Lycoris radiata

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lycoris radiata
Lycoris radiata Higanbana in a woods.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Monocot
Bộ (ordo)Asparagales
Họ (familia)Amaryllidaceae
Phân họ (subfamilia)Amaryllidoideae
Chi (genus)Lycoris
Loài (species)L. radiata
Danh pháp hai phần
Lycoris radiata
(L'Hér.) Herb., 1819
Danh pháp đồng nghĩa[1]

Tỏi trời tỏa hoặc bỉ ngạn, thạch toán (danh pháp khoa học: Lycoris radiata)[2] là một loài thực vật có hoa trong họ Amaryllidaceae.

Danh xưng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiếng Trung: 石蒜 (thạch toán), 紅花石蒜 (hồng hoa thạch toán), 龍爪花 (long trảo hoa), 山烏毒 (sơn ô độc), 老鴉蒜 (lão nha toán), 彼岸花 (bỉ ngạn hoa), 莉可莉絲 (lị khả lị ti), 曼珠沙華 (mạn châu sa hoa, tiếng Phạn: Mañjusaka), vô nghĩa thảo, u linh hoa, hoa địa ngục, tử nhân hoa, vong xuyên hoa.
  • Tiếng Nhật: Higanbana, Shibito Hana, Yuurei Hana, Manjushage, Sutego Hana, Amisori Hana, Tengai Hana, Jigoku Hana...
  • Tiếng Anh: Red spider lily, Cluster Amaryllis, Shorttube Lycoris.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhật Bản: Hồi ức đau thương.
  • Triều Tiên: Nhớ về nhau.
  • Trung Quốc: Ưu mỹ thuần khiết.

Còn có ý nghĩa là “phân ly, đau khổ, không may mắn, vẻ đẹp của cái chết”, nhưng nhiều người hiểu ý nghĩa hoa là “hồi ức đau thương”.

Bỉ Ngạn hoa loài hoa không thanh khiết, không nhuốm bụi như Bạch Liên, cũng không cao cao tại thượng ngất ngưỡng trời như vạn hoa chi vương Mẫu Đơn. Bỉ Ngạn mang một chút gì đó buồn thẳm, mang một chút gì đó tà ác, mang một huyết sắc đỏ rực. Bỉ Ngạn hoa gợi cho ta cái cảm giác chính là trăng trong nước, hoa trong gương, càng ngắm càng muốn nắm giữ. Tưởng chừng như đã có thể nắm giữ được trong tay thì cuối cùng lại phát hiện ra tất cả phải chăng đều là hư hư thực thực. Liệu đã có ai thật sự chạm vào, thật sự nắm giữ được trong tay? Càng đẹp càng tà độc, càng rực rỡ lại càng chóng tàn phai

Ứng với hoa Mạn Đà La miền Cực Lạc và hoa Mạn Châu Sa bên bờ sông Vong Xuyên là hai thứ hoa Bỉ Ngạn (đỏ và trắng) sinh trưởng ở cõi thế gian. Hoa giống như lời nhắc nhở với thế nhân:

Ái tình là mộng ảo, khi duyên hết thì tình cũng dứt, trả hết nợ một đời thì đừng nên luyến tiếc mà càng thêm đau khổ. Vì con người mê đắm trong ‘Tình’ nên cần phải ngộ được chân lý này mới có thể thanh thản giữa các kiếp luân hồi.

Ái tình là chi đây? Đau khổ cả một đời, nhung nhớ cả một đời, lưu luyến cả một đời, chẳng phải cuối cùng rồi cũng theo chén canh Mạnh Bà mà tan vào hư vô hay sao? Tình ái cũng giống như đóa hoa Bỉ Ngạn kia: Mỹ lệ kiều diễm đấy, nhưng chóng tàn; có hoa có lá đấy, nhưng vĩnh viễn chẳng thể ở bên nhau.

