Lisa (ca sĩ Thái Lan)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lisa
20190106 (NEWSEN) 블랙핑크(BLACKPINK), 수줍은 많은 소녀지만 돋보이는 아름다운 미모 (Golden Disc Awards 2019) (8).jpg
Lisa tại lễ trao giải Golden Disc Awards vào ngày 5 tháng 1 năm 2019 tại Seoul, Hàn Quốc.
Tên bản ngữปราณปรียา มโนบาล
SinhPranpriya Manoban
27 tháng 3, 1997 (22 tuổi)
Buriram,  Thái Lan
Nơi cư trúSeoul,  Hàn Quốc
Tên khácPranpriya Manoban
Tư cách công dân Thái Lan
Học vịKorea Kent Foreign School
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2016-nay
Quê quánBăng Cốc, Thái Lan
Chiều cao166 cm (5 ft 5 in)
Cân nặng45 kg (99 lb)
Cha mẹ
  • Marco Brueschweiler (cha)
  • Chitthip Brueschweiler (mẹ)
Trang webwww.instagram.com/lalalalisa_m/
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danhLisa
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2016–nay
Hãng đĩa
Hợp tác vớiBlack Pink
Tên tiếng Hàn
Hangul라리사 마노반
Hanja拉莉莎‧馬諾芭
Romaja quốc ngữLalisa Manoban
McCune–ReischauerLaisa Manoban
Hán-ViệtLạp Lệ Sa Mã Nặc Ba
Tên khai sinh
Hangul매춘부 마노반
Hanja妓女馬諾麵包車
Romaja quốc ngữPranpriya Manoban
McCune–ReischauerPanpiya Manoban
Chữ ký
Signature of Lisa.png

Pranpriya Manoban (tiếng Thái: ปราณปรียา มโนบาล, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1997), sau này cô đổi tên hợp pháp thành Lalisa Manoban (tiếng Thái: ลลิสา มโนบาล; Hangul라리사 마노반; Kana: ラリサ·マノバン)[1], thường được biết đến với nghệ danh Lisa (Hangul리사) là một nữ ca sĩ thần tượng, vũ công, rapper tài năng người Thái Lan hoạt động tại Hàn Quốc. Là thành viên nhỏ tuổi nhất, cô ra mắt với vai trò main dancer và lead rapper của nhóm nhạc nữ BlackPink do YG Entertainment thành lập và quản lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lisa sinh ngày 27 tháng 3 năm 1997 tại Buriram, Thái Lan.[2][3] Tên lúc khai sinh của cô là Pranpriya Manoban (ปราณปรียา ลลิสา มโนบาล) nhưng sau đó gia đình của cô đã đổi tên cô thành Lalisa Manoban. Nhưng trong passport của cô lại là Lalisa Manoban Cô thông thạo 4 ngôn ngữ: tiếng Thái, tiếng Hàn, tiếng Anhtiếng Nhật.

Gia đình Lisa gồm có ba người: bố dượng, mẹ và Lisa. Bố dượng Lisa là đầu bếp người Thụy Sĩ nổi tiếng hàng đầu thế giới, thắng cuộc thi đầu bếp toàn cầu, có nhiều nhà hàng và lớp dạy nấu ăn. Hiện bố ruột của Lisa vẫn là một bí ẩn đối với người hâm mộ.

Cô trở thành thực tập sinh của YG vào tháng 4 năm 2011 thông qua buổi thử giọng đầu tiên năm 2010 của công ty tại Thái Lan và cô là người duy nhất vượt qua hơn 4000 thí sinh tại Thái Lan để chính thức trở thành thực tập sinh dưới trướng YG Entertainment,[4] và là người duy nhất được nhận trong buổi thử giọng này.

Cô nhiều lần lọt vào các bảng xếp hạng về sắc đẹp. Cô được công chúng ca ngợi về thân hình tỉ lệ đẹp. Nhờ tài năng vượt trội như nhảy tốt, rap tốt và khả năng ca hát ổn định nên Lisa là "cây hút fan quốc tế" của Blackpink. Lisa là thành viên được chú ý trên mạng xã hội nhất nhóm với instagram nhiều lượng theo dõi nhất làng giải trí Hàn Quốc.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Lisa từng là thành viên của nhóm nhảy "We Zaa Cool" tại Thái Lan cùng với Bambam (GOT7).[5]

Cô cộng tác với NONA9ON CF (2014-2015).

Cô cũng xuất hiện trong MV  ‘'Ringa Linga'’ của Taeyang (Big Bang).

Lisa được biết đến với đoạn video "Who's that girl?" mà YG đăng trên Youtube vào năm 2012[6]

2016: Ra mắt với Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Black Pink

Sau hơn 5 năm thực tập, ngày 8 tháng 6, hình ảnh của thành viên Lisa, một cô nàng bí ẩn gây nhiều ấn tượng với những video được đăng tải trên kênh Youtube của công ty[7]. Cô là thành viên thứ hai của BlackPink ra mắt công chúng. Lisa cũng là thành viên ngoại quốc đầu tiên trong lịch sử nhà YG và được biết đến là người duy nhất giành chiến thắng trong cuộc thi YG Audition tại Thái Lan vào năm 2010.[8]

Ngày 8 tháng 8 năm 2016, cô chính thức ra mắt với Black Pink trong 2 MV "BoomBayAh" và "Whistle" nằm trong đĩa đơn Square One vô cùng thành công. Tiếp đó là đĩa đơn Square Two với 2 ca khúc "Playing With Fire" và "Stay".Cô cùng Rosé là hai thành viên nhỏ tuổi nhất nhóm. Lisa đảm nhận vai trò main dance, lead rap và maknae. Ngoài ra cô cũng sở hữu vocal ấn tượng. Năm 2016, cô và thành viên cùng nhóm, Jennie cùng góp mặt trong danh sách 100 gương mặt đẹp nhất thế giới, chỉ sau 4 tháng ra mắt.


