản nghe trước của ca khúc đã xuất hiện trong phần trình diễn của Aoki vào ngày 28 tháng 2 năm 2015 tại Aragon Ballroom, Chicago, Illinois.[139] Ca khúc đã được ra mắt trên nền tảng Twitch vào ngày 13 tháng 4 và được phát hành vào ngày 14 tháng 4.[140]

Linkin Park đã trình diễn tại lễ bế mạc của BlizzCon 2015, hội chợ trò chơi điện tử của Blizzard.[141]

2015–2017: One More Light và cái chết của Bennington[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park đã bắt đầu tạo ra nhạc phẩm mới cho một album phòng thu thứ bảy vào tháng 11 năm 2015.[142] Chester Bennington đã bình luận về hướng đi của album: "Chúng tôi đang có rất nhiều nhạc phẩm, tôi hy vọng chúng sẽ thử thách cũng như truyền cảm hứng cho cộng đồng người hâm mộ giống như chúng tôi."[143] Vào tháng 2 năm 2017, Linkin Park đã đăng tải video quảng bá trên những tài khoản mạng xã hội của họ, trong đó Shinoda và Bennington đang chuẩn bị nhạc phẩm mới cho album.[144] Mike Shinoda nói rằng ban nhạc đã đi theo một quy trình mới khi sản xuất album. Brad Delson giải thích thêm: "Chúng tôi đã tạo ra quá nhiều đĩa nhạc, nên chúng tôi rất chắc chắn về cách tạo ra đĩa nhạc, và rõ ràng lần này chúng tôi không muốn đi theo hướng dễ dàng."[145]

Một trong những buổi trình diễn cuối cùng của Bennington cùng Linkin Park ngày 4 tháng 7 năm 2017 tại O2 Brixton AcademyLondon

Đĩa đơn đầu tiên từ album đã được tiết lộ sẽ có tên "Heavy" và có sự góp mặt của ca sĩ nhạc pop Kiiara, đánh dấu lần đầu tiên ban nhạc có sự góp mặt của một nữ ca sĩ trong một bài hát tự sáng tác cho một album phòng thu. Lời bài hát cùng được chắp bút bởi Linkin Park, Julia MichaelsJustin Tranter.[146] Đĩa đơn đã được cho tải xuống vào ngày 16 tháng 2.[147][148][149] Như ban nhạc đã từng làm trong quá khứ, họ đã đăng những thông điệp mã hóa lên mạng có liên quan đến album. Bìa album đã được tiết lộ thông qua những câu đố số hóa trên các mạng xã hội; ảnh bìa có hình sáu đứa trẻ đang chơi đùa trên bãi biển.[150] Album thứ bảy của ban nhạc, One More Light, đã được phát hành vào ngày 19 tháng 5 năm 2017.[151][152]

Bennington đã mất vào ngày 20 tháng 7 năm 2017; cái chết của ông được xác định là do tự tử bằng cách treo cổ.[153] Shinoda đã xác nhận cái chết của Bennington trên Twitter, viết rằng: "Sốc và đau buồn, nhưng đó là sự thực. Chúng tôi sẽ có một thông báo chính thức sớm nhất có thể".[154] Ban nhạc đã phát hành một video âm nhạc cho đĩa đơn của họ "Talking to Myself" trước đó cùng ngày.[155] Một ngày sau cái chết của Bennington, ban nhạc đã hủy lượt diễn ở Bắc Mỹ của One More Light World Tour.[156] Vào sáng ngày 24 tháng 7, Linkin Park đã đăng một thông báo chính thức trên trang web của họ để tri ân Bennington.[157] Ngày 28 tháng 7, Shinoda đã thông báo rằng phần đóng góp cho quỹ từ thiện Music for Relief của ban nhạc sẽ được chuyển sang quỹ One More Light, quỹ này được lập ra để tưởng nhớ Bennington.[158] Ngày 4 tháng 8, ban nhạc có kế hoạch ban đầu là sẽ trình diễn trên Good Morning America, nhưng thay vào đó con gái 12 tuổi của Chris Cornell là Toni (cũng là con gái nuôi của Bennington) đã xuất hiện cùng OneRepublic để trình diễn bài "Hallelujah" nhằm tri ân Bennington và người cha quá cố.[159] Bennington trước đó đã từng trình diễn ca khúc này tại lễ tang của Cornell, ông cũng đã mất do tự tử bằng cách treo cổ vào 2 tháng trước.[159]

Ngày 22 tháng 8, Linkin Park đã thông báo kế hoạch tổ chức một buổi nhạc tri ân tại Los Angeles để tưởng nhớ Bennington. Ban nhạc đã cảm ơn các người hâm mộ vì sự ủng hộ của họ, khẳng định rằng: "Năm người chúng tôi rất biết ơn vì sự ủng hộ của tất cả các bạn trong lúc chúng tôi đang hồi phục và xây dựng tương lai cho Linkin Park".[160] Ban nhạc sau đó đã xác nhận rằng buổi hòa nhạc đó, có tên là Linkin Park and Friends: Celebrate Life in Honor of Chester Bennington[ag], sẽ diễn ra ngày 27 tháng 10 tại Hollywood Bowl. Sự kiện là buổi trình diễn đầu tiên của Linkin Park sau cái chết của Bennington.[161][162] Sự kiện có sự góp mặt của nhiều khách mời trình diễn các ca khúc của Linkin Park cùng với ban nhạc.[163] Sự kiện đã kéo dài 3 tiếng và được truyền trực tiếp bằng YouTube.[164]

Tháng 11 năm 2017, ban nhạc đã thông báo một album nhạc sống được tổng hợp từ chuyến lưu diễn cuối cùng của họ với Bennington, có tên One More Light Live, sẽ được phát hành ngày 15 tháng 12.[165] Ngày 19 tháng 11, Linkin Park đã được nhận Giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho Nghệ sĩ Alternative được yêu thích nhất và họ đã dành tặng giải thưởng cho Bennington.[166]

2017–2020: Tạm nghỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park đã tạm nghỉ trong khoảng thời gian giữa cái chết của Bennington và năm 2020.[167]

Trong một buổi chat trực tiếp trên Instagram ngày 17 tháng 12 năm 2017, Shinoda đã được hỏi liệu Linkin Park sẽ trình diễn với một phiên bản ảnh toàn ký của Bennington trong tương lai hay không, ông đã trả lời, "Chúng ta không dùng ảnh toàn ký của Chester nhé? Tôi không thể hình dung nổi ý tưởng dùng ảnh toàn ký của Chester. Tôi thật ra đã có nghe vài người ngoài ban nhạc đề nghị việc đó, và chuyện đó chắc chắn là không thể. Tôi không thể đùa giỡn như vậy."[168]

Ngày 28 tháng 1 năm 2018, Shinoda đã hồi đáp một đoạn tweet từ một fan đang hỏi thăm về tương lai của ông với Linkin Park, rằng: "Tôi chắc chắn có dự định sẽ tiếp tục với LP[ah], và cả các anh em cũng cảm thấy như vậy. Chúng tôi phải xây dựng lại nhiều, và trả lời nhiều câu hỏi, nên sẽ mất thời gian."[169] Tuy nhiên vào ngày 29 tháng 3, Shinoda đã nói rằng ông không chắc chắn về tương lai của Linkin Park khi được phỏng vấn bởi Vulture.[170] Ngày 17 tháng 4, Linkin Park đã được đề cử 3 giải thưởng tại Giải thưởng âm nhạc Billboard 2018, nhưng không thắng giải nào.[171] Ban nhạc được trao tặng Giải thưởng George và Ira Gershwin hạng mục Lifetime Musical Achievement[ai] tại UCLA[aj] ngày 18 tháng 5.[172]