Người ta nói, hoa Bỉ Ngạn là loài hoa có độc, cho nên ái tình cũng là một thứ “độc dược”, khiến những ai chìm đắm trong đó phải đau khổ day dứt cả một đời.

Người ta nói, hoa Bỉ Ngạn là loài hoa nơi địa phủ, cho nên những ai không thể bước qua được ái tình sẽ chỉ khiến tâm hồn chôn vùi trong dĩ vãng.

Người ta nói, hoa Bỉ Ngạn là loài hoa rực lửa, cho nên tình ái mới khiến người ta say đắm nồng nàn. Chẳng phải người đời vẫn hay nói “tình yêu rực lửa”, “tình yêu cháy bỏng” đó sao? Nhưng thiên tình sử nào, cuối cùng rồi cũng trái ngang.

Người ta nói nhiều về ý nghĩa của hoa Bỉ Ngạn, ở Nhật Bản là ‘hoa hồi ức đau thương’, ở Triều Tiên là ‘hoa nhung nhớ’, ở Trung Quốc là ‘hoa ưu mỹ thuần khiết’. Nhưng trên tất cả, đây là loài hoa cảnh tỉnh thế nhân về ảo ảnh của ái tình.

Xuất xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa bỉ ngạn ban đầu được tìm thấy ở Trung Quốc. Nó cũng được tìm thấy ở Nhật Bản. Ở Hoa Kỳ bỉ ngạn phát triển ở Bắc Carolina, Texas, và nhiều tiểu bang phía Nam khác. 

Loài cây này được thấy ở Hoa Kỳ lần đầu tiên năm 1854. Đó là khi Hoa Kỳ mở cửa thương mại cho Nhật Bản. Thuyền trưởng William Roberts trong một lần trở lại Hoa Kỳ đã mang theo loài Lycoris radiata này từ Nhật. Ông mang theo 3 cây, và những cây này được trồng và chăm sóc bởi cô cháu gái. Sau một thời gian chăm sóc và cô thấy rằng loài cây này không nở hoa cho đến khi sau một cơn mưa đầu mùa của mùa thu.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cận cảnh hoa

Cây hoa bỉ ngạn thuộc loại cây thân thảo lâu năm, chiều cao khoảng 40 - 100cm. Hoa tạo thành chùm sắp xếp lạ mắt. Hoa bỉ ngạn có ba màu chính: Đỏ, trắng và vàng. Hoa bỉ ngạn màu trắng gọi là Mạn Đà La - mandara , hoa màu đỏ gọi là Mạn Châu sa - Manjusaka.Phổ biến nhất là hoa màu đỏ. Hoa có màu đỏ rực rỡ như máu, cành hoa dài vươn lên từ mặt đất, trên đài gồm một cụm hoa khoảng 5 đến 7 nụ, khi nở xòe tròn ra mọi hướng, trông như con chim công đang múa, khi có hoa thì không có lá .Hoa bỉ ngạn nở rất đặc biệt Ba ngày trước và sau xuân phân gọi là Xuân Bỉ Ngạn, ba ngày trước và sau thu phân gọi là Thu Bỉ Ngạn. Bỉ Ngạn hoa nở vào Thu Bỉ Ngạn, thời gian rất chính xác cho nên mới gọi là Bỉ Ngạn hoa.

Bỉ ngạn mọc hoang trên những triền đồi, đôi bờ sông, ven đường đi, những bờ ruộng và rất nhiều trong nghĩa địa. “Củ” của loài hoa này rất độc vì chứa lycorin, một chất độc thuộc nhóm ancaloit, gây tổn hại đến hệ thần kinh. Truyền thuyết kể rằng có người đã tuyệt mệnh bằng cách ăn “củ” của loài hoa này trong lúc đói. Có lẽ vì thế, thời xa xưa, người Nhật cho rằng đó là loài hoa của điềm gở và chết chóc.

