Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2004

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2004
Bản đồ tóm lược mùa bão
Lần đầu hình thành 10 tháng 2, 2004
Lần cuối cùng tan 22 tháng 12, 2004
Bão mạnh nhất Chaba – 910 hPa (mbar), 230 km/h (145 mph) (duy trì liên tục trong 10 phút)
Áp thấp nhiệt đới 35
Tổng số bão 32
Bão cuồng phong 19
Siêu bão cuồng phong 7
Số người chết 2073
Thiệt hại $19.4 tỉ (USD 2004)
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương
2002, 2003, 2004, 2005, 2006

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2004 là một mùa bão, theo đó các xoáy thuận nhiệt đới hình thành ở vùng phía tây bắc của Thái Bình Dương. Mùa bão sẽ kéo dài trong suốt năm 2004 và phần lớn các cơn bão hình thành từ tháng 5 đến tháng 11. Bài viết này chỉ đề cập đến các cơn bão hình thành trong phạm vi của Thái Bình Dương ở Bắc Bán Cầu và từ kinh tuyến 100 đến 180 độ. Trong khu vực tây bắc Thái Bình Dương, có 2 cơ quan khí tượng hoạt động độc lập nhau, nên một cơn bão có thể có 2 tên gọi khác nhau. JMA sẽ đặt tên cho một cơn bão khi sức gió duy trì trong vòng 10 phút đạt ít nhất 65 km/h, (40 mph) ở vùng tâm bão cho bất kỳ cơn bão nào hình thành trong vùng này. Trong khi đó, PAGASA sẽ đặt tên cho một cơn bão khi nó hình thành từ một áp thấp nhiệt đới trong phạm vi theo dõi của họ giữa 135°Đ và 115°Đ và giữa 5°B-25°B thậm chí JMA đã đặt tên cho nó. Các áp thấp nhiệt đới được JTWC theo dõi và đặt tên có kí tự "W" phía trước một con số.

Tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

Các cơn bão[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các cơn bão này, sức gió của JTWC sử dụng thang Saifr-Simpson nên sức gió đo được duy trì trong 1 phút. Trong khi JMA lấy sức gió 10 phút.

Áp thấp nhiệt đới 01W (Ambo)[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (PAGASA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 10 tháng 2 – 19 tháng 2
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  995 mbar (hPa)

Cơn xoáy thuận nhiệt đới đầu tiên của mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2004 là áp thấp 01W, hình thành ngày 10 tháng 2 ở phía Tây đảo Chuuk. Nó đi về phía tây, đi chậm do bị cắt dọc liên tục. Vào ngày 14 tháng 2, áp thấp đổi hướng đi ngược chiều kim đồng hồ, suy yếu và tan vào ngày 16.

Bão nhiệt đới 02W (Butchoy)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (PAGASA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 14 tháng 3 – 23 tháng 3
Cường độ mạnh nhất 85 km/h (50 mph) (duy trì 10 phút)  995 mbar (hPa)

Ở khu vực gần xích đạo hình thành một áp thấp nhiệt đới ở phía Nam Philippines. Nó thường đi về phía Tây Bắc, nhưng cũng có lúc đi về phía Tây Nam chút ít. Ngay trước khi cơn bão đổ bộ vào Philippines, một rãnh áp thấp đẩy nó lên phía Bắc, nơi có không khi khô và tiếp xúc với lực cắt theo chiều dọc dẫn đến việc nó tan vào ngày 23 tháng 3.