Ngày 18 tháng 2 năm 2019, Shinoda đã nói trong một buổi phỏng vấn rằng ban nhạc để ngỏ khả năng tiếp tục, tuy nhiên vẫn chưa quyết định theo hình thức nào. Shinoda đã nói "Tôi biết các anh em khác, họ muốn được lên sân khấu, họ muốn được ở trong phòng thu, nếu không được như vậy, thì kiểu như, gần như là tổn hại tới sức khỏe vậy." Khi được hỏi về tương lai của ban nhạc mà không có Bennington, Shinoda đã nói, "Tôi không muốn đi tìm một ca sĩ mới. Nếu điều đó có xảy ra, nó phải xảy ra một cách tự nhiên. Nếu chúng tôi tìm thấy một người tuyệt vời và phù hợp phong cách, tôi hình dung là sẽ làm việc với một ai đó khác. Tôi không bao giờ muốn cảm thấy như chúng tôi đang thay thế Chester."[173]

2020–nay: Trở lại với âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tay bass Dave Farrell đã tiết lộ rằng ban nhạc đang tạo ra âm nhạc mới.[8] Ngày 13 tháng 8, ban nhạc đã phát hành "She Couldn't", một bài hát được ghi âm từ năm 1999, và tiết lộ rằng nó sẽ nằm trong phiên bản kỷ niệm 20 năm album đầu tay của họ Hybrid Theory, và sẽ được phát hành ngày 9 tháng 10.[174]

Vào ngày 8 tháng 1 năm 2021, ban nhạc đã ra mắt bản phối lại bài "One Step Closer" của bộ đôi nhạc electronic người Mỹ 100 gecs, và cùng lúc đó tiết lộ trong tương lai sẽ còn nhiều bài khác được phối lại.[175]

Công tác từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 1 năm 2010, Linkin Park đã phát hành một bài hát mới có tên "Not Alone", nằm trong một đĩa tổng hợp thuộc Music for Relief có tên Download to Donate for Haiti[ak] để hỗ trợ vụ thảm họa Động đất Haiti.[176][177][178] Ngày 10 tháng 2 năm 2010, Linkin Park đã phát hành video âm nhạc chính thức cho bài hát trên trang chủ của họ.[177][178] Bản thân đĩa đơn đã được phát hành ngày 21 tháng 10 năm 2011.

Ngày 11 tháng 1 năm 2011, một phiên bản cập nhật của Download to Donate for Haiti đã được phát hành, nó có tên Download to Donate for Haiti V2.0, với nhiều bài hát hơn để tải xuống.[179] Với phiên bản cập nhật, ban nhạc đã phát hành bản phối lại của Keaton Hashimoto cho bài "The Catalyst" trong cuộc thi "Linkin Park featuring YOU"[al].[180]

Shinoda đã thiết kế 2 mẫu áo thun, số lợi nhuận được dành cho Music for Relief để hỗ trợ các nạn nhân của thảm họa Động đất và sóng thần Tōhoku 2011.[181][182] Music for Relief đã phát hành Download to Donate: Tsunami Relief Japan[am], một đĩa tổng hợp các ca khúc mới, số lợi nhuận được dành cho Save the Children.[183] Ban nhạc đã phát hành bài hát có tên "Issho Ni", nghĩa là "chúng ta ở bên nhau", vào ngày 22 tháng 3 năm 2011 thông qua đĩa Download to Donate: Tsunami Relief Japan.[184]

Sau khi xảy ra Bão Haiyan năm 2013, Linkin Park đã trình diễn tại Club Nokia trong chuyến lưu diễn "Music for Relief: Concert for the Philippines"[an] tại Los Angeles, và đã gây quỹ cho các nạn nhân.[185][186] Buổi trình diễn đã được phát sóng trên kênh AXS TV ngày 15 tháng 2.[185][186] Các nghệ sĩ khác trong buổi trình diễn gồm có The Offspring, Bad Religion, Heart, và The Filharmonic.[185][186]

Phong cách nghệ thuật và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park kết hợp các yếu tố của nhạc rock, hip hopelectronica. Họ đã từng được xếp vào các thể loại alternative rock,[13][187][188] nu metal,[13][187][189][190] alternative metal,[191][192] rap rock,[13][191][193] electronic rock,[192] hard rock,[194] hip hop,[187][194] rap metal,[13] pop,[187] industrial rock, và pop rock.[195] Mặc dù ban nhạc từng được coi là thuộc thể loại nu metal, họ lại chưa bao giờ tự coi mình như vậy.[196]

Cả hai album Hybrid TheoryMeteora kết hợp các âm nhạc thể loại alternative metal,[191][197][198] nu metal,[199][200][201] rap rock,[200][202] rap metal,[203] và alternative rock,[204][205] với những yếu tố từ hip hop và electronica,[206][207] cũng như tận dụng lập trình âm nhạcsynthesizer. William Ruhlmann thuộc AllMusic đã gọi đó là "một 'hướng đi mới lạ'[ao] của một thể loại nhạc đã quá quen thuộc,"[208] trong khi Rolling Stone đã mô tả bài hát "Breaking the Habit" của họ là "nghệ thuật liều lĩnh, đẹp đẽ".[209]

Trong album Minutes to Midnight ban nhạc đã thử nghiệm với phong cách âm nhạc đã định hình của họ bằng cách lấy những ảnh hưởng từ nhiều thể loại và phong cách đa dạng hơn, một quá trình mà Los Angeles Times so sánh với một giai đoạn hoạt động của U2.[210] Chỉ có 2 bài hát trong album có đoạn hát rap và hầu hết album được coi là thể loại alternative rock.[211][212]

Sự hòa quyện ca từ giữa Chester Bennington và Mike Shinoda đóng vai trò chủ đạo trong âm nhạc của Linkin Park, trong đó Bennington làm giọng ca chính còn Shinoda làm giọng ca rap. Trong album thứ 3 của Linkin Park, Minutes to Midnight, Shinoda hát chính trong các bài "In Between", "Hands Held High", và "No Roads Left" trong đĩa mặt-B. Trong nhiều bài của album thứ 4, A Thousand Suns, ví dụ như các đĩa đơn "The Catalyst", "Burning in the Skies", "Iridescent", cả Shinoda và Bennington đều hát. Album này được coi là một bước ngoặt trong sự nghiệp âm nhạc của họ, khi họ đặt trọng tâm vào electronica nhiều hơn.[213][214] James Montgomery, thuộc MTV, đã so sánh đĩa nhạc với album Kid A của Radiohead,[215] trong khi Jordy Kasko thuộc Review, Rinse, Repeat đã gán ghép album với cả Kid A và album The Dark Side of the Moon của Pink Floyd.[216] Shinoda đã phát biểu rằng ông và cả ban nhạc đều đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Chuck DPublic Enemy. Ông đã giải thích: "Public Enemy rất có chiều sâu và tỏ ra đa diện với các đĩa nhạc của họ, bởi vì dù chúng có vẻ mang tính chính trị, còn có rất nhiều ẩn ý khác bên trong chúng. Nó đã khiến tôi suy nghĩ về việc tôi cũng muốn đĩa nhạc của chúng tôi có chiều sâu mà tất nhiên không phải sao chép của họ, và cho thấy chúng tôi có thể sáng tạo tới mức nào".[217] Một trong những yếu tố chính trị của đĩa nhạc là các đoạn âm mẫu của các bài phát biểu đáng chú ý bởi những chính khách Mỹ.[218] A Thousand Suns đã được mô tả thuộc thể loại trip hop,[219] electronic rock,[220][221] ambient,[219] alternative rock,[222] industrial rock,[223] experimental rock,[224] rap rock,[225]progressive rock.[226]

Album thứ 5 của họ, Living Things, cũng là một album mang đậm phong cách electronic, nhưng lại kết hợp những ảnh hưởng khác, cho ra một sản phẩm với âm nhạc nặng hơn electronic thường.[227][228] Ban nhạc đã quay trở về với âm nhạc nặng nề hơn so với 3 album trước đó với album The Hunting Party, nó đã được mô tả là thuộc thể loại alternative metal,[229][230][231] nu metal,[232] hard rock,[229][233] rap rock,[234] và rap metal.[235] Album thứ 7 của họ, One More Light, đã được mô tả là thuộc thể loại pop,[236][237] pop rock[238][239]electropop.[240]