Trong một năm có 2 ngày mặt trời chiếu thẳng góc xuống xích đạo, vào thời điểm đó độ dài của ngày và đêm bằng nhau, đó là ngày xuân phân và thu phân. Bỉ ngạn nở hoa trùng với tiết thu phân. Đây cũng là thời gian mà theo lời dạy của Phật trong thời gian 7 ngày của mùa thu, người sống có thể đi vào thế giới của người chết để gặp gỡ ông bà tổ tiên. Với người Nhật, đây cũng là dịp họ đi thăm viếng sửa sang mồ mả của những người đã khuất. 

Trong dân gian người ta cho rằng bỉ ngạn là cửa ngõ để đi vào thế giới của những người đã chết, cũng có người lại nói rằng, vào những ngày người trần gian gặp người âm giới, bỉ ngạn là nơi trú ngụ của những linh hồn (tên gọi higanbana (彼岸花)cũng có nguồn gốc từ đó).

Bỉ ngạn không ưa thích nhiệt mà ưa thích một môi trường ấm áp. Khi nhiệt độ vào mùa hè quá cao, các cây bỉ ngạn sẽ chết. Các cây bỉ ngạn thường được trồng ở những khu vực có hệ thống thoát nước tốt để các bông hoa không bị tổn hại và phát triển bình thường. Đặc biệt là khu vực trồng cũng không bị ảnh hưởng bởi gió quá nhiều vào những tháng mùa đông.

Ba ngày trước và sau xuân phân gọi là xuân bỉ ngạn, ba ngày trước và sau thu phân gọi là thu bỉ ngạn. Hoa bỉ ngạn nở vào thu bỉ ngạn, thời gian rất chính xác cho nên mới gọi là hoa bỉ ngạn.

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền loài hoa này nở nơi hoàng tuyền, đa số người đều nhận định rằng hoa bỉ ngạn nở bên cạnh vong xuyên hà ở Minh giới. Hoa có màu đỏ rực rỡ như máu, phủ đầy trên con đường thông đến địa ngục, mà có hoa thì không có lá, đây là loài hoa duy nhất của Minh giới. Theo truyền thuyết hương hoa có ma lực, có thể gọi về ký ức lúc còn sống của người chết. Trên con đường hoàng tuyền nở rất nhiều loài hoa này, nhìn từ xa như một tấm thảm phủ đầy máu, màu đỏ đó như là ánh lửa nên bị gọi là “hỏa chiếu chi lộ”, đây cũng là loài hoa duy nhất mọc trên con đường hoàng tuyền, và cũng là phong cảnh, là màu sắc duy nhất ở nơi đấy. Khi linh hồn đi qua liền quên hết tất cả những gì khi còn sống, tất cả mọi thứ đều lưu lại nơi bỉ ngạn, bước theo sự chỉ dẫn của loài hoa này mà hướng đến địa ngục của u linh.

Bỉ ngạn là đóa hoa trong truyền thuyết tình nguyện đi vào địa ngục, bị chúng ma quỷ bắt quay về nhưng vẫn ngập ngừng trên con đường hoàng tuyền, chúng ma quỷ không nhịn được nên đều đồng ý cho nàng nở trên con đường này, cho những linh hồn đã rời khỏi nhân giới có một sự chỉ dẫn và an ủi.

Bỉ ngạn hoa nở ở bờ bên kia thế giới, chỉ là một khối đỏ rực như lửa; hoa nở không lá, lá mọc không hoa; cùng nhớ cùng thương nhưng không được gặp lại, chỉ có thể một thân một mình ở trên đường cực lạc.

