Mô hình giao tiếp

Mô hình giao tiếp (tiếng Anh: Models of communication) đơn giản hóa và thể hiện quá trình giao tiếp. Phần lớn mô hình giao tiếp cố gắng mô tả cả giao tiếp bằng lời và giao tiếp phi lời và thường hiểu nó như sự trao đổi các thông điệp. Chức năng của chúng là đưa ra cái nhìn tổng quan cô đọng của quá trình giao tiếp phức tạp. Việc này giúp các nhà nghiên cứu phát biểu các giả thuyết một cách có hệ thống, áp dụng những khái niệm liên quan đến giao tiếp cho những vấn đề trong thực tế và kiểm tra những dự đoán. Bên cạnh những sự hữu dụng của các mô hình giao tiếp, nhiều mô hình bị phê phán dựa trên sự cho rằng chúng quá đơn giản vì chúng bỏ qua những khía cạnh cốt yếu. Những thành phần của mô hình giao tiếp và những sự tương tác giữa chúng thường được thể hiện dưới hình thức một lưu đồ. Một vài thành phần và tương tác cơ bản thường tái xuất hiện ở nhiều mô hình. Mô hình giao tiếp bao hàm ý tưởng rằng một người gửi mã hóa thông tin dưới dạng một thông điệp và gửi nó đến một người nhận thông qua một kênh. Người nhận cần phải giải mã thông điệp đó để hiểu ý tưởng ban đầu và cung cấp một vài hình thức phản hồi. Trong cả hai trường hợp, tiếng ồn có thể gây trở ngại và bóp méo thông điệp đó.
Các mô hình giao tiếp được phân loại dựa trên dụng ý áp dụng của chúng và cách mà các mô hình được hình thành ý tưởng trong trí não về quá trình giao tiếp đó. Những mô hình tổng quát áp dụng cho tất cả các hình thức giao tiếp trong khi những mô hình đặc biệt tự giới hạn trong những hình thức riêng biệt, như giao tiếp đại chúng. Các mô hình chuyển giao tuyến tính hiểu giao tiếp như một quá trình một chiều trong đó một người gửi truyền một ý tưởng cho một người nhận. Các mô hình tương tác bao hàm một vòng lặp phản hồi qua đó người nhận phản hồi sau khi nhận được thông điệp. Các mô hình giao dịch coi việc gửi và việc trả lời như những hoạt động đồng thời. Chúng coi rằng ý nghĩa được tạo ra trong quá trình này và không tồn tại trước khi quá trình diễn ra. Các mô hình cấu thành và xây dựng nhấn mạnh rằng giao tiếp là một hiện tượng cơ bản chịu trách nhiệm cho cách con người hiểu và rút kinh nghiệm từ thực tiễn. Các mô hình liên cá nhân mô tả việc trao đổi trong giao tiếp với người khác. Chúng đối lập với các mô hình nội cá nhân mà bàn luận đến việc tự giao tiếp một mình. Các mô hình giao tiếp không mang tính con người mô tả việc giao tiếp với những loài sinh vật khác. Các loại mô hình giao tiếp đi xa hơn bao gồm mô hình mã hóa-giải mã và mô hình quan hệ.
Vấn đề giao tiếp từng được bàn đến ở Hy Lạp cổ đại nhưng ngành Nghiên cứu giao tiếp mới chỉ được phát triển thành một nhánh nghiên cứu riêng biệt vào giữa thế kỉ 20. Tất cả những mô hình ban đầu đều thuộc loại mô hình chuyển giao tuyến tính, như mô hình Lasswell, mô hình Shannon-Weaver, mô hình Gerbner và mô hình Berlo. Với nhiều mục đích, chúng sau này được thay thế bởi mô hình tương tác như mô hình Schramm. Bắt đầu từ thập niên 1970, mô hình giao dịch, như mô hình Barnlund, được đề xuất để vượt qua những giới hạn của các mô hình tương tác. Chúng tạo nên nguồn gốc ban đầu của những phát kiến xa hơn với hình thức của các mô hình cấu thành.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Fujishin 2009, tr. 8.