Linkin Park đã chịu những ảnh hưởng từ Soundgarden, Alice in Chains, Pearl Jam, Stone Temple Pilots, Jane's Addiction, Nine Inch Nails, Ministry, Skinny Puppy, Machines of Loving Grace, Metallica, Refused, Minor Threat, Fugazi, Descendents, Misfits, Beastie Boys, Run-DMC, A Tribe Called Quest, Rob Base and DJ E-Z Rock, N.W.A, Public Enemy, KRS-One, Boogie Down Productions, Led Zeppelin, Rage Against the Machine, và The Beatles.[241][242]

Dấu ấn và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Linkin Park đã bán được hơn 100 triệu đĩa nhạc trên toàn thế giới.[243][244] Album phòng thu đầu tay của nhóm nhạc là Hybrid Theory nằm trong danh sách album bán chạy nhất tại Mỹ (11 triệu bản được tiêu thụ) và thế giới (30 triệu bản được tiêu thụ).[245] Billboard ước tính Linkin Park đã kiếm được 5 triệu đô-la Mỹ từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012, biến họ trở thành nghệ sĩ âm nhạc có thu nhập đứng hạng 40.[246] 11 đĩa đơn của ban nhạc đã từng leo lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Alternative Songs của Billboard, số lượng nhiều thứ 2 với mọi nghệ sĩ.[247]

Năm 2003, MTV2 đã gọi Linkin Park là ban nhạc vĩ đại đứng thứ 6 trong kỷ nguyên video âm nhạc và đứng thứ 3 của thiên niên kỷ mới.[248] Billboard đã xếp Linkin Park hạng 19 trên bảng xếp hạng Best Artists of the Decade[ap].[249] Ban nhạc được bầu chọn là nghệ sĩ vĩ đại nhất của thập niên năm 2000 trong một cuộc bình chọn Bracket Madness trên kênh VH1.[250] Năm 2014, ban nhạc được gọi là Biggest Rock Band in the World Right Now[aq] bởi Kerrang!.[251][252] Năm 2015, Kerrang! trao cho 2 bài hát "In the End" và "Final Masquerade" 2 vị trí cao nhất trên danh sách Rock 100 của Kerrang!.[253]

Linkin Park trở thành nhóm nhạc rock đầu tiên đạt được hơn 1 tỉ lượt xem trên YouTube.[254] Linkin Park cũng từng là trang được thích nhiều đứng thứ 15 trên Facebook, nghệ sĩ được thích nhiều đứng thứ 10, và nhóm nhạc được thích nhiều nhất khi vượt qua The Black Eyed Peas.[255] Bài "Numb" của Linkin Park đứng thứ 3 và bài "In the End" đứng thứ 6 trong danh sách "những ca khúc bất hủ" trên Spotify. Hai bài hát này giúp Linkin Park trở thành nghệ sĩ duy nhất có 2 bài hát bất hủ trong top 10.[256]

Hybrid Theory được liệt kê trong 1001 Albums You Must Hear Before You Die[ar]. Nó được xếp hạng 11 trên Hot 200 Albums of the Decade[as] của Billboard.[257] Ngoài ra album đã được nằm trong Best of 2001[at] của Record Collector, The top 150 Albums of the Generation[au] của Rock Sound50 Best Rock Albums of the 2000s[av] của Kerrang!. Album Meteora đã nằm trong Top 200 Albums of the Decade[aw] của Billboard ở hạng 36. Album đã bán được hơn 20 triệu bản toàn thế giới. Đĩa EP Collision Course hợp tác cùng Jay-Z trở thành đĩa EP thứ 2 từng đứng đầu trên Billboard 200, và sau đó bán được hơn 300.000 bản trong tuần đầu tiên, đĩa EP đầu tiên làm được điều tương tự là Jar of Flies của Alice in Chains năm 1994. Với album Minutes to Midnight, tại Mỹ nó đã thiết lập nên doanh số tuần đầu tiên kỷ lục trong năm 2007 lúc bấy giờ, với 625.000 album được bán.[258] Tại Canada, album đã bán được hơn 50.000 bản trong tuần đầu tiên và ra mắt ở hạng nhất trên Canadian Albums Chart[ax]. Trên toàn thế giới, album đã tiêu thụ hơn 3,3 triệu bản trong 4 tuần đầu tiên phát hành.[259]

Jon Caramanica thuộc The New York Times đã bình luận rằng Linkin Park "đã đem sự pha trộn giữa hard rock và hip-hop lên đỉnh cao thương mại và nghệ thuật mới" vào đầu thập niên 2000.[260] Vài nghệ sĩ nhạc rock cũng như không thuộc nhạc rock đã trích dẫn Linkin Park là tầm ảnh hưởng của họ, đó là: Proyecto Eskhata,[261] Of Mice & Men,[262] One Ok Rock,[263] Bishop Nehru,[264] Misono, From Ashes to New,[265] Bring Me the Horizon,[266] Coldrain,[267] Red, Girl on Fire, Manafest, Silentó,[268] 3OH!3,[269] The Prom Kings,[269] AJ Tracey,[270] Kiiara,[271] The Chainsmokers,[272] Kevin Rudolf,[269] Blackbear,[273] Amber Liu,[274] Tokio Hotel,[269] Stormzy[275]Imagine Dragons.[276]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Niên biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ trì[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng chủ trì[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nghệ sĩ Vĩ đại nhất của Thập kỷ
  2. ^ Ban nhạc rock lớn nhất toàn thế giới vào lúc này
  3. ^ 'Street team': tạm dịch là 'đội đường phố' là một thuật ngữ được sử dụng trong tiếp thị để mô tả một nhóm người 'xuống đường' để quảng cáo cho một sự kiện hoặc một sản phẩm. Ngành công nghiệp âm nhạc hiện đang chứng kiến một sự bùng nổ trong việc sử dụng các đội đường phố lớn để tiếp cận người hâm mộ và cải thiện doanh số bán hàng ở những khu vực nhỏ khó tiếp cận người hâm mộ quốc tế. 'Đội đường phố' trong ngữ cảnh này không xuống đường mà lại hoạt động trên mạng.
  4. ^ Công viên Lincoln
  5. ^ 100 Album bán chạy hàng đầu
  6. ^ Tổ chức Chiến sĩ Đặc vụ
  7. ^ 'kết hợp thể loại' (từ gốc tiếng Anh: genre-busting): từ dùng để mô tả việc kết hợp nhiều thể loại khác nhau trong một tác phẩm nghệ thuật như phim ảnh, âm nhạc. Ví dụ, đối với văn học, đó là việc kết hợp thể loại kinh dị với truyện trinh thám phương Tây hoặc khoa học viễn tưởng. Trong âm nhạc, thuật ngữ này có thể ám chỉ một bài hát kết hợp nhiều phong cách hoặc không thể phân loại.
  8. ^ Đài quan sát Griffith
  9. ^ Bảng xếp hạng tổng kết năm của Billboard
  10. ^ Nghệ sĩ xuất sắc của năm
  11. ^ 200 album hàng đầu của Billboard
  12. ^ Album nhạc rock của năm
  13. ^ Ca khúc nhạc rock của năm
  14. ^ Song ca hoặc Nhóm nhạc Xuất sắc
  15. ^ Album Rock Xuất sắc
  16. ^ Nghệ sĩ nhạc Rock Xuất sắc
  17. ^ Nghệ sĩ nhạc Alternative Xuất sắc
  18. ^ Ca khúc nhạc Alternative Xuất sắc
  19. ^ Album nhạc Alternative Xuất sắc
  20. ^ 200 nghệ sĩ xuất sắc của Billboard
  21. ^ Nghệ sĩ nhạc rock của năm
  22. ^ Nghệ sĩ sáng tác nhạc rock của năm
  23. ^ Album nhạc hard rock của năm
  24. ^ Ca khúc nhạc alternative của năm
  25. ^ Bảng xếp hạng Album Mỹ
  26. ^ Bài hát Xuất sắc trong một Trò chơi
  27. ^ viết tắt của Linkin Park Recharge
  28. ^ Bài hát nhạc rock phát sóng của Billboard Mỹ
  29. ^ Nhạc rock Thịnh hành
  30. ^ Nghệ sĩ nhạc Rock Xuất sắc nhất
  31. ^ Ban nhạc Rock Xuất sắc nhất
  32. ^ Nghệ sĩ Nhạc sống Xuất sắc nhất
  33. ^ Linkin Park và những người bạn: Trân trọng cuộc sống để tưởng nhớ Chester Bennington
  34. ^ viết tắt của Linkin Park
  35. ^ Thành tựu Âm nhạc Trọn đời
  36. ^ UCLA = University of California, Los Angeles = Đại học California, Los Angeles. Thành viên của Linkin Park, Brad Delson là cựu sinh viên của trường này.
  37. ^ Tải xuống để Quyên góp cho Haiti
  38. ^ Linkin Park với góp mặt của BẠN
  39. ^ Tải xuống để Quyên góp: Cứu trợ Sóng thần Nhật Bản
  40. ^ Music for Relief: Buổi hòa nhạc cho người Philippine
  41. ^ từ gốc tiếng Anh: Johnny-come-lately, có nghĩa là một kẻ mới đến, một tân binh, một lính mới, nhưng lại đạt được thành công so với những người kỳ cựu
  42. ^ Nghệ sĩ Xuất sắc nhất của Thập niên
  43. ^ Ban nhạc Rock lớn nhất toàn thế giới vào lúc này
  44. ^ 1001 Album Bạn Phải Nghe Trước Khi Chết
  45. ^ 200 Album Thịnh hành của Thập niên
  46. ^ Xuất sắc nhất năm 2001
  47. ^ 150 Album đứng đầu của Thế hệ
  48. ^ 50 Album nhạc Rock Xuất sắc nhất của Thập niên 2000
  49. ^ 200 Album Hay nhất của Thập niên
  50. ^ Bảng xếp hạng Album Canada

