Luzon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Luzon
Đảo chính Luzon được tô màu đỏ;
các đảo liên hệ được tô màu nâu sẫm
Luzon trên bản đồ Philippines
Luzon
Luzon
Vị trí tại Philippines
Địa lý
Vị trí Đông Nam Á
Quần đảo Philippines
Đảo chính
Diện tích 109.965 km2 (42.457,7 mi2)[1]
Hạng diện tích 15
Đường bờ biển 3.249,6 km (20.192,1 mi)[1]
Độ cao tương đối lớn nhất 2.922 m (9.587 ft)
Đỉnh cao nhất Núi Pulag
Hành chính
Philippines
Các vùng
Các tỉnh
Thành phố lớn nhất Thành phố Quezon (2936116 [2] dân)
Nhân khẩu học
Demonym Luzonian (modern), Luzonese (contemporary), Luções (archaic)
Dân số 53336134[a] (tính đến 2015)
Mật độ 490 /km2 (1.270 /sq mi)
Dân tộc

Luzon (phát âm tiếng Anh: /luːˈzɒn/; Tagalog: [luˈson]) là đảo lớn nhất và đông dân nhất của Philippines. Đây là đảo có diện tích lớn thứ 15 trên thế giới. Luzon nằm tại phía bắc của quần đảo Philippines, là trung tâm kinh tế và chính trị của đảo quốc này, và có thủ đô Manila. Dân số Luzon đạt 53 triệu người tính đến năm 2015,[2] là đảo đông dân thứ tư trên thế giới (sau Java, Honshu, và Anh), chiếm khoảng 53% tổng dân số toàn quốc.

Luzon cũng có thể được xem là một trong ba nhóm đảo chính tại Philippines. Theo đó, ngoài đảo chính Luzon thì còn gồm có các nhóm đảo BatanesBabuyan ở phía bắc, Polillo ở phía đông, các quần đảo xa Catanduanes, Marinduque, Masbate, Romblon, MindoroPalawan cùng các đảo khác ở phía nam.[3]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bangkang Pinawa, chày cối cổ đại của Philippines.

Tên gọi Luzon được cho là bắt nguồn từ lusong trong tiếng Tagalog, nghĩa là một cái cối lớn bằng gỗ được dùng để giã gạo.[4][5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Luzon từng có các vương quốc Ấn Độ giáo-Phật giáo, các lãnh địa Hồi giáo và các bộ lạc dân tộc-tôn giáo, họ có các liên kết mậu dịch với Borneo, Malaya, Java, Đông Dương, Ấn Độ, Lưu Cầu, Triều Tiên, Nhật BảnTrung Quốc trước thời thuộc địa Tây Ban Nha. Các dân tộc TagalogKapampangan tại miền nam và miền trung Luzon từng lập ra một số chính thể lớn tại duyên hải, đáng chú ý nhất là Maynila, TondoNamayan. Bản khắc đồng Laguna có niên đại từ năm 900 và là văn kiện đầu tiên của Philippines, trên đó ghi các địa danh tại khu vực vịnh Manila cũng như Medan tại Indonesia.[6] Các vương quốc này dựa trên giao ước giữa những người cai trị cấp làng (Datu) và địa chủ (Lakan) hay Rajah, họ phải cống nạp và nộp thuế. Các vương quốc này dựa trên mậu dịch hàng hải với các chính thể châu Á lân cận vào đương thời. Một số nơi tại Luzon bị Hồi giáo hóa khi Vương quốc Brunei bành trướng lãnh địa từ Borneo đến Philippines và lập ra Vương quốc Maynila bù nhìn.[7] Ngoài ra, còn có các chính thể khác như Vương quốc Pangasinan cống nạp cho Trung Quốc, cũng như các vương quốc Hán hóa.[8]

Theo các nguồn tài liệu đương thời, việc mua bán bình gốm Ruson-tsukuri bản địa () dùng để đựng trà và rượu với Nhật Bản trở nên phát đạt vào thế kỷ XII, và các thợ gốm Tagalog, KapampanganPangasinan khắc vào mỗi bình các chữ Baybayin nhằm ký hiệu sản phẩm và nơi sản xuất. Một số lò trở nên nổi tiếng và giá cả dựa vào danh tiếng của mỗi lò.[9][10]

