Máy thu thanh đổi tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một máy thu thanh đổi tần được làm bởi Nhật Bản khoảng năm 1955

Máy thu thanh đổi tần hay còn gọi là máy thu siêu ngoại sai (tiếng Anh: superheterodyne receiver) là loại máy thu được sử dụng phổ biến hiện nay. Ưu điểm của máy thu này so với máy thu khuếch đại thẳng là có khả năng bắt sóng đồng đều toàn băng sóng.Nó được phát minh bởi kỹ sư người Mỹ Edwin Armstrong năm 1918 trong thế chiến thứ nhất.Hầu như tất cả các máy thu thanh vô tuyến hiện đại đều sử dụng loại này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu tạo của máy thu thanh đổi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ khối tổng quát về máy thu đổi tần.Các phần có màu đỏ là khối cao tần,màu xanh là trung tần và tách sóng và màu tím là phần khuếch đại âm tần đưa ra loa

Máy thu thanh đổi tần gồm 6 phần:

-Mạch vào:mạch thu nhận các tín hiệu từ không gian.

-Mạch khuếch đại cao tần:khuếch đại các tín hiệu cao tần từ mạch vào để đưa vào mạch trộn tần.

-Mạch tạo dao động nội và trộn tần:Tại mạch này tạo ra một tần số dao động nội,để trộn với tín hiệu cao tần tạo ra 1 tần số trung gian.

-Mạch khuếch đại trung tần:khuếch đại tín hiệu trung gian lên đủ mạnh để đưa đến mạch tách sóng.

-Mạch tách sóng:tách tín hiệu âm tần ra khỏi sóng mang cao tần.

-Mạch khuếch đại âm tần:khuếch đại tín hiệu âm thanh đủ mạnh đưa ra loa.

Nguyên tắc hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Mạch vào[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là mạch đầu tiên của máy thu đổi tần,có chức năng thu sóng.Thông thường,các máy thu thanh có hai băng tần trở lên thì mạch vào được chia làm hai phần:thu sóng điều tần(FM) và thu sóng điều biên(AM).Ở phần thu điều tần thì sử dụng ăng ten.

Mạch khuếch đại cao tần[sửa | sửa mã nguồn]

Các tín hiệu cao tần sau khi thu vào sẽ đượ đưa vào mạch khuếch đại. Mục đích là để tín hiệu có cường độ đủ lớn đưa vào mạch trộn tần.

Mạch dao động nội và trộn tần[sửa | sửa mã nguồn]

Tại mạch này,sẽ tạo ra tần số dao động nội(fn).Tín hiệu thu vào(fo) được cho trộn lại với nhau,lúc này ngoài hai tín hiệu trên còn xuất hiện tín hiệu tổng(fn+fo) và hiệu(fn-fo),ta chỉ cần thu tín hiệu hiệu.Đối với sóng AM ta chọn fn>fo,còn với FM chọn fn<fo.Ví dụ,máy thu thu vào tần số 1000 kHz thì mạch dao động nội tạo ra tần số 1455 kHz thì fn-fo=455 kHz đây là tín hiệu trung tần của phần thu AM,còn đối với FM là 10,7 MHz.Vì vậy,cần chỉnhtụ xoay chỉnh tần số ở mạch vào cùng lúc với tụ xoay quyết định dao động ở mạch dao động nội và trộn tần để tín hiệu trung tần bằng hằng số.

Mạch khuếch đại trung tần[sửa | sửa mã nguồn]

Mạch tách sóng[sửa | sửa mã nguồn]

Mạch khuếch đại âm tần[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Douglas, Alan (tháng 11 năm 1990). “Who Invented the Superheterodyne?”. Proceedings of the Radio Club of America 64 (3): 123–142. . An article giving the history of the various inventors working on the superheterodyne method.