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e “Linkin Park – MusicMight Biography”. MusicMight.com. 20 tháng 3 năm 2007.
  2. ^ "Linkin Park's Chester Bennington Was A Rock Star At A Time When Rock Stars Were Rare". Hyden, Steven (July 20, 2017). 3 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  3. ^ “RIAA Record Sales”. Recording Industry Association of America. 13 tháng 6 năm 2007.
  4. ^ a ă “Chester Bennington, Linkin Park Singer, Dead at 41”. Rolling Stone. 18 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  5. ^ “Linkin Park's 'Meteora' shoots to the top”. Soundspike: Album Chart. 14 tháng 6 năm 2013.
  6. ^ “Linkin Park: The Inside Story Of Minutes To Midnight”. Kerrang!. 18 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  7. ^ “Linkin Park, Nickelback top decade's rock charts”. Reuters. 18 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  8. ^ a ă “Linkin Park Have Been Working On New Music”. Kerrang!. 28 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập 28 tháng 4 năm 2020.
  9. ^ “Gold & Platinum”. RIAA. 29 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019.
  10. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m “Linkin Park – Biography Archived”. AskMen.com. 20 tháng 3 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2013.
  11. ^ a ă "Everybody loves a success story". The LP Association. 7 tháng 8 năm 2007.
  12. ^ a ă â "Linkin Park — band history and biography". 23 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2018.
  13. ^ a ă â b c MusicMight.com, Linkin Park – MusicMight Biography Lưu trữ 2010-05-27 tại Wayback Machine Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017
  14. ^ Livedaily.com,“LiveDaily Interview: Linkin Park's Dave 'Phoenix' Farrell”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2018. Retrieved March 20, 2007
  15. ^ a ă â b “Band History”. Lptimes.com. 20 tháng 3 năm 2007.
  16. ^ "Linkin Park, Kerrang!". Kerrang!. 23 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2018.
  17. ^ Allen, Matt (25 tháng 7 năm 2017). “We made music to p--- our parents off': Linkin Park and Chester Bennington's career in pictures”. The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2019.
  18. ^ Saulmon, Greg (2006). “Linkin Park; Contemporary musicians and their music”. The Rosen Publishing Group. pp. 19–20. ISBN 978-1-4042-0713-4. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2009.
  19. ^ Turman, Katherine (20 tháng 7 năm 2017). “Chester Bennington and Linkin Park: A Musical Legacy of Darkness and Hope”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
  20. ^ “Linkin Park Wants Out Of Warner Bros. Contract”. Billboard. 3 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.
  21. ^ Hickie, James (24 tháng 10 năm 2019). “LINKIN PARK: THE INSIDE STORY OF HYBRID THEORY”. Kerrang. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2019.
  22. ^ a ă Shinoda, Mike (2 tháng 1 năm 2010). “My Linkin Park "Decade List". mikeshinoda.com. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2019.
  23. ^ “Dedication Ceremony for Park to Be Held Sunday”. Articles.latimes.com. 13 tháng 6 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  24. ^ Ragogna, Mike (25 tháng 7 năm 2012). “A Conversation With Linkin Park's Mike Shinoda, Plus Chatting With VideofyMe's Oskar Glauser and The Villains and Ben Arthur Exclusives”. The Huffington Post. AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2013.
  25. ^ a ă â b Buchanan, Brian (5 tháng 11 năm 2017). “Linkin Park Reveal Chester Bennington's Reaction When Label Wanted Mike Shinoda Fired”. Alternative Nation. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  26. ^ a ă â b Lach, Stef (14 tháng 7 năm 2016). “Linkin Park: Record label tried to get rid of Mike Shinoda”. Metal Hammer. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  27. ^ “Linkin Park – Hybrid Theory released October 24, 2000”. Rateyourmusic.com. 23 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2015.
  28. ^ “Linkin Park fansite — Album release date”. 23 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007.
  29. ^ Davis, Darren (7 tháng 1 năm 2002). “Grammy Noms Are Icing On The Cake”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  30. ^ “Linkin Park, P.O.D., Nickelback, More To Play LA's KROQ Fest”. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007.
  31. ^ “Interview with Adam Ruehmer”. Wretches And Kings. 2 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014.
  32. ^ “Linkin Park Underground – What is [LPU]?”. lpunderground.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  33. ^ Johnson, Billy, Jr. (24 tháng 6 năm 2002). “Linkin Park's 'Reanimation' Set For July 30”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  34. ^ Weiss, Neal; Johnson, Billy, Jr (24 tháng 6 năm 2002). “Linkin Park Remixes Chart With Number Two Debut”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  35. ^ “RIAA – Gold & Platinum – April 3, 2011”. Riaa.com. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  36. ^ Warner Bros. Records, DVD "The Making of Meteora" (2003), 25 tháng 3 năm 2003.
  37. ^ “Linkin Park Get Their Tempers Under Control To Complete New LP”. MTV.com. 10 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2009.
  38. ^ Davis, Darren (3 tháng 4 năm 2003). “Linkin Park 'Meteora' Debuts At Number One, Sets Aside Tix For Military”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  39. ^ “Linkin Park Says 'Faint' Is Equal To Other Songs”. Yahoo! Music. 19 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  40. ^ “Linkin Park Album Certified Triple Platinum”. Yahoo! Music. 6 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  41. ^ “Linkin Park: Biography”. VH1.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.
  42. ^ “Life goes on after Linkin Park :: 네이버 뉴스”. News.naver.com. 12 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012.
  43. ^ a ă “Linkin Park – Rap Music – Hot California Band”. 13 tháng 2 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  44. ^ Werde, Bill (2 tháng 6 năm 2005). “Linkin, Warner Feud Rages : Rolling Stone”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  45. ^ Kaufman, Gil (28 tháng 12 năm 2005). “Linkin Park Can Get Back To Making Music After Settling Label Dispute”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2018.
  46. ^ Moss, Corey (1 tháng 9 năm 2005). “Mike Shinoda Respects Jay-Z's Retirement, Says Linkin Park Not On Hiatus”. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  47. ^ Semansky, Matt (13 tháng 2 năm 2006). “Mike Shinoda's Fort Minor Rise To The Occasion”. Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2008.
  48. ^ “Machine Shop”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  49. ^ “Special Operations Warrior Foundation: News and Events Archive”. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  50. ^ Morningstar, Mary (31 tháng 12 năm 2004). “Linkin Park Launches Relief Fund for Tsunami Victims; Backstreet Boys to Release New Album”. Voice of America.
  51. ^ a ă “Live 8 Philadelphia 2005”. The Linkin Park Times. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2007.
  52. ^ “Jay-Z and Linkin Park to Mash-Up Onstage at the Grammys”. About.com. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007.
  53. ^ “Linkin Park, Fort Minor at Summer Sonic in Japan”. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  54. ^ “Mike Shinoda Says 'No New Linkin Park Album In 2006 After All”. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007.
  55. ^ “Mike Shinoda Says Linkin Park Halfway Done With New Album”. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007.
  56. ^ “Linkin Park Say Nu-Metal Sound Is 'Completely Gone' On Next LP”. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007.
  57. ^ “Fans Counting the 'Minutes' as Linkin Park Reveal Album Name and Release Date”. 6 tháng 3 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  58. ^ “Linkin Park Finish Apocalyptic Album, Revive Projekt Revolution Tour”. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007.