Minh Thành Tổ từng đặt ra chức tổng đốc Luzon người Trung Quốc trong các hành trình của Trịnh Hòa và bổ nhiệm một người vào chức vụ này vào năm 1405.[11][12] Nhiều nhà lãnh đạo trên quần đảo cũng nhận làm chư hầu của Trung Quốc.[13][14] Trung Quốc có được uy thế trong mậu dịch với khu vực dưới thời Thành Tổ.[15]

Các nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha là những người châu Âu đầu tiên ghi nhận Luzon trong hải đồ của họ, với tên gọi là Luçonia hay Luçon và các cư dân trên đảo được gọi là Luçoes.[16] Nhà ngoại giao Edmund Roberts đến thăm Luzon vào đầu thế kỷ XIX, ông viết rằng Luzon được "phát hiện" vào năm 1521.[5]

Người Tây Ban Nha đến Philippines vào thế kỷ XVI, các quốc gia của người Luzon bị tan rã và hình thành Đông Ấn Tây Ban Nha có thủ đô tại Cebu, thủ đô được chuyển về Manila sau thất bại của thủ lĩnh địa phương Rajah Sulayman vào năm 1570. Dưới thời Tây Ban Nha cai trị, Luzon còn được gọi là Nueva Castilla hay Tân Castilla.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh vệ tinh của Luzon

Đảo chính Luzon có diện tích 109.964,9 km²,[1] là đảo rộng lớn thứ 15 trên thế giới. Đảo giáp với Biển Đông về phía tây, phía đông của đảo là Biển Philippines, còn phía bắc đảo là eo biển Luzon gồm eo biển Babuyan và Balintang. Đảo chính có hình dạng gần giống chữ nhật, có bán đảo Bicol nhô ra ở phía đông nam.

Luzon nói chung được phân thành bốn khu vực; Bắc, Trung và Nam Luzon, cùng với Vùng thủ đô quốc gia.

Khu vực Phân chia 6 vùng Phân chia 4 vùng Phân chia 3 vùng Phân chia 2 vùng
Vùng Ilocos Ilocandia Bắc Luzon Bắc và Trung Luzon Bắc và Trung Luzon
Thung lũng Cagayan
Vùng hành chính Cordillera Cordilleras
Trung Luzon Trung Luzon
Vùng thủ đô quốc gia Metro Manila Nam Luzon
Calabarzon Nam Tagalog Nam Luzon Nam Luzon
Mimaropa
Vùng Bicol Bicolandia

Tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Luzon[sửa | sửa mã nguồn]

Phần tây bắc của đảo, gồm hầu hết Vùng Ilocos, có đặc điểm là địa hình bằng phẳng trải dài từ bờ biển về phía đông cho đến dãy núi Cordillera Central.

Dãy Cordillera đặc trưng cho phần bắc-trung của đảo, bao phủ dãy núi này là hỗn hợp rừng thông nhiệt đới và rừng mưa núi cao. Trên dãy núi này có ngọn núi cao nhất của đảo là Pulag, với cao độ 2.922 m. Dãy núi này tạo thành đầu nguồn nước sông Agno chảy từ dốc núi Data, và uốn khúc dọc theo dãy nam Cordillera trước khi đến đồng bằng Pangasinan.

Phần đông bắc của Luzon nói chung có địa hình núi, Sierra Madre là dãy núi lớn nhất đảo quốc, vươn cao đột ngột cách bờ biển chỉ vài km. Nằm giữa hai dãy Sierra Madre và Cordillera Central là thung lũng Cagayan. Khu vực thung lũng này là nơi sản xuất gạo lớn thứ nhì và đứng hàng đầu về sản xuất ngô tại Philippines, là lưu vực của sông Cagayan, sông dài nhất tại Philippines.

Dọc theo giới hạn phía nam của Cordillera Central là dãy núi Caraballo ít được biết đến. Các ngọn núi tạo thành một liên kết giữa Cordillera Central và Sierra Madre, tách thung lũng Cagayan với đồng bằng Trung Luzon.[17]

Trung Luzon[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng bằng Trung Luzon, hậu cảnh là núi Arayat

Phần miền trung của Luzon có đặc điểm địa hình bằng phẳng, được gọi là đồng bằng Trung Luzon, đây là đồng bằng lớn nhất trên đảo. Đồng bằng Trung Luzon có diện tích khoảng 11.000 km², là nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất toàn quốc, được cung cấp nước tưới từ hai con sông lớn là Cagayan ở phía bắc và Pampanga ở phía nam. Tại phần trung tâm của đồng bằng có núi Arayat nhô lên.

