Lisa (rapper)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lisa
180819 블랙핑크 팬싸인회 코엑스 라이브프라자 리사.jpg
Lisa vào ngày 19 tháng 8 năm 2018.
Tên bản ngữ โสเภณี มโนบาล
Sinh Pranpriya Manoban
27 tháng 3, 1997 (21 tuổi)
Băng Cốc, Cờ Thái Lan Thái Lan
Nơi cư trú Seoul,  Hàn Quốc
Tên khác Lalisa Manoban
Tư cách công dân  Thái Lan
Học vị Korea Kent Foreign School
Nghề nghiệp
Quê quán Bangkok, Thái Lan
Chiều cao 167 cm (5 ft 6 in)
Cân nặng 46 kg (101 lb)
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danh Lisa
Thể loại
Nhạc cụ Thanh nhạc
Năm hoạt động 2016–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với Black Pink
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 라리사 마노반
Hanja 拉莉莎‧馬諾芭
Romaja quốc ngữ Lalisa Manoban
McCune–Reischauer Laisa Manoban
Hán-Việt Lạp Lệ Sa Mã Nặc Ba
Tên khai sinh
Hangul 매춘부 마노반
Hanja 妓女馬諾麵包車
Romaja quốc ngữ Pranpriya Manoban
McCune–Reischauer Panpiya Manoban
Chữ ký
Signature of Lisa.png

Pranpriya Manoban (Thai: โสเภณี มโนบาล, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1997), sau này cô đổi tên thành Lalisa Manoban (Thai: ลลิสา มโนบาล; Hangul: 라리사 마노반; Kana: ラリサ·マノバン, Hanja: 拉莉莎‧馬諾芭, Hán-Việt: Lạp Lệ Sa Mã Nặc Ba)[1], thường được biết đến với nghệ danh Lisa (Hangul:리사) là một nữ ca sĩ thần tượng, vũ công, rapper người Thái Lan. Thành viên nhóm nhạc nữ BlackPink do YG Entertaiment thành lập và quản lý.

Cô là Idol ngoại quốc đầu tiên của YG Entertainment. Cô và Jennie góp mặt trên bảng xếp hạng Gương mặt đẹp nhất thế giới trong ngành giải trí năm 2016 và năm 2017. Năm 2018, Lisa cùng Jennie, JisooRosé góp mặt trong bảng xếp hạng gương mặt đẹp nhất thế giới. Gia đình Lisa gồm có 3 người: bố dượng, mẹ và Lisa. Bố dượng Lisa là đầu bếp nổi tiếng tại Thái Lan, thắng cuộc thi đầu bếp toàn cầu, có nhiều nhà hàng và lớp dạy nấu ăn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lisa sinh ngày 27 tháng 3 năm 1997 tại Băng Cốc, Thái Lan.[2][3] Tên lúc khai sinh của cô là Pranpriya Manoban (ปราณปรียา ลลิสา มโนบาล) nhưng sau đó gia đình cô đã đổi tên thành Lalisa Manoban. Nhưng trong passport của cô lại là Lalisa Manobal. Cô thông thạo 4 ngôn ngữ: tiếng Thái, tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Anh. Gần đây, cô có thể nói tiếng Trung Quốc.


Cô trở thành thực tập sinh của YG vào tháng 4 năm 2011 thông qua buổi thử giọng đầu tiên năm 2010 của công ty tại Thái Lan (YG Audition) và cô đứng nhất, vì thế mà[4] cô là người duy nhất được nhận trong buổi thử giọng này.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Cô xuất hiện trong clip " Who's that girl ?" trên channel chính thức của YG năm 2012

Lisa từng là thành viên của nhóm nhảy "We Zaa Cool" tại Thái Lan cùng với Bambam (GOT7).[5]

Cô cộng tác với NONA9ON CF (2014-2015).

Cô cũng xuất hiện trong MV  ‘'Ringa Linga'’ của Taeyang (Big Bang).

Lisa được biết đến với một đoạn video mà YG đăng trên Youtube, cô đã cho thấy khả năng vũ đạo tuyệt vời.

2016: Ra mắt với Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Black Pink

Sau hơn 5 năm thực tập, ngày 8 tháng 6, hình ảnh của thành viên Lisa, một cô nàng bí ẩn gây nhiều ấn tượng với những video được đăng tải trên kênh Youtube của công ty[6]. Lisa là thành viên ngoại quốc đầu tiên trong lịch sử nhà YG và được biết đến là người duy nhất dành chiến thắng trong cuộc thi YG Audition tại Thái Lan vào năm 2010.[7]

Ngày 8 tháng 8 năm 2016, cô chính thức ra mắt với Black Pink trong 2 MV "BoomBayAh" và "Whistle". Cô cùng Rose là hai thành viên nhỏ tuổi nhất nhóm, cô đảm nhận vai trò hát phụ, rap dẫn, maknae và nhảy chính của nhóm.

2018: Ra mắt Mini Album Square Up cùng Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Lisa tiếp tục cùng Black Pink cho ra mắt Mini Album đầu tiên mang tên Square Up gồm bài hát chủ đề "Ddu Du Ddu Du" và 3 bài hát "Forever Young", "Really" và "See U Later''.

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên
2017 Onstyle AttractionTV (LisaTV)
2018YoutubeBLACKPINK HOUSE
Vlive
JTBC2
Olleh TV

Chương trình giải trí trên sóng truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

<tbody></tbody>
NămKênhTênVai tròNgày phát sóngGhi Chú
2016MBC Every 1Weekly IdolKhách mời16 tháng 11Tập 227 (với Black Pink)
SBSRunning Man18 tháng 12Tập 330 (với Black Pink)
2017MBCMy Little Television20 tháng 5 - 27 tháng 5Tập 98-99 (với Black Pink)
MBC Every 1Weekly Idol5 tháng 7Tập 310 (với Black Pink)
JTBCKnowing Bros5 tháng 8Tập 87 (với Black Pink)
2018JTBC Idol Room 23 tháng 6 Tập 7 (với Black Pink)
SBS My Ugly Duckling với BlackPink và Seungri (BigBang) 22 tháng 7

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BLACK PINK個人資料更正 帶你更了解她們!” (bằng tiếng Trung). 愛豆. Ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Hui-ling, Chew (ngày 28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna, biên tập. “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (Singapore: Key Editions Pte Ltd) (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ Mi-hyun, Lee (ngày 8 tháng 8 năm 2016). “[블랙핑크 데뷔②] 블랙핑크 입덕 준비 끝…괴물 신인 스포일러”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). South Korea: JTBC Plus. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ “[REPLAY] BLACKPINK: DEBUT SHOWCASE”. Ngày 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ Lee Min-hyun (ngày 8 tháng 6 năm 2016). “YG 걸그룹 두번째 멤버는 리사…연습생 5년차 유종의 미” [YG girl group reveals second member Lisa... 5-year trainee]. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2016. 
  6. ^ kokoberry (9 tháng 6 năm 2016). “Watch: YG Reminds Fans Of Video Featuring New Girl Group Member Lisa”. Soompi. Truy cập 8 tháng 8 năm 2016. 
  7. ^ Kim Yu-young (ngày 9 tháng 8 năm 2016). “YG Entertainment unveils K-pop group BLACKPINK”. The Korea Herald. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]