  59. ^ “Linkin Park Scores Year's Best Debut With 'Midnight'. Billboard.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2007.
  60. ^ “Video Static: Music Video News: March 25, 2007 – March 31, 2007”. tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  61. ^ “Linkin Park: Chart History”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  62. ^ “American Music Awards – Winners List”. ShowBuzz.com. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  63. ^ "We Made It" Music Charts (Canada)”. aCharts. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2008.
  64. ^ “Linkin Park, Local Stars Kickstart Live Earth Japan”. Billboard.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2007.
  65. ^ a ă “Linkin Park Plans Quick 'Midnight' Follow Up”. Billboard.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2008.
  66. ^ Christina Fuoco-Karasinski (12 tháng 5 năm 2008). “Chester Bennington Talks New Band Dead by Sunrise, Next Linkin Park Album : Rolling Stone : Rock and Roll Daily”. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  67. ^ Carle, Chris (22 tháng 5 năm 2009). “Linkin Park's Mike Shinoda”. IGN. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  68. ^ Harris, Chris (26 tháng 5 năm 2009). “Linkin Park Cooking Up Genre-Busting Album for 2010”. Rolling Stone Music. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  69. ^ Brownlow, Ron (7 tháng 7 năm 2009). “Pedal to the metal”. The Taipei Times. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  70. ^ Shinoda, Mike (24 tháng 4 năm 2009). “Transformers 2: New Linkin Park Song and Score”. MikeShinoda.com.
  71. ^ Sciretta, Peter (18 tháng 5 năm 2009). “Linkin Park's New Divide from Transformers 2”. SlashFilm.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2011.
  72. ^ “Linkin Park Hits 'Transformers: Revenge Of The Fallen' LA Premiere”. Access Hollywood. 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  73. ^ “Quick Post « Mike Shinoda's Blog”. Mikeshinoda.com. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2015.
  74. ^ Warmouth, Brian (31 tháng 3 năm 2010). 'LINKIN PARK 8-BIT REBELLION' BRINGING THE BAND ON TOUR TO IPHONES”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017.
  75. ^ “Linkin Park Official Tour Dates”. Linkinpark.com. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  76. ^ Stickler, Jon (15 tháng 6 năm 2010). “Linkin Park Announce Return To UK”. stereoboard. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2010.
  77. ^ “First 2010 Linkin Park Tour Dates”. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  78. ^ Shinoda, Mike (8 tháng 7 năm 2010). “NEW ALBUM, "A THOUSAND SUNS," OUT SEPTEMBER 14”. LinkinPark.com. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  79. ^ “BLABBERMOUTH.NET – Linkin Park: New Album Title, Release Date Announced”. Blabbermouth.net. Roadrunner Records. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010.
  80. ^ “Linkin Park to Release New Album, 'A Thousand Suns,' Sept. 14”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2010.
  81. ^ “Linkin Park, 'Waiting for the End' and 'Blackout' – New Songs”. 12 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
  82. ^ Montgomery, James (31 tháng 8 năm 2010). “Linkin Park Will Perform 'The Catalyst' At 2010 VMAs”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2010.
  83. ^ “Linkin Park's Surprise VMA Location: Story Behind Griffith Park Observatory”. 12 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
  84. ^ “Linkin Park Get Cosmic For VMA Performance”. 12 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
  85. ^ “Live Review Go Inside Linkin Park's Secret VMA Rehearsal!”. 31 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
  86. ^ "Waiting for the End" – Linkin Park Discography”. Linkinpark.com. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  87. ^ Montgomery, James (4 tháng 10 năm 2010). “Linkin Park's 'Waiting for the End' Video: Watch A Preview!”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
  88. ^ “Current Billboard Social 50”. Billboard. 29 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  89. ^ “Billboard Best of 2010 Top Artists”. Billboard. 31 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  90. ^ “Billboard Top 200 Year End”. Billboard. 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  91. ^ “Billboard 2010 Year-End Top Rock Songs”. Billboard. 31 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  92. ^ “Full list of 2011 Billboard Awards nominees”. Billboard. 23 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  93. ^ “Billboard Best of 2011 Top Artists”. Billboard. tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2011.
  94. ^ “Billboard Best of 2011 Billboard 200 Artists”. Billboard. 22 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  95. ^ “Billboard Best of 2011 Social 50”. Billboard. tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2011.
  96. ^ “Billboard Best of 2011 Top Rock Artists”. Billboard. tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2011.
  97. ^ “Billboard Best of 2011 Rock Songs Artists”. Billboard. 26 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  98. ^ “Billboard Best of 2011 Rock Albums Artists”. Billboard. 22 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  99. ^ “Billboard Best of 2011 Hard Rock Albums Artists”. Billboard. 22 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  100. ^ “Billboard Best of 2011 Alternative Songs Artists”. Billboard. 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  101. ^ Montgomery, James; WhiteWolf, Vanessa (2 tháng 9 năm 2011). “Linkin Park 'Getting The Wheels Rolling' On Next Album”. MTV.com. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2011. Đã bỏ qua tham số không rõ |lastauthoramp= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  102. ^ Shinoda, Mike (28 tháng 3 năm 2012). “Mike Shinoda tweet”. Twitter. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012.
  103. ^ “Video at Viddy.com: Mike Shinoda announces New Single "Burn It Down". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2012.
  104. ^ Farrell, Dave (27 tháng 3 năm 2012). “Dave "Phoenix" Farrell tweet”. Twitter. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  105. ^ Karpel, Ari (2 tháng 4 năm 2012). “Linkin Park's Mike Shinoda On Scoring "The Raid: Redemption," And How it Will Shape the Band's next album”. Co.Create. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012.
  106. ^ “Mike Shinoda reveals fifth album name”. 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012.
  107. ^ “Linkin Park: 'Our new record is far more personal'. NME.COM. NME.COM. 20 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  108. ^ “Linkin Park Score 'Abe Lincoln' End Credits”. Billboard.com. 14 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2012.
  109. ^ Martens, Todd (4 tháng 7 năm 2012). “Linkin Park has America's No. 1 album this Fourth of July”. Los Angeles Times. articles.latimes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013.
  110. ^ “Best Song in a Game | "Castle of Glass" by Linkin Park, "Cities" by Beck, "I Was Born for This" by Austin Wintory, "Tears" by Health | Video Game Awards 2012”. 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  111. ^ “Soundwave Sidewave Concerts”. tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2013.
  112. ^ “Linkin Park post info about LP Recharge and upcoming album”. Facebook. Linkin Park. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2013.
  113. ^ “RECHARGED track list:”. Facebook. Linkin Park. 13 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013.
  114. ^ Wiederhorn, Jon (16 tháng 8 năm 2013). “Linkin Park Continue Working on 'Mall' Soundtrack and New Studio Album”. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014.
  115. ^ Linkin Park's Mike Shinoda on Band's New Album trên YouTube
  116. ^ James, Montgomery (6 tháng 3 năm 2014). “Surprise! Linkin Park Drop New Single 'Guilty All The Same'. MTV.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014.
  117. ^ Gary, Trust (13 tháng 3 năm 2014). “Chart Highlights: One Direction, Katy Perry, U2 Score New No. 1s”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  118. ^ “Mainstream Rock Songs”. Billboard.com. 10 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014.