Bờ biển phía tây của Trung Luzon có đặc trưng là bằng phẳng, kéo dài từ đường bờ biển cho đến dãy núi Zambales, trên đó có núi Pinatubo nổi tiếng nhờ vụ phun trào lớn vào năm 1991. Dãy núi này kéo dài đến biển ở phía bắc, tạo thành vịnh Lingayen, và về phía nam tạo thành bán đảo Bataan. Bán đảo Bataan bao quanh vịnh Manila, một bến cảng tự nhiên được cho là thuộc vào hàng tốt nhất tại Đông Á nhờ quy mô và vị trí địa lý chiến lược.

Dãy núi Sierra Madre tiếp tục kéo dài sang phần phía tây của Trung Luzon, uốn khúc về phía nam đế bán đảo Bicol.

Nam Luzon[sửa | sửa mã nguồn]

STS045-152-274 Manila and Taal Volcano.jpg
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1
Vịng Manila
2
Laguna de Bay
3
Núi lửa Taal / Hồ Taal
4
Bán đảo Bataan
5
Vịnh Balayan Bay
6
Vịnh Batangas
7
Biển Đông
8
Đảo Mindoro
9
Vịnh Lamon

Laguna de Bay chi phối phần phía bắc của Nam Luzon, đây là hồ lớn nhất toàn quốc với diện tích bề mặt 949 km², thoát nước vào vịnh Manila thông qua sông Pasig, một trong các sông quan trọng nhất đảo quốc nhờ có ý nghĩa lịch sử quan trọng và vì nó chảy qua trung tâm của Metro Manila.

Nằm cách 20 km về phía tây nam của Laguna de Bay là hồ Taal, đây là hồ miệng núi lửa. Vùng xung quanh hồ tạo thành dãy Tagaytay, từng là bộ phận của một núi lửa khổng lồ thời tiền sử bao gồm phần phía nam của tỉnh Cavite, thành phố Tagaytay và toàn bộ tỉnh Batangas.

Phần phía nam của Laguna là hai ngọn núi đơn độc là núi Makiling thuộc tỉnh Laguna, và núi Banahaw cao nhất vùng Calabarzon.

Bán đảo Bicol chi phối phần đông nam của Luzon, đây là một vùng đồi núi và hẹp, kéo dài khoảng 150 km về phía đông nam từ eo đất Tayabas thuộc tỉnh Quezon đến eo biển San Bernardino dọc bờ biển Sorsogon. Khu vực có một số núi lửa, nổi tiếng nhất trong số đó là núi lửa Mayon có hình dạng đối xứng với độ cao 2.460 m thuộc tỉnh Albay. Dãy Sierra Madre có giới hạn phía nam tại tỉnh Quezon. Địa hình có các ngọn núi cao nhô lên như núi Isarognúi Iriga thuộc Camarines Sur, và núi Bulusan thuộc Sorsogon. Đường bờ biển của bán đảo Bicol có đặc trưng là gồm các bán đảo nhỏ, vịnh và vũng.

Đảo ngoại vi[sửa | sửa mã nguồn]

Một số đảo ngoại vi nằm gần đảo chính Luzon được xếp là một bộ phận của nhóm đảo Luzon. Các đảo lớn nhất trong số đó là Palawan, Mindoro, Masbate, Catanduanes, Marinduque, Romblon and Polillo.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trên đảo Luzon có 7 vùng hành chính, 30 tỉnh, và tính đến năm tính đến năm 2014 có 68 thành phố (8 vùng, 38 tỉnh và 71 thành phố nếu tỉnh cả các đảo liên kết).

Vị trí Vùng
(designation)
Dân số
(2015)[2]
Diện tích[lower-roman 1][18][19] Mật độ Trung tâm
vùng
Thành phần
  •      Tỉnh
  •      Thành phố hoặc khu tự quản độc lập
  •    Đảo liên kết[lower-roman 2]
Map of the Philippines highlighting the Ilocos Region Vùng Ilocos
(Vùng I)
5.026.128
(&0000000000000005.0000005,0%)
13.012,60 km² 390 San Fernando
(La Union)
Map of the Philippines highlighting Cagayan Valley Thung lũng Cagayan
(Vùng II)
3.451.410
(&0000000000000003.4000003,4%)
28.228,83 km² 120 Tuguegarao
Map of the Philippines highlighting Central Luzon Central Luzon
(Region III)
11.218.177
(&0000000000000011.10000011,1%)
22.014,63 km² 510 San Fernando
(Pampanga)
Map of the Philippines highlighting CALABARZON Calabarzon
(Region IV-A)
14.414.774
(&0000000000000014.30000014,3%)
16.873,31 km² 850 Calamba
Map of the Philippines highlighting MIMAROPA Mimaropa[lower-roman 2]
(Vùng IV-B)
2.963.360
(&0000000000000002.9000002,9%)
29.620,90 km² 100 Calapan
Map of the Philippines highlighting the Bicol Region Vùng Bicol
(Vùng V)
5.796.989
(&0000000000000005.7000005,7%)
18.155,82 km² 320 Legazpi
Map of the Philippines highlighting Cordillera Administrative Region Vùng hành chính
Cordillera

