Luna 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Luna 3
Lunik 3.jpg
Dạng nhiệm vụBay qua Mặt Trăng
Nhà đầu tưOKB-1
Định danh Harvard1959 Theta 1
COSPAR ID1959-008A
SATCAT №21
Quỹ đạo đã hoàn thành14
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Thiết bị vũ trụYe-2A No.1
Nhà sản xuấtOKB-1
Trọng lượng phóng278,5 kilôgam (614 lb)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng4 October 1959, 00:43:39 (1959-10-04UTC00:43:39Z)  UTC[1]
Tên lửaLuna (rocket)
Địa điểm phóngSân bay vũ trụ Baykonur Gagarin's Start
Kết thúc nhiệm vụ
Lần liên lạc cuối22 October 1959 (22 October 1959)
Ngày kết thúc29 tháng 4 năm 1960
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuGeocentric orbit
Chế độHighly elliptical orbit
(Circumlunar trajectory)
Bán trục lớn256.620,50 kilômét (159.456,59 mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Độ lệch tâm quỹ đạo0.97322501
Củng điểm quỹ đạo500 kilômét (310 mi)
Củng điểm quỹ đạo499.999 kilômét (310.685 mi)
Độ nghiêng quỹ đạo55 độ
Chu kỳ quỹ đạo359.38 giờ
Kỷ nguyên5 tháng 10 năm 1959[2]
Bay ngang qua the Mặt Trăng
Tiếp cận gần nhất6 October 1959, 14:16 UTC
Khoảng cách6.200 kilômét (3.900 mi)

Luna 3, hay E-2A No.1 là một tàu vũ trụ của Liên Xô được phóng vào năm 1959 như là một phần của chương trình Luna. Đây là nhiệm vụ đầu tiên chụp ảnh nửa không nhìn thấy được của Mặt Trăng và là tàu thăm dò không gian của Liên Xô thứ ba được gửi đến vùng lân cận Mặt Trăng.[3] Mặc dù nó gửi lại hình ảnh khá nghèo nàn theo các tiêu chuẩn sau này, nhưng xét theo quan điểm lịch sử, các hình ảnh của nửa không nhìn thấy được của Mặt Trăng đã gây hứng thú lớn khi chúng được xuất bản trên khắp thế giới, và một bản đồ dự kiến ​​của nửa này của Mặt Trăng đã được tạo ra sau khi xử lý ảnh được cải thiện.

Những hình ảnh này cho thấy nửa kia của Mặt Trăng có địa hình đồi núi, rất khác nhau so với nửa mặt trước, và chỉ có hai khu vực tối, thấp, được đặt tên là Mare Moscoviense (Biển Moscow) và Mare Desiderii (Sea of ​​Desire). Mare Desiderii sau đó được khám phá bao gồm một biển nhỏ hơn, Mare Ingenii (Biển của sự khéo léo), và một số hố đen khác. Lý do cho sự khác biệt này giữa hai mặt của Mặt Trăng vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng có vẻ như hầu hết các dung nham đen chảy ra để tạo ra các biển hình thành ở nửa Mặt Trăng hướng về Trái đất.[4]

Sau Luna 3, các phi thuyền Ranger 7, Ranger 8Ranger 9 của Hoa Kỳ cũng đã thực hiện quan sát nửa kia của Mặt Trăng.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ McDowell, Jonathan. “Launch Log”. Jonathan's Space Page. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  2. ^ McDowell, Jonathan. “Satellite Catalog”. Jonathan's Space Page. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ Harvey, Brian (2011). Russian space probes : scientific discoveries and future missions. New York: Springer. tr. 158. ISBN 978-1-4419-8150-9. 
  4. ^ a ă “Exploring the Moon – The first robot explorers”. Ianridpath.com. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]