  119. ^ Joe, Bosso (19 tháng 3 năm 2014). “Brad Delson talks Linkin Park's upcoming, guitar-heavy new album”. Music Radar. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  120. ^ Kathy, Iandoli (18 tháng 3 năm 2014). “Mike Shinoda of Linkin Park Talks Rakim Collaboration, Says He's On The "Kendrick Got Robbed" Team From The Grammy's”. HipHop DX. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014.
  121. ^ “Mike Shinoda Says New Linkin Park Album Will Be Loud and Aggressive”. ABC News Radio. 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014.
  122. ^ Miriam, Coleman (1 tháng 6 năm 2014). “Linkin Park Unleash Apocalyptic New Track 'Wastelands'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014.
  123. ^ Hartmann, Graham (9 tháng 4 năm 2014). “Linkin Park Reveal Title, Art + Release Date for 2014 Album”. Loudwire.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014.
  124. ^ “LINKIN PARK Announced as Saturday Headliner”. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013.
  125. ^ “Linkin Park to headline Download 2014, playing Hybrid Theory in full”. GIGWISE.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  126. ^ “LINKIN PARK To Perform Entire 'Hybrid Theory' Album At U.K.'s DOWNLOAD Festival”. Blabbermouth.net. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
  127. ^ “Metallica, Kings Of Leon, Linkin Park for Rock Am Ring 2014”. GIGWISE.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  128. ^ “Rock am Ring 2014”. Songkick. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  129. ^ Fruehwirth, Basti. “Greenfield Festival: Intro”. Greenfieldfestival.ch. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  130. ^ Carter, Emily (23 tháng 6 năm 2014). “LINKIN PARK JOINED BY SPECIAL GUESTS AT VANS WARPED TOUR”. Kerrang!. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014.
  131. ^ Childers, Chad (20 tháng 1 năm 2015). “Linkin Park Call Off Remaining Tour Dates After Chester Bennington Leg Injury”. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  132. ^ “THE HUNTING PARTY TOUR – CANCELLED”. linkinpark.com. 20 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  133. ^ “Rock in Rio USA Day 2: Metallica Dominates With Raucous Headlining Set – Billboard”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2015.
  134. ^ Hussein, Samir (10 tháng 11 năm 2014). “MTV EMAs 2014: List of winners”. CBS News. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014.
  135. ^ Hartmann, Graham (3 tháng 2 năm 2015). “4th Annual Loudwire Music Awards”. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
  136. ^ “The 20 Best Albums of 2014”. Revolvermag.com. 24 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  137. ^ Oswald, Derek (4 tháng 5 năm 2015). "Darker Than Blood" A Quick Q&A With Mike Shinoda”. AltWire. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
  138. ^ Spitznagel, Eric (27 tháng 6 năm 2014). “36 Hours With Steve Aoki: 'I'm Really Bad At Taking Directions'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015.
  139. ^ “Steve Aoki ft. Linkin Park – Horizons (Live from Chicago Feb 28, 2015)”. YouTube. 1 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015.
  140. ^ wookubus (2 tháng 4 năm 2015). “Linkin Park And Steve Aoki Reunite For New Song "Darker Than Blood". ThePRP. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015.
  141. ^ “Linkin Park LIVE at BlizzCon® 2015!”. 20 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2015.
  142. ^ Weingarten, Christopher (20 tháng 1 năm 2016). “New Linkin Park LP Expected This Year”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016.
  143. ^ Childers, Chad (2 tháng 9 năm 2016). “Chester Bennington on Upcoming Linkin Park Album: 'The New Songs Are Amazing'. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017.
  144. ^ Wicks, Amanda (9 tháng 2 năm 2017). “Linkin Park Tease Lyrics for New Single”. KROQ. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  145. ^ “LINKIN PARK Is Trying To Make An Album With 'Stellar Songs'. Blabbermouth. 7 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017.
  146. ^ “Linkin Park's Mike Shinoda Talks 'Heavy' New Single & Hooking up With Kiiara”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2017.
  147. ^ “Linkin Park debuts new single, announces 7th album”. PanARMENIAN.Net. 17 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
  148. ^ Mench, Chris (13 tháng 2 năm 2017). “Linkin Park Premieres The Lyrics To New Single "Heavy" Featuring Kiiara”. Genius. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2017.
  149. ^ “Linkin Park – Heavy Lyrics”. Genius. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2017.
  150. ^ “LINKIN PARK Unveils New Album Art, 'Heavy' Single Lyrics”. Blabbermouth.net. 13 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017.
  151. ^ Blistein, Jon. “Linkin Park Preview New Album With Anthemic Song 'Heavy'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017.
  152. ^ “Linkin Park: One More Light. AllMusic Review by Neil Z. Yeung”. AllMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
  153. ^ Coscarelli, Joe (20 tháng 7 năm 2017). “Chester Bennington, Linkin Park Singer, Is Dead at 41”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017.
  154. ^ Cirisano, Tatiana. “Mike Shinoda 'Shocked & Heartbroken' by Death of Linkin Park Bandmate Chester Bennington”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017.
  155. ^ Rubin, Rebecca. “Linkin Park Releases New Music Video on the Morning of Chester Bennington's Death”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017.
  156. ^ Kreps, Daniel. “Linkin Park Cancel Tour After Chester Bennington's Death”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017.
  157. ^ “Dear Chester”. Linkin Park. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017.
  158. ^ Lasimone, Ashley (28 tháng 7 năm 2017). “Linkin Park's Mike Shinoda Writes Note to Fans One Week After Chester Bennington's Death”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.
  159. ^ a ă DiMeglio, y Mary J. “Chris Cornell's Daughter Performs Tribute to Dad, Linkin Park's Chester Bennington on 'GMA'. Hollywood Reporter. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.
  160. ^ Blistein, Jon (23 tháng 8 năm 2017). “Linkin Park Plan Public Event to Honor Chester Bennington”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.
  161. ^ Kreps, Daniel (18 tháng 9 năm 2017). “Linkin Park to Perform at Chester Bennington Tribute Concert”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017.
  162. ^ Eisinger, Dale (19 tháng 9 năm 2017). “Linkin Park's Mike Shinoda Says Rick Rubin Convinced the Band to Perform Again”. Spin. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  163. ^ Eisinger, Dale (19 tháng 9 năm 2017). “Linkin Park's Chester Bennington Tribute to Include Blink-182, Members of Korn, System of a Down”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017.
  164. ^ “LINKIN PARK DEBUT SOMBER NEW SONG 'LOOKING FOR AN ANSWER' AT CHESTER BENNINGTON TRIBUTE SHOW”. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2017.
  165. ^ “Linkin Park Announce New Live Album With Chester Bennington's Last Performances | Pitchfork”. pitchfork.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  166. ^ Aiello, McKenna (19 tháng 11 năm 2017). “Linkin Park Dedicates 2017 American Music Awards Win to Chester Bennington: Make Him Proud. E! Online. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.
  167. ^ David, Mark (10 tháng 10 năm 2019). “Linkin Park's Mike Shinoda Makes Off-Market Deal in Encino”. Variety (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2019. Chú thích có tham số trống không rõ: |8= (trợ giúp)
  168. ^ Buchanan, Brett (17 tháng 12 năm 2018). “Mike Shinoda Reacts To Idea Of Chester Bennington Hologram Joining Linkin Park”. Alternative Nation. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2018.