(CAR)
1.722.006
(&0000000000000001.7000001,7%)
19.422,03 km² 89 Baguio
Map of the Philippines highlighting the National Capital Region Vùng thủ đô quốc gia
(NCR)
12.877.253
(&0000000000000012.80000012,8%)
611,39 km² 21.000 Manila
Vùng Điều tra nhân khẩu 2015 Diện tích Mật độ Trung tâm vùng Thành phần

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Số liệu diện tích đất liền là tổng của các tỉnh (và/hoặc thành phố độc lập) theo trang tin của Cơ quan thống kê Philippines.
  2. ^ a ă Danh sách bao gồm các đảo liên kết của Luzon (các tỉnh Marinduque, Occidental Mindoro, Oriental Mindoro, Palawan, Romblon, Batanes, CatanduanesMasbate).
  3. ^ a ă â Một thành phố thành phần độc lập, không thuộc thẩm quyền của chính quyền tỉnh nào.
  4. ^ a ă â b c Một thành phố đô thị hóa cao, độc lập so với các tỉnh

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Điều tra nhân khẩu Luzon
NămSố dân±% năm
1990 30.782.432—    
2000 39.584.158+0.00%
2010 48.520.774+0.00%
Nguồn: Cơ quan thống kê quốc gia[2][20][a]
Các ngôn ngữ Tagalog, IlocanoBicolano chiếm ưu thế tại Luzon.

Theo điều tra nhân khẩu năm 2015, dân số Luzon là 53.336.134 người,[2][a] là đảo đông dân thứ tư trên thế giới.

Tại Luzon có bảy nhóm dân tộc-ngôn ngữ lớn. Người Ilocano chiếm ưu thế tại miền bắc Luzon, còn người Kapampanganngười Pangasinan, cùng người Tagalogngười Sambal cư trú tại Trung Luzon. Người Tagalog chiếm ưu thế tại Vùng thủ đô quốc gia, CALABARZON và các tỉnh đảo MarinduqueMindoro, còn người Bicol cư trú tại phía nam bán đảo Bicol. Người Visayas chiếm ưu thế tại các tỉnh đảo Masbate, PalawanRomblon.

Các dân tộc khác có số lượng ít hơn là Aeta tại ZambalesBataan, Ibanag tạiCagayanIsabelaIgorot/Cordillera tại Cordillera.

Do di cư trong thời gian gần đây, các cư dân người Hoangười Moro cũng hiện diện tại các khu vực thành thị. Những người lai Tây Ban Nha, Mỹ hay Nhật cũng hiện diện. Hầu hết người Mỹ định cư tại các thành phố đô thị hóa cao tại Trung Luzon là AngelesOlongapo do từng có các căn cứ không quân và hải quân của Hoa Kỳ tại đó, còn đa số người Hàn Quốc và Nhật Bản cư trú tại các thành thị lớn.

Gần như toàn bộ các ngôn ngữ tại Luzon đều thuộc về nhóm Borneo–Philippines thuộc ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo của ngữ hệ Nam Đảo. Các ngôn ngữ khu vực chính yếu gồm có: Tagalog, Ilocano, Bicolano, KapampanganPangasinan. Nhiều cư dân Luzon nói tiếng Anh, còn việc sử dụng tiếng Tây Ban Nha suy yếu sau khi Hoa Kỳ chiếm đóng Philippines.