Hoa lá không bao giờ gặp gỡ, đời đời dở lỡ. Bởi vậy mấy có cách nói: ”bỉ ngạn hoa nở nơi bỉ ngạn, chỉ thấy hoa, không thấy lá”. Nhớ nhau thương nhau nhưng vĩnh viễn mất nhau, cứ như thế luân hồi hoa và lá không bao giờ nhìn thấy nhau, cũng có ý nghĩa là mối tình đau thương vĩnh viễn không thể gặp gỡ. Cũng vì thế mà người ta dùng nó để làm ví dụ cho những chuyện tình không có kết quả (hay không có kết quả gì tốt đẹp). Giống với một tâc phẩm vừa mới ra mắt cũng có nhắc về nó : Độ ta không độ nàng

Trong Phật kinh có ghi "bỉ ngạn hoa, một nghìn năm hoa nở, một nghìn năm hoa tàn, hoa diệp vĩnh bất tương kiến. Tình bất vi nhân quả, duyên chú định sinh tử."

Truyền thuyết thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết nói, rất lâu rất lâu trước đây, ven thành thị nở một dải lớn hoa bỉ ngạn – cũng chính là mạn châu sa hoa. Bảo vệ bên cạnh hoa bỉ ngạn là hai yêu tinh, một người tên là Mạn Châu, một người tên là Sa Hoa. Bọn họ đã canh giữ bỉ ngạn suốt mấy nghìn năm nhưng trước giờ chưa từng tận mắt nhìn thấy đối phương… Bởi vì lúc hoa nở nhìn không thấy lá; khi có lá lại không thấy hoa. Giữa hoa và lá, cuối cùng cũng không thể gặp nhau, đời đời lầm lỡ. Thế nhưng, bọn họ điên cuồng nhung nhớ đối phương, và bị nỗi đau khổ hành hạ sâu sắc. Cuối cùng có một ngày, bọn họ quyết định làm trái quy định của thần, lén gặp nhau một lần.

Năm đó, sắc đỏ rực rỡ của mạn châu sa hoa được sắc xanh bắt mắt bao bọc lấy, nở ra đặc biệt yêu diễm xinh đẹp. Thế nhưng vì việc này mà thần trách tội. Mạn Châu và Sa Hoa bị đánh vào luân hồi, và bị lời nguyền vĩnh viễn không thể ở cùng nhau, đời đời kiếp kiếp ở nhân gian chịu đựng nỗi đau khổ. Kể từ đó về sau, mạn châu sa hoa chỉ nở trên con đường hoàng tuyền, hoa có hình dạng như những cánh tay hướng về thiên đường để cầu khẩn, mỗi khi Mạn Châu và Sa Hoa luân hồi chuyển thế, trên con đường hoàng tuyền ngửi thấy mùi hương của hoa bỉ ngạn thì có thể nhớ lại bản thân ở kiếp trước, sau đó thề không bao giờ chia lìa nữa nhưng vẫn lần nữa bị lời nguyền kéo vào vòng luân hồi.

Truyền thuyết thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Xưa có một đôi nam nữ, theo luật Thiên Đình họ không được phép gặp gỡ. Một ngày, cả hai đã phá vỡ giới luật để tìm đến bên nhau. Chàng là một nam tử hào hoa anh tuấn, còn nàng lại là một nhi nữ đẹp tựa tiên sa. Cả hai vừa gặp đã quen thân, quyến luyến không xa rời, nguyện ước hẹn ở bên nhau đến kiếp kiếp đời đời.

Nhưng vì đã phạm luật Trời, họ bị đọa xuống trần gian rồi biến thành hoa và lá của cùng một cây. Lá xanh, hoa đỏ, đẹp kiêu sa nhưng chất chứa nỗi buồn. Có điều, loài hoa này rất đặc biệt, có hoa thì không thấy lá, mà có lá lại chẳng thể thấy hoa, giữa hoa và lá, cuối cùng cũng không thể gặp mặt.

Một ngày, Đức Phật đi ngang qua, thấy trên mặt đất có một loài hoa đỏ rực như lửa, vừa nhung nhớ lại vừa u sầu. Phật vừa liếc nhìn đã thấu tỏ được huyền cơ trong đó. Quả thật là:

“Bỉ Ngạn hoa, khai nhất thiên niên, lạc nhất thiên niên, hoa diệp vĩnh bất tương kiến. Tình bất vi nhân quả, duyên chú định sinh tử” – Bỉ Ngạn hoa, một nghìn năm nở, một nghìn năm tàn, hoa và lá vĩnh viễn không thể gặp nhau. Tình không vì nhân quả, duyên đã định tử sinh.