  169. ^ Maine, Samantha (28 tháng 1 năm 2018). “Mike Shinoda has given Linkin Park fans an update about the future of the band”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2018.
  170. ^ Mike Shinoda as told to Ilana Kaplan (29 tháng 3 năm 2018). “Linkin Park's Mike Shinoda on Life After Chester Bennington”. Vulture.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2019.
  171. ^ “Here Are All the Winners From the 2018 Billboard Music Awards”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018.
  172. ^ “Gershwin Award Winners”. UCLA Alumni. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2018.
  173. ^ “Mike Shinoda Open to Finding New Linkin Park Vocalist”. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2019.
  174. ^ “Linkin Park Celebrates 20th Anniversary of 'Hybrid Theory' With Special Reissue, Hear Previously Unreleased Track”. 12 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  175. ^ brownypaul (7 tháng 1 năm 2021). “Linkin Park Unleash (100 gecs Reanimation) Remix of 'One Step Closer'. Wall Of Sound (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2021.
  176. ^ “iTunes - Music - Not Alone - Single by Linkin Park”. iTunes. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  177. ^ a ă Simon Vozick-Levinson (11 tháng 2 năm 2010). “Linkin Park's stark Haiti video: Watch 'Not Alone' here”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  178. ^ a ă “Linkin Park Releases Video For 'Not Alone' From 'Download To Donate For Haiti' Compilation”. Blabbermouth. 11 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  179. ^ "The Catalyst," featuring Keaton Hashimoto, added to Download to Donate”. Linkinpark.com. 12 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  180. ^ "The Catalyst," featuring Keaton Hashimoto, added to Download to Donate”. Linkinpark.com. 12 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  181. ^ “T-Shirts Designed By Mike Shinoda To Benefit Tsunami Relief”. Musicforrelief.org. 14 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  182. ^ Kaufman, Gil (14 tháng 3 năm 2011). “Lady Gaga, Linkin Park Urge Fans To Help Japan Earthquake Victims”. MTV. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2011.
  183. ^ “Funds Raised For Japan Relief Effort To Support Save The Children”. Musicforrelief.org. 16 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  184. ^ Katie Parsons (23 tháng 3 năm 2011). “Linkin Park, Pendulum, Plain White T's for Japan charity album”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  185. ^ a ă â “Concert for the Philippines featuring Linkin Park @ Club Nokia – 01/11/2014”. SoCalMusicToday.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  186. ^ a ă â “[Setlist, Pictures & Video] Linkin Park Live in Los Angeles (Concert for the Philippines) – Mike Shinoda Clan”. Mike Shinoda Clan. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  187. ^ a ă â b Hyden, Steven (20 tháng 7 năm 2017). “Linkin Park's Chester Bennington Was A Rock Star At A Time When Rock Stars Were Rare”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
  188. ^ Ebrahim, Shaazia (21 tháng 7 năm 2017). “Five reasons Linkin Park's music matters”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
  189. ^ “28 Nu-Metal Era Bands You Probably Forgot All About”. Nme.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  190. ^ “The top 10 nü-metal bands of all time, ranked – Features – Alternative Press”. Altpress.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  191. ^ a ă â Wilson, MacKenzie. “allmusic ((( Linkin Park > Overview )))”. Allmusic. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  192. ^ a ă “Linkin Park, 'Living Things': Track-By-Track Review”. Billboard.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  193. ^ “Rap-Rock”. Rock.about.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  194. ^ a ă Caramanica, Jon (20 tháng 7 năm 2017). “Chester Bennington Brought Rock Ferocity to Linkin Park's Innovations”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
  195. ^ Freeman, Phil (21 tháng 7 năm 2017). “Against All Odds, Linkin Park Were America's Last Huge Rock Band”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
  196. ^ “Linkin Park's Mike Shinoda Says Band Never Identified With 'Nu-Metal'. Blabbermouth.net. 10 tháng 9 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  197. ^ “Linkin Park hits the X in January”. Star Tribune. 15 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013.
  198. ^ Fricke, David (14 tháng 3 năm 2002). “Linkin Park: David Fricke Talks to Chester Bennington About 'Hybrid Theory' Success”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
  199. ^ Dickison, Stephanie. “Linkin Park review at Popmatters”. Popmatters.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010.
  200. ^ a ă Spence D. (16 tháng 4 năm 2003). “Linkin Park review at IGN music”. Uk.music.ign.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010.
  201. ^ Unterberger, Andrew (10 tháng 9 năm 2004). “Top Ten Nu-Metal Bands”. Stylus magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.
  202. ^ Leahey, Andrew. “Linkin Park at Allmusic”. Allmusic.com. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010.
  203. ^ “The Impact And Legacy Of Linkin Park's Work – Metal Injection”. 25 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
  204. ^ Clare, Doug (25 tháng 7 năm 2017). “Linkin Park Changed The Culture Around Alternative Rock”. The Odyssey Online. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
  205. ^ “R.I.P. Chester Bennington, Linkin Park singer has died at age of 41”. 20 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
  206. ^ “Linkin Park Biography on Yahoo! Music”. 25 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  207. ^ Lynch, Joe (20 tháng 7 năm 2017). “Linkin Park's Landmark 'Hybrid Theory': Looking Back on the (Not So Nice) Reviews It Got In 2000”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  208. ^ Ruhlmann, William. Allmusic.com allmusic (((Hybrid Theory > Overview))):. Truy cập May 30, 2007
  209. ^ Walters, Barry (4 tháng 4 năm 2003). “Linkin Park: Meteora : Music Reviews : Rolling Stone”. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  210. ^ Powers, Ann (15 tháng 5 năm 2007). “Remember where you're from”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  211. ^ IGN, Linkin Park – Minutes To Midnight Lưu trữ 2017-07-12 tại Wayback Machine. Truy cập January 27, 2008.
  212. ^ Metacritic, Minutes To Midnight Lưu trữ 2017-09-02 tại Wayback Machine. Truy cập January 27, 2008.
  213. ^ “Linkin Park – A Thousand Suns”. Reflectionsofdarkness.com. 17 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012.
  214. ^ “Linkin Park – A Thousand Suns | Reviews”. Kill Your Stereo. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012.
  215. ^ Montgomery, James (6 tháng 9 năm 2010). “Linkin Park's A Thousand Suns: Kid A, All Grown Up?”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.
  216. ^ Kasko, Jordy (10 tháng 9 năm 2010). “Linkin Park – A Thousand Suns”. Review Rinse Repeat. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  217. ^ “Linkin Park pay homage to Public Enemy on new album”. NME. UK. 6 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  218. ^ Montgomery, James (1 tháng 9 năm 2010). “Linkin Park's A Thousand Suns: Kid A, All Grown Up?”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  219. ^ a ă Arielle Castillo (21 tháng 1 năm 2011). “Linkin Park Mix Ambient with Rage in Tour Opener”. SPIN. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2016.
  220. ^ Harrington, Jim (16 tháng 9 năm 2014). “Linkin Park gets back to hard-rock roots”. San Jose Mercury News. Digital First Media. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2016.
  221. ^ “9/10: Interview- Linkin Park get heavy on 'Hunting Party'. azcentral. 3 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2016.
  222. ^ Kasko, Jordy. “Linkin Park – A Thousand Suns Review”. Review Rinse Repeat. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  223. ^ Leah Greenblatt (16 tháng 9 năm 2010). “A Thousand Suns Review | Music Reviews and News”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2013.