Giống như hầu hết Philippines, tôn giáo chính tại Luzon là Cơ Đốc giáo, trong đó Công giáo La Mã là giáo phái chủ yếu. Các giáo phái Cơ Đốc khác gồm có Nhân Chứng Giê-hô-va, Tin Lành, Giáo hội Độc lập Philippines (Aglipayans), Mormons và Iglesia ni Cristo.[21] Các truyền thống và tín ngưỡng bản địa vẫn tồn tại song hiếm thấy. Ngoài ra, còn có các cộng đồng tín đồ Ấn Độ giáo, Phật giáo và Hồi giáo tại Metro Manila và những nơi khác, theo chân người Moro và người Hoa di cư đến đảo.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Luzon tập trung tại Metro Manila, trong đó Makati giữ vai trì là trung tâm kinh tế và tài chính chủ yếu. Các công ty lớn như Ayala, Jollibee Foods Corporation, SM Group, và Metrobank đặt trụ sở tại các khu kinh doanh của Makati, Ortigas CenterBonifacio Global City. Công nghiệp tập trung tại và xung quanh các khu vực đô thị của Metro Manila, còn nông nghiệp chiếm ưu thế tại các khu vực khác trên đảo với các loại cây trồng như lúa, chuối, xoài, dừa, dứa và cà phê.[22] Các lĩnh vực khác gồm có chăn nuôi, du lịch, khai mỏ và ngư nghiệp.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Số liệu gồm có 8 vùng hành chính ngoại trừ các tỉnh đảo Batanes, Catanduanes, Masbate và vùng MIMAROPA.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Islands of Philippines”. Island Directory Tables. United Nations Environment Programme. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b c Census of Population (2015). Highlights of the Philippine Population 2015 Census of Population. PSA. Truy cập 20 tháng 6 năm 2016. 
  3. ^ Zaide, Sonia M. The Philippines, a Unique Nation. tr. 50. 
  4. ^ Keat Gin Ooi (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor. ABC-CLIO. tr. 798. ISBN 978-1-57607-770-2. 
  5. ^ a ă Roberts, Edmund (1837). Embassy to the Eastern Courts of Cochin-China, Siam, and Muscat. New York: Harper & Brothers. tr. 59. 
  6. ^ Laguna Copperplate Inscription – Article in English Lưu trữ 2008-02-05 tại Wayback Machine.. Mts.net (2006-07-14). Retrieved on 2010-12-19.
  7. ^ Frans Welman (1 tháng 8 năm 2013). Borneo Trilogy Brunei: Vol 1. Booksmango. tr. 8–. ISBN 978-616-222-235-1. 
  8. ^ Scott, William Henry (1989). “Filipinos in China in 1500” (PDF). China Studies Program. De la Salle University. tr. 8. 
  9. ^ Kekai, Paul. (2006-09-05) Quests of the Dragon and Bird Clan: Luzon Jars (Glossary). Sambali.blogspot.com. Retrieved on 2010-12-19.
  10. ^ South East Asia Pottery – Philippines. Seapots.com. Retrieved on 2010-12-19. Lưu trữ October 19, 2014, tại Wayback Machine.
  11. ^ Ho 2009, p. 33.
  12. ^ “In Our Image”. google.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ Yust 1949, p. 75.
  14. ^ Yust 1954, p. 75.
  15. ^ "Philippine Almanac & Handbook of Facts" 1977, p. 59.
  16. ^ Pires, Tomé, A suma oriental de Tomé Pires e o livro de Francisco Rodriguez: Leitura e notas de Armando Cortesão [1512–1515], translated and edited by Armando Cortesao, Cambridge: Hakluyt Society, 1944.
  17. ^ Smith, Robert Ross (1993). Triumph in the Philippines (Transcribed and formatted by Jerry Holden for the HyperWar Foundation). Honolulu, HI: University Press of the Pacific. tr. 450. ISBN 1410224953. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2014. 
  18. ^ “PSGC Interactive; List of Provinces”. Philippine Statistics Authority. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2016. 
  19. ^ “PSGC Interactive; List of Cities”. Philippine Statistics Authority. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016. 
  20. ^ Census of Population and Housing (2010). Population and Annual Growth Rates for The Philippines and Its Regions, Provinces, and Highly Urbanized Cities (PDF). NSO. Truy cập 29 tháng 6 năm 2016. 
  21. ^ PHILIPPINES: ADDITIONAL THREE PERSONS PER MINUTE, National Statistics Office Lưu trữ 2013-10-04 tại Wayback Machine.. Last revised: July 18, 2003. Retrieved November 27, 2006.
  22. ^ Index of Agriculture and Fishery Statistics. Census.gov.ph. Retrieved on 2010-12-19. Lưu trữ February 21, 2012, tại Wayback Machine.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]