Đức Phật xót thương, bèn quyết định mang hoa về miền Cực Lạc. Nhưng vì Cực Lạc là Phật quốc, là thế giới thanh tịnh và thuần khiết, nên tất cả những gì là ‘tình si’, ‘nhung nhớ’, ‘u sầu’, ‘đau khổ’… đều không được phép tiến nhập vào miền tịnh thổ. Những thứ xúc cảm con người ấy đều phải rời khỏi hoa, kết thành một màu đỏ rực lửa rồi rơi xuống sông Vong Xuyên.

Bởi vậy, khi về đến Cực Lạc, đóa hoa trong tay Phật đã biến thành một màu trắng tinh khiết không còn nhuốm bụi trần. Đức Phật bèn gọi nó là Mạn Đà La hoa, hoa của cõi Phật, cũng chính là một loại hoa Bỉ Ngạn.

Lại nói về màu đỏ rực lửa. Lúc ấy, Bồ Tát Địa Tạng thần thông quảng đại đã biết rằng nghiệp duyên của hoa Mạn Đà La hiện đang nằm dưới sông Vong Xuyên. Ngài bèn đến bên bờ sông, ném xuống một hạt giống, chỉ trong chốc lát một đóa hoa đỏ tươi bay ra khỏi mặt nước. Bồ Tát đón lấy hoa và nói:

“Ngươi đã thoát thân trở về miền Cực Lạc, sao còn đem nỗi hận tình si để lại nơi khổ ải vô biên này chứ? Vậy thì, ngươi hãy ở đây làm sứ giả tiếp dẫn các linh hồn đi về phía luân hồi. Cực Lạc đã có Mạn Đà La hoa rồi (Mandarava), vậy ta sẽ gọi ngươi là Mạn Châu Sa hoa vậy (Manjusaka)”.

Từ đó có hai loài hoa Bỉ Ngạn, một loại trắng ngần tinh khiết, một loại lại rực rỡ hoa lệ; một loại gợi nhớ gợi thương, chia ly đau khổ, một loại lại vô dục vô cầu, vô khổ vô bi; một loại trầm luân trong nỗi sầu nhân thế, một loại lại thản thản đãng đãng nơi Phật quốc thanh cao.

Truyền thuyết thứ tư =[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày ấy, trên dương thế có một đôi uyên ương tình thâm nghĩa nặng. Họ đã trải qua những tháng ngày hạnh phúc bên nhau, cho đến một ngày chàng trai đi làm ăn xa đã bất hạnh gặp nạn, phải bỏ mạng nơi đất khách quê người.

Linh hồn của chàng trai đi đến bên bờ sông Vong Xuyên, bước trên con đường đỏ rực hoa Bỉ Ngạn mà không khỏi nhớ thương về người vợ chốn dương gian.“Ta không muốn luân hồi, ta phải về với thê tử của ta, nàng vẫn đang đợi chờ ta trở về”.

Chàng trai đến trước mặt Mạnh Bà, nhận được bát canh quên lãng. Anh hỏi Mạnh Bà:“Thế gian muôn màu muôn vẻ, ý họa tình thơ, cớ sao lại bắt tôi phải quên hết chuyện tình cảm xưa cũ?”. Mạnh Bà chỉ mỉm cười không nói, khiến chàng trai càng thêm chua xót. Anh tự nhủ với lòng mình:“Dù phải uống thứ nước vong tình này thì ta vẫn không muốn quên. Sau khi chuyển sinh, ta nhất định sẽ đến tìm nàng”.

