Mông Ngột Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Khamag Mongol
Thế kỷ 10–1206
Đế quốc Mông Cổ khoảng năm 1207
Đế quốc Mông Cổ khoảng năm 1207
Vị thếHãn quốc
Thủ đôĐược đặt trung tâm gần sông Kherlen
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Mông Cổ trung đại
Tôn giáo chính
Tengri giáo (Shaman giáo)
Chính trị
Chính phủQuân chủ có lựa chọn
Hãn 
• Thế kỷ 10
Khaidu
• 1120–1148
Khabul Khan (Vị hãn đầu tiên)
• 1148–1156
Ambaghai Khan (Vị hãn thứ hai)
• 1156–1160
Hotula Khan (Vị hãn thứ ba)
• 1189–1206
Genghis Khan (Vị hãn cuối cùng)
Lập phápKurultai
Lịch sử
Thời kỳThời trung đại
• Được thành lập
Thế kỷ 10
• Vị hãn đầu tiên được ghi nhận là Khabul Khan.
1130
• Thiết Mộc Chân bắt đầu thống nhất các thị tộc Mông Cổ và vị hãn với cái tên Thành Cát Tư Hãn.
1189
• Thành Cát Tư Hãn thống nhất các thị tộc Mông Cổ và bắt đầu gây dựng Đế quốc Mông Cổ.
1206
Tiền thân
Kế tục
Đế quốc Khitan
Tiền Mông Cổ
Đế quốc Mông Cổ
Hiện nay là một phần của Mông Cổ
 Nga
 Trung Quốc

Wind Horse of Mongolia.svg

Lịch sử Mông Cổ
Cổ đại
Thời tiền sử
Hung Nô 209 TCN-93
     Nam Hung Nô 48-216
Tiên Ti 93-234
Hãn quốc Nhu Nhiên 330-555
Đột Quyết 555-744
     • Hãn quốc Đột Quyết 552-581
     • Hãn quốc Đông Đột Quyết 581-630
     Tiết Diên Đà 628-646
     An Bắc đô hộ phủ 647-682
     • Hãn quốc Hậu Đột Quyết 682-744
Hãn quốc Hồi Cốt 744–840
Các bộ lạc Mông Cổ tk 9-tk 10
     • Người Hiệt Kiết TưNgười Khiết Đan
     • Người Nãi ManNgười Khắc Liệt
Nhà Liêu 907–1125
Trung đại
Mông Ngột Quốc tk 10-1206
Đế quốc Mông Cổ 1206–1368
     • Nhà Nguyên 1271–1368
Bắc Nguyên 1368–1635
Tứ Vệ Lạp Đặc 1399–1634
Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ 1634–1758
Flag of China (1889–1912).svg Mông Cổ thuộc Thanh 1691–1911
Hiện đại
Flag of Bogd Khaanate Mongolia.svg Đại Mông Cổ Quốc 1911–19, 1921–24
     Cách mạng Ngoại Mông 1911
Flag of China (1912–1928).svg Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng 1919–1921
     Cách mạng Mông Cổ 1921
Flag of the Mongolian People's Republic (1945–1992).svg Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ 1924–1992
     Cách mạng Dân chủ 1990
Flag of Mongolia.svg Mông Cổ 1990-nay

Mông Ngột Quốc (tiếng Mông Cổ: Хамаг монгол, phiên âm là Khamag Mongol, nghĩa là toàn Mông Cổ) là một khanlig của các bộ lạc Mông Cổ tồn tại ở cao nguyên Mông Cổ trong thế kỷ 12. Nó còn được cho là nhà nước tiền thân[1] của Đế quốc Mông Cổ.[2]

Sự tồn tại của quyền lực bộ lạc huyền bí nào đó ở trong truyền thuyết Mông Cổ như Khamag Mongol Uls được nhắc đến trong tài liệu về nhà Liêu (907 - 1125) ở Bắc Trung Quốc và đông Mông Cổ.[3] After the fall of Liao dynasty in 1125, the Khamag Mongols began to play an important role on the Mongolian plains.[4] Sau sự sụp đổ của triều đại này, Mông Ngột Quốc bắt đầu đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng người Mông Cổ. Họ đã chiếm được một trong những vùng đất màu mỡ nhất của quốc gia, vùng trũng của sông Onon, KherlenTuulNúi Khentii. Taichiud (ký tự Cyril: Тайчууд) đã trở thành một trong ba bộ lạc nòng cốt trong các hãn Mông Ngột Quốc trong suốt thế kỷ 12. Những người của đất nước này sống ở phía nam của vùng Zabaykalsky Krai. Zabaykalsky Krai và Tỉnh Khentii của Mông Cổ đã trở thành những khu vực nòng cốt của Mông Ngột Quốc.[5] Cư dân của Mông Ngột Quốc gồm 4 thị tộc chủ chốt là Khiyad, Taichuud, JalairsJirukhen.