  224. ^ McNamara, Colin (17 tháng 9 năm 2010). “Linkin Park – A Thousand Suns”. Reflections of Darkness. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012.
  225. ^ Vander Weit, Kari (1 tháng 10 năm 2010). “Linkin Park: A Thousand Suns”. theaquarian.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2016.
  226. ^ Morgan, Adam (16 tháng 7 năm 2012). “Linkin Park: Living Things”. Surviving the Golden Age. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. Gone are the prototypical emo-rock of Minutes to Midnight and the prog-rock of A Thousand Suns.
  227. ^ Sergio PereiraMore Posts – Website. “Review: Linkin Park – LIVING THINGS”. MusicReview. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013.
  228. ^ “Linkin Park: 'Our last album was bonkers'. NME.COM. NME.COM. 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  229. ^ a ă “Linkin Park gets back to hard-rock roots”. Mercurynews. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018.
  230. ^ “New Linkin Park LP Expected This Year”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  231. ^ Roffman, Michael (19 tháng 6 năm 2014). “Linkin Park – The Hunting Party | Album Reviews”. Consequence of Sound. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2014.
  232. ^ Gary Clarke (30 tháng 6 năm 2014). “Linkin Park – The Hunting Party”. Screamer. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2020.
  233. ^ Childers, Chad. “Linkin Park, 'The Hunting Party' – Album review”. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014.
  234. ^ Schulz, Chris. “Album review: Linkin Park, The Hunting Party”. The New Zealand Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014.
  235. ^ “CD review: Color It Red, Linkin Park return”. Abs-Cbn Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018.
  236. ^ “Linkin Park – One More Light (review)”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017.
  237. ^ “Linkin Park goes 'Pop'. Newsday. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017.
  238. ^ “Come back, nu-metal, all is forgiven: Linkin Park go soft”. Irishtimes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017.
  239. ^ “[Album Review] Linkin Park – One More Light – Heavy Music & Film Magazine”. heavymag.com.au. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017.
  240. ^ “Linkin Park, One More Light Review”. Theartsdesk.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
  241. ^ Oswald, Derek (12 tháng 3 năm 2015). “Behind The Artist Playlist: Music That Influenced Chester Bennington”. Altwire. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  242. ^ “A Conversation with Mike Shinoda of Linkin Park on "Genre-less" Music”. Hypebeast. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2020.
  243. ^ Shaw, Phil (25 tháng 7 năm 2017). “Chester Bennington: Lead singer of Linkin Park remembered”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
  244. ^ Linkin Park's Brad Delson talks One More Light: 'There really is a ton of guitar on this album' Lưu trữ 2017-10-09 tại Archive.today MusicRadar April 3, 2017. Truy cập May 9, 2017.
  245. ^ “Gold & Platinum”. RIAA. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  246. ^ Music's Top 40 Money Makers 2012 Lưu trữ 2017-09-20 tại Wayback Machine Billboard
  247. ^ “Artist Records”. Popradiotop20.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017.
  248. ^ Negri, Andrea (10 tháng 10 năm 2003). “22 greatest bands? Something 2 argue about”. Houston Chronicle.
  249. ^ Billboard Artists Of The Decade, [1] Lưu trữ 2012-07-10 tại Wayback Machine. Truy cập August 15, 2011.
  250. ^ “BRACKET MADNESS: Linkin Park Is The Greatest Artist Of The 00s”. 6 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017.
  251. ^ Emily The 60 Biggest Rock Band in the World Right Now Kerrang! October 5, 2014. Truy cập August 29, 2014.
  252. ^ Linkin Park Are the 'Biggest Rock Band in the World Right Now' Lưu trữ 2017-07-10 tại Wayback Machine Ultimate Guitar August 28, 2014. Truy cập October 20, 2014.
  253. ^ "In the End" and "Final Masquerade" have made it to the top of Kerrang!'s Rock 100 list Lưu trữ 2020-11-21 tại Wayback Machine Facebook April 15, 2015.
  254. ^ Hamill, Jasper (21 tháng 9 năm 2012). “Linkin Park: 1 Billion on YouTube – 1 Big Issue columnist”. The Big Issue. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012.
  255. ^ Linkin Park – Likes Lưu trữ 2020-11-21 tại Wayback Machine. Facebook. Truy cập September 24, 2014.
  256. ^ Eminem's 'Lose Yourself' Is The 'Most Timeless' Song According To Spotify Playlist Design & Trend. August 26, 2015. Truy cập September 7, 2015.
  257. ^ “Best of the 2000s: Billboard 200 Albums”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015.
  258. ^ “Linkin Park Scores Year's Best Debut With 'Midnight'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
  259. ^ “Linkin Park Goes Platinum”. IGN. 20 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.
  260. ^ Caramanica, Jon (20 tháng 7 năm 2017). “Chester Bennington Brought Rock Ferocity to Linkin Park's Innovations”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017.
  261. ^ “Biografía Samuel Barranco – XpresidentX Grupo Rap Metal Punk desde la Moncloa (Madrid)”. Xpresidentx.es. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  262. ^ OF MICE & MEN's AUSTIN CARLILE Calls PANTERA 'My Dad's Music', Says LINKIN PARK Was His Band Lưu trữ 2017-09-20 tại Wayback Machine Blabbermouth
  263. ^ “Japanese Rock Band Goes English”. Learningenglish.voanews.com. 8 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
  264. ^ Bishop Nehru Premieres 'Nehruvia: The Nehruvian' EP, Talks Stephen Curry & Advice from Nas Lưu trữ 2017-09-21 tại Wayback Machine Billboard May 11, 2015. Truy cập May 23, 2015.
  265. ^ Curt Miller (11 tháng 7 năm 2015). “The Mythical Phoenix Fully Embodied: An Exclusive Interview With FROM ASHES TO NEW”. KNAC.COM. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2020.
  266. ^ Bring Me The Horizon: 'It's Nice to Know That Everyone's As Messed Up As You' Lưu trữ tháng 10 15, 2015 tại Wayback Machine CBS Radio September 25, 2015 . Truy cập October 23, 2015.
  267. ^ “Linkin Park Japan”. Facebook.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2020.
  268. ^ Find Out who inspires the godfathers of Hip Hop Euroweb. September 6, 2015. Truy cập September 7, 2015.
  269. ^ a ă â b Linkin Park – followers Lưu trữ 2016-10-16 tại Wayback Machine MTV
  270. ^ “Bet You Didn't Think AJ Tracey Was A Linkin Park Fan...”. Mtv.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  271. ^ Conan Geisler Eigenmann Eminem, Yelawolf, Linkin Park influenced me: 'Gold' singer Kiiara Lưu trữ 2016-10-06 tại Wayback Machine Yibada July 21, 2016. Truy cập July 30, 2016.
  272. ^ Kat Bein 10 Highlights From The Chainsmokers' Reddit AMA Lưu trữ 2020-08-20 tại Wayback Machine Billboard. September 1, 2017. Truy cập September 7, 2017.
  273. ^ Producer blackbear thinks "One More Light" is Linkin Park's "best album" – Music News Lưu trữ 2017-03-28 tại Wayback Machine ABC News Radio.
  274. ^ Brown, August (30 tháng 11 năm 2018). “Amber Liu's show of strength: The K-pop star goes solo, with designs on U.S. stardom”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019.
  275. ^ Stormzy Thinks Linkin Park are Legends Twitter
  276. ^ Imagine Dragons on Twitter about Linkin Park Lưu trữ 2020-11-21 tại Wayback Machine Twitter
  277. ^ a ă “Mike Q&A Summary 7/9/2020”. Linkin Park Live. 11 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
  278. ^ a ă Childers, Chad (24 tháng 10 năm 2019). “19 Years Ago: Linkin Park Unleash 'Hybrid Theory'. Loudwire. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.

Ấn phẩm được trích dẫn

  • Saulmon, Greg. Linkin Park. Contemporary Musicians and Their Music. New York: Rosen Pub. Group, 2007. ISBN 1-4042-0713-9.
  • Baltin, Steve. From The Inside: Linkin Park's Meteora. California: Bradson Press, 2004. ISBN 0-9603574-1-6.
  • Blue, Jeff. One Step Closer: From Xero to #1: Becoming Linkin Park. Tennessee: Permuted Press, 2020. ISBN 9781682619674.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]