Nương tử của chàng trai khi hay tin cái chết của chồng, đã nhiều lần tìm cách quyên sinh. Nhưng lần nào cũng được người nhà cứu sống lại, bởi vậy cô nguyện sẽ thủ tiết cả đời. Cứ như vậy, cô dựa vào việc khâu vá để sinh nhai và ngày đêm hương khói thờ chồng.

Còn chàng trai kia cũng chuyển sinh vào một gia đình nọ, cách ngôi nhà cũ của cậu không xa. Năm tháng cứ thế trôi qua, nháy mắt một cái đã thấm thoắt 20 năm, cậu trở thành một trang nam nhi tuấn tú. Một ngày đi qua ngôi nhà cũ của mình, cậu bỗng thấy một cảm giác thân quen khó tả. Chàng trai liền dừng lại trầm ngâm suy nghĩ, bất giác đôi mắt hướng về phía khung cửa sổ, thấy một quả phụ đang ngồi khâu vá. Cậu không biết đó chính là người vợ hiền thảo của mình trong tiền kiếp, chỉ thấy có điều gì đó kỳ lạ mà cậu không sao lý giải được. Rồi cậu lại bước đi.

Và ngay trong thoáng ngắn ngủi ấy quả phụ bắt gặp ánh mắt của chàng trai trẻ. Dẫu tướng mạo của chàng đã khác xưa, nhưng quả phụ vừa nhìn thấy liền hiểu ra tất cả. Cô nước mắt tuôn rơi, run rẩy không nói nên lời: Chàng đã trở lại rồi!

Sau đó, quả phụ vì nỗi nhớ thương chồng mà lâm bệnh qua đời. Khi xuống dưới Hoàng Tuyền, gặp Mạnh Bà, quả phụ liền hỏi: “Lão bà bà, có phải trước đây có một nam tử từng nói với bà rằng chàng sẽ không quên tôi, sau khi luân hồi sẽ nhất định tìm tôi phải không?”. Mạnh Bà gật đầu khiến quả phụ càng thêm đau buồn. “Chàng đã đến, vì sao lại không nhận ra ta, không nói với ta một lời?”.Mạnh Bà thấy quả phụ chưa dứt được trần duyên, bèn nói:

“Duyên phận của hai người đã hết, chia ly cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng thấy cô không đành lòng, ta sẽ cho cô được gặp lại anh ta lần nữa. Tuy nhiên, cô sẽ phải ở đây chịu khổ 20 năm rồi mới được chuyển sinh vào kiếp sống tiếp, cô có nguyện ý không?”.

Thế là cô được Mạnh Bà giao cho việc nhổ cỏ bên bờ hoa Bỉ Ngạn. Kỳ thực ở đó không hề có cỏ, nhưng trong mắt cô luôn nhìn thấy cỏ dại, và vì thế mà cô cứ nhổ mãi nhổ mãi, vĩnh viễn cũng không hết được.

Hai mươi năm sau, Mạnh Bà đưa cô đến trước cửa luân hồi và dặn rằng:“Cô hãy đứng ở đây đợi một chút, người cô chờ 20 năm sắp đến rồi”.

Cô gái đứng đó như ngồi trên đống lửa, trong lòng cứ thấp thỏm không yên. 20 năm qua, nỗi giày vò khắc khoải như thấu tận tâm can. Cô đã phải chịu đựng biết bao đau khổ chỉ để chờ đến phút giây này, gặp lại người chồng mà cô vẫn hằng mong mỏi.

Cuối cùng chàng cũng đến, nước mắt cô lã chã tuôn rơi.

Nhưng, người mà cô đã dành cả 20 năm đằng đẵng dưới âm gian để đợi chờ, lại tỏ ra thờ ơ lãnh đạm. Cô không thể chịu được nữa, bèn níu tay chàng: “Chàng đã quên ta rồi sao?”. Chàng trai dửng dưng nhìn cô, như nhìn một người xa lạ, anh đón chén canh vong tình của Mạnh Bà và uống cạn, rồi anh bước vào cửa luân hồi.

