Mã di truyền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Các bộ ba mã di truyền Codon của ARN.

Mã di truyền là phần mật mã quy định thông tin về trình tự các axit amin đã được mã hoá dưới dạng trình tự các nucleotide trên gen. Hình thức mã hoá này thống nhất ở hầu hết các loài sinh vật, trong đó, ba nucleotide liên tiếp trên mạch mã gốc ADN của gene, sẽ quy định một loại axit amin nhất định. Do đó, mã di truyền còn được gọi là mã bộ ba, và tổ hợp ba nucleotide được gọi là một bộ ba mã hoá. Trong ADN có bốn loại nucleotide khác nhau bởi các gốc nucleobaseAdenine (viết tắt là A), Thymine (viết tắt là T), Cytosine (tiếng Việt còn gọi là Xytosine, viết tắt là X hoặc C), và Guanine (viết tắt là G). Các bộ ba nucleotide trong mỗi mạch đơn của chuỗi xoắn kép ADN khi giản phân, là một tổ hợp của 3 trong bốn loại nucleotide này, gọi là Triplet. Từ các mạch đơn ADN này được các ARN thông tin nhân bản lên thành các mã sao. Quá trình này các Triplet được sao thành các codon của ARN. Nhưng các codon khác với triplet, (đây là bản sao âm bản của triplet thay vì sao nguyên bản), codon là bộ ba các ribo-nucleotide có gốc là nucleobase đối ứng với các nucleobase của nucleotide trong triplet đối ứng gốc (Nguyên tắc bổ sung). Nhưng A không đối ứng thành T (như trong 2 mạch của chuỗi xoắn kép ADN) mà thành Uracil (U) của ARN thông tin. Còn T vẫn đối ứng thành A, và X (C) và G thì vẫn đối ứng với nhau (X (C) thành G, và G thành X (C)).

Đặc điểm của mã di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mã di truyền được đọc liên tục từ mã khởi đầu (AUG với codon) theo từng bộ ba nucleotide mà không gối lên nhau.
  • Mã di truyền có tính đặc hiệu: Một codon chỉ mã hoá cho 1 axit amin.
  • Mã di truyền có tính phổ biến: axit amin giống nhau của các sinh vật khác đều được mã hoá bởi cùng codon.
  • Mã di truyền có tính thoái hoá: 1 axit amin được mã hoá bởi nhiều codon khác nhau. Tính suy thoái của mã di truyền có ý nghĩa tích cực với sự sống còn của tế bào.

Phân loại mã di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Theo vị trí của mã di truyền, thì mã di truyền được chia làm ba loại

  • Triplet hay bộ ba mã gốc là mã di truyền trên gen.
  • Codon hay bộ ba mã phiên là mã di truyền trên ARN thông tin.
  • Anticodon hay bộ ba đối mã là mã di truyền trên ARN vận chuyển.

Mã di truyền và axit amin[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1966, tất cả 64 codon đã được giải hoàn toàn bằng thực nghiệm. Sau đây là bảng các codon và axit amin tương ứng [1]

Axit amin Codon
Phenylalanine UUU, UUX
Leucine UUA, UUG, XUU, XUX, XUA, XUG
Isoleucine AUU, AUX, AUA
Methionine AUG
Valine GUU, GUX, GUA, GUG
Serine AGU, AGX, UXU, UXX, UXA, UXG
Proline XXU, XXX, XXA, XXG
Threonine AXU, AXX, AXA, AXG
Alanine GXU, GXX, GXA, GXG
Tyrosine UAU, UAX
Histidine XAU, XAX
Glutamine XAA, XAG
Asparagine AAU, AAC
Lysine AAA, AAG
Axit aspartic GAU, GAX
Axit glutamic GAA, GAG
Cysteine UGU, UGX
Tryptophan UGG
Arginine XGU, XGX, XGA, XGG, AGA, AGG
Glycine GGU, GGX, GGA, GGG
Không mã hoá axit amin nào UAA, UAG, UGA

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ SGK Sinh học 12, trang 8

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Genetic code tại Wikimedia Commons