2017: Ra mắt đĩa đơn "As If It's Your Last"[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 18:00 (KST) ngày 22 tháng 6 năm 2017, cô cùng Black Pink chính thức tung ra ca khúc "As If It's Your Last" và MV cùng tên sau 7 tháng vắng bóng.

2018: Ra mắt Mini Album "Square Up" cùng Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Lisa tiếp tục cùng Black Pink cho ra mắt Mini Album đầu tiên mang tên Square Up gồm bài hát chủ đề "Ddu Du Ddu Du" và 3 bài hát "Forever Young", "Really" và "See U Later''.

Sau đó không lâu, Lisa thành lập InstagramYoutube. Cả 2 trang mạng xã hội của cô đều đạt lượng follow lớn

2019: Kill This Love, World tour, Coachella 2019[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 0h (KST) ngày 5 tháng 4 năm 2019, Lisa cùng Black Pink ra mắt Mini Album thứ 2 - Kill This Love gồm bài chủ đề cùng tên và 4 bài hát "Don't know what to do", "Kick It", "Hope Not" và "DDU-DU DDU-DU Remix".

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2019, Lisa chính thức trở thành nàng thơ của Céline-một thương hiệu thời trang xa xỉ của đất nước Pháp.

Tháng 3 năm 2019, Lisa trở thành đại sứ cho hãng truyền thông hàng đầu AIS tại Thái Lan.

Tháng 5 năm 2019, Lisa được công bố là đại diện cho dòng điện thoại Samsung Galaxy S10 tại Thái Lan.

Bảng xếp hạng sắc đẹp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Danh sách Tạo bởi Thứ hạng
2016 The 100 Most Beautiful Faces Of 2016 TC Candler 41
2017 The 100 Most Beautiful Faces Of 2016 TC Candler15
Fashion Face Award 2017 I-Magazine 11
The 100 Most Beautiful Faces Of Kpop 2017 We Share! Fakta Kpop 92
2018 The 100 Most Beautiful Faces Of 2016 TC Candler 9
Fashion Face Award 2018 I-Magazine 14
The 100 Most Beautiful Asia Faces Of 2018 TCCAsia 1
The 100 Most Beautiful Faces Of Kpop 2017 We Share! Fakta Kpop 15

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Ghi Chú
YoutubeBLACKPINK HOUSE
Vlive
JTBC2
Olleh TV
2017 Onstyle AttractionTV (LisaTV)
2018 Vlive BLACKPINK X STAR ROAD Với BLACKPINK
2019 Youtube Blackpink Diaries
Vlive

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ngày phát sóng Ghi Chú
2016 MBC Every 1 Weekly Idol Khách mời 16 tháng 11 Tập 277 (với BLACKPINK)
SBS Running Man 18 tháng 12 Tập 330 (với BLACKPINK)
2017 Onstyle Get It Beauty 26 tháng 2 Tập 2 (với BLACKPINK)
MBC My Little Television 20 tháng 5 - 27 tháng 5 Tập 98-99 (với BLACKPINK)
MBC Every 1 Weekly Idol 5 tháng 7 Tập 310 (với BLACKPINK)
JTBC Knowing Bros 5 tháng 8 Tập 87 (với BLACKPINK)
SBS JYP's Party People 13 tháng 8 Tập 4 (với BLACKPINKJung Yong-hwa)
2018 JTBC Idol Room 23 tháng 6 Tập 7 (với BLACKPINK)
SBS My Ugly Duckling 22 tháng 7 với BLACKPINKSeungri (BigBang)
MBC Real Men 300 21 tháng 9 - 2 tháng 11 Tập 1 - 6
JTBC YG Treasure Box Giám khảo 7 - 14 tháng 12 Tập 4 - 5 (với BLACKPINK)
2019 Stage K 02 tháng 06 Tập 8 (với BLACKPINK)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BLACK PINK個人資料更正 帶你更了解她們!” (bằng tiếng Trung). 愛豆. Ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Hui-ling, Chew (ngày 28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna, biên tập. “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (Singapore: Key Editions Pte Ltd) (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ Mi-hyun, Lee (ngày 8 tháng 8 năm 2016). “[블랙핑크 데뷔②] 블랙핑크 입덕 준비 끝…괴물 신인 스포일러”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). South Korea: JTBC Plus. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ “[REPLAY] BLACKPINK: DEBUT SHOWCASE”. Ngày 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ Lee Min-hyun (ngày 8 tháng 6 năm 2016). “YG 걸그룹 두번째 멤버는 리사…연습생 5년차 유종의 미” [YG girl group reveals second member Lisa... 5-year trainee]. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2016. 
  6. ^ “Lisa thể hiện đẳng cấp cỗ máy nhảy cover vũ đạo Red Velvet và TWICE”. 
  7. ^ kokoberry (9 tháng 6 năm 2016). “Watch: YG Reminds Fans Of Video Featuring New Girl Group Member Lisa”. Soompi. Truy cập 8 tháng 8 năm 2016. 
  8. ^ Kim Yu-young (ngày 9 tháng 8 năm 2016). “YG Entertainment unveils K-pop group BLACKPINK”. The Korea Herald. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]