Trong quan điểm nhà Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kinh Phật thường thấy xuất hiện nhiều tên hoa trong thời thuyết pháp của Phật như: Mưa hoa Mạn Đà La, hoa Mạn Thù Sa, hoa Ma-ha Mạn Đà La, hoa Ma-ha Mạn Thù Sa. Thông thường mọi người đều biết hoa Mạn Đà La là một loại hoa trà,[cần dẫn nguồn] rất hiếm người biết nó là hoa Mạn Thù Sa, hoặc là hoa Mạn Châu Sa

Chúng ta đều biết rõ con người sau khi chết, sẽ không còn chấp trước. Nhưng chúng ta không thể vì điều này mà cam chịu thụt lùi, cho rằng làm người dù sao đi nữa thì cũng phải trở về, thích sống như thế nào thì cứ sống như thế đó, điều này không được, đây gọi là "chấp không". 

Trong kinh Phật nói, thân người khó được. Đời sống của người thế tục cho dù không có ý nghĩa, nhưng suốt cuộc đời của một con người trải qua mấy mươi năm lại rất quý. Chúng tôi thông qua việc học Phật, thông qua sự nỗ lực tu hành, thông qua phương thức sinh hoạt với thế tục, thì cuộc sống có ý nghĩa khác, đó chính là thành Phật. Có người nói, Phật cũng là người. Đúng, Phật cũng là người, nhưng lại là Người đã giác ngộ. Cho nên kinh nói, chúng sanh là Phật chưa giác ngộ, Phật là chúng sanh đã giác ngộ. Không nên cho rằng sau khi thành Phật, ngồi trên tòa sen trong Đại Hùng Bảo Điện, khói hương xông ướp, được muôn người bái lạy. Như thế có đúng không? Sau khi đức Thích Ca thành Phật, qua 49 năm đi trong mưa gió thuyết pháp độ sanh, với chiếc bình bát du hóa suốt cả đời. Vậy thì sau khi thành Phật, người vẫn là người đó, nhưng trạng thái tâm lý của họ đã phát sanh sự thay đổi căn bản, họ đã trở thành người thanh tịnh sáng suốt, không còn sự trói buộc nào, bừng bừng sức sống.

Tóm lại Tâm Kinh Bát nhã đã kết thúc loài hoa Mạn Thù Sa: Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, nhưng sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành thức cũng lại như thế.

Tương truyền hoa này chỉ nở ở Hoàng Tuyền, là phong cảnh duy nhất trên đường Hoàng Tuyền, hoa nơi đó nở hàng loạt, nhìn từ xa có thể thấy nó giống như tấm thảm màu đỏ tươi rực rỡ trải dài, vì màu của nó đỏ như lửa, trắng như lau, giống như máu mà được gọi là "con đường rực lửa"

Hoa Mạn Châu Sa còn gọi là hoa Bỉ Ngạn. Thông thường cho rằng đây là loài hoa tiếp dẫn, sanh trưởng bên bờ sông Tam đồ. Theo truyền thuyết, mùi hương của hoa có ma lực, có thể gọi ký ức thuở còn sanh tiền của người chết trở về.

Ba ngày Xuân lần lượt đi qua gọi là Xuân Bỉ Ngạn, ba ngày Thu chầm chậm trôi qua gọi là Thu Bỉ Ngạn. Là ngày thăm mồ mả. Hoa Bỉ Ngạn nở giữa thời kỳ Thu Bỉ Ngạn rất đúng giờ, cho nên mới gọi là hoa Bỉ Ngạn

Hoa Bỉ Ngạn lúc nở hoa nhìn không thấy lá, khi có lá thì không thấy hoa.

Hoa lá không thấy nhau, nhưng chúng đan xen với nhau đời đời.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Plant List
  2. ^ The Plant List (2010). Lycoris radiata. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]