Vị hãn của Mông Ngột Quốc được nhắc đến trong lịch sử là Khabul Khan thuộc bộ tộc Borjigin. Khabul Khan đã ngăn chặn thành công sự xâm lược của Nhà Kim. Ông được kế nhiệm bởi Ambaghai, Khagaan của Taichiud. Ông này đã bị bắt bởi liên minh Tatar, trong khi lại cho con gái của ông làm đám cưới cho sự trị vì của liên minh này. Ambaghai đã rơi vào tay Nhà Kim, người đã xử tử tàn bạo vị hãn. Ambaghai được dược kế vị bởi Hotula Khan, con của Khabul Khan. Hotula Khan đã chiến đấu với người Tatar trong 13 cuộc chiến để trả thù cho cái chết của Ambaghai Khan.

Mông Ngột Quốc đã không thể chọn ra người kế vị sau cái chết của Hotula Khan. Tuy nhiên, cháu của Khabul là Yesugei, vị tướng của bộ lạc Khiyad, là một lãnh đạo xuất chúng và có hiệu quả của quốc gia. Thiết Mộc Chân, hay sau này chính là Thành Cát Tư Hãn, đã được sinh ra trong gia đình của nhà lãnh đạo này với vai trò là con cả tại Delüün Boldog ở phía trên sông Onon vào năm 1162.

Khi chàng trai trẻ Tooril Khan mong muốn sự trợ giúp của Yesugei,[6] người lãnh đạo của Mông Ngột Quốc, để phế truất người anh trai đang lãnh đạo Keraites, người Mông Cổ đã đáp ứng và đánh bại người anh trai này và đưa Tooril lên ngôi vào đầu thế kỷ 12.

Yesugei đã bị trúng độc bởi người Tatar vào năm 1170 vào sau đó không lâu thì ông qua đời. Mông Ngột Quốc bắt đầu quá trình tan rã sau sự ra đi của nhà lãnh đạo này vào năm 1171. Sự vô chính phủ và sự vắng bóng người nắm quyền lực cuối cùng kết thúc vào năm 1189 khi Thiết Mộc Chân trở thành vị hãn của quốc gia này. Chiến tranh đã nổ ra giữa các bộ lạc người Mông Cổ. Người bạn của Thiết Mộc Chân là Jamukha đã được thừa nhận là một Gur-Khan (vị hãn toàn năng) vào năm 1201. Nhưng sau đó ông bị đánh bại bởi liên minh Mông Ngột Quốc - Keraites.

Khi Tooril từ chối liên minh với Mông Ngột Quốc, các cuộc chiến tranh của Thiết Mộc Chân với các thị tộc hủy hoại sự trị vì của Tooril. Thiết Mộc Chân thống nhất tất cả các thị tộc trên cao nguyên Mông Cổ vào năm 1206 và trở thành Thành Cát Tư Hãn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bat-Ocher Bold (2001), Mongolian nomadic society: a reconstruction of the "medieval" history of Mongolia, Richmond, Surrey: Curzon, tr. 176, ISBN 0-7007-1158-9 
  2. ^ History of the Mongolian People's Republic By Akademii︠a︡ nauk SSSR, p.99
  3. ^ Khamag Mongol Uls
  4. ^ Histoire de la Mongolie By László Lőrincz, p.43
  5. ^ History of Mongolia, Volume II, 2003
  6. ^ He never assumed the title the Khan of the Khamag Mongol but baghatur (hero)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các bộ lạc và thị tộc Mông Cổ thời trung cổ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Akademiiya nauk SSSR - History of the Mongolian People's Republic, Nauka Pub. House, Central Dept. of Oriental Literature, 1973
  • Bat-Ochir Bold - Mongolian Nomadic Society, St. Martin's Press, 1999. ISBN 0-312-22827-9
  • The New Encyclopædia Britannica, Encyclopædia Britannica, 1974: Macropaedia Me-Ne ISBN 0-85229-290-2
  • László Lőrincz - Histoire de la Mongolie, Akadémiai Kiadó,the University of Michigan, 1984. ISBN 963-05-3381-2