Bão Sudal (Cosme)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 2 tháng 4 – 15 tháng 4
Cường độ mạnh nhất 165 km/h (105 mph) (duy trì 10 phút)  940 mbar (hPa)

Ngày 5 tháng 4, áp thấp nhiệt đới 03W bắt đầu hình thành ở giữa ChuukPohnpei. Nó đi về hướng Tây Bắc, nó mạnh lên thành cơn bão nhiệt đới. Nó chuyển hướng về phía Tây, đều đặn tăng cường sức gió và trở thành một cơn bão cuồng phong vào ngày 6.[1] Ngày 9 tháng 4, với sức gió 115 knots/130 mph, cơn bão tàn phá đảo Palau. Sau khi tàn phá đảo, Sudal đạt sức gió cao nhất 130 knots/150 mph. Cơn bão quay về phía đông bắc và trở thành áp thấp cận nhiệt đới vào 15 tháng 4.[2] Thiệt hại ở đảo Yap, với 90% các tòa nhà bị phá hủy, 1.500 người mất nhà cửa, và một người chết (sau công bố lại là không có ai).[3] Đây là cơn bão mạnh nhất tấn công Yap trong vòng 50 năm.[4] "Sudal" có nghĩa là con rái cá. Sau đó nó đã bị thay thế bằng tên "Mirinae".[5] Đây là cơn bão thứ 7 ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương bị đổi tên.[6][7][8]

Bão Nida (Dindo)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 13 tháng 5 – 21 tháng 5
Cường độ mạnh nhất 175 km/h (110 mph) (duy trì 10 phút)  935 mbar (hPa)

Áp thấp nhiệt đới 04W hình thành ở phía Đông Philippines trong một dải hội tụ nhiệt đới vào ngày 13 tháng 5. Áp thấp nhiệt đới này đã nhanh chóng mạnh lên thành bão nhiệt đới vào ngày 14 và chỉ 6 giờ sau đã mạnh lên thành bão cuồng phong. Vào ngày 15 và 16 tháng 5, trong lúc di chuyển về phía Tây Bắc hướng về quốc đảo Philippines, Nida đạt đỉnh cường độ - một siêu bão cấp 5 với sức gió 1 phút là 140kn/160mph, và đi qua phía đông của quốc đảo này. Nida yếu đi một chút khi ma sát với quốc đảo, rồi bắt đầu di chuyển theo hướng Bắc - Đông Bắc do chịu ảnh hưởng của áp cao cận nhiệt đới. Bão trở thành xoáy nghịch nhiệt đới ở phía Đông Nhật Bản vào ngày 21, sau khi cướp đi sinh mạng 31 người cùng thiệt hại 1,3 triệu USD. "Nida" là tên một phụ nữ, được đặt bởi Thái Lan.

Tại Philippines, các trung tâm sơ tán bão đã mở cửa để đón 2.096 người vào tránh trú. Bão tiếp cận làm hoạt động của nhiều bến phà bị hoãn lại và khiến 15.057 hành khách bị mắc kẹt.[9] Tại Đài Loan, các chuyên gia khí tượng đã ban hành cảnh báo khi dự đoán có xác suất là bão sẽ đánh vào Đài Loan.[10]

Áp thấp nhiệt đới 05W[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 14 tháng 5 – 18 tháng 5
Cường độ mạnh nhất 65 km/h (40 mph) (duy trì 1 phút)  995 mbar (hPa)

JTWC đánh ký hiệu áp thấp này là 05W, cho rằng 05W đã đạt cường độ bão nhiệt đới. Cơ quan khí tượng Nhật Bản không theo dõi áp thấp này. 05W được Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương Việt Nam theo dõi và được đánh tên hiệu "Áp thấp nhiệt đới tháng V".[11]

Bão Omais (Enteng)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 16 tháng 5 – 22 tháng 5
Cường độ mạnh nhất 95 km/h (60 mph) (duy trì 10 phút)  985 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Nhật Bản): - 95km/h (bão nhiệt đới dữ dội) - áp suất 985hPa
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 110km/h (bão nhiệt đới) - ban đầu là bão cuồng phong cấp 1 (120km/h).

Bão Conson (Frank) - Bão số 1[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 4 tháng 6 – 11 tháng 6
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  960 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Việt Nam): cấp 12 - bão cuồng phong.
  • Cấp bão (Nhật Bản): 150km/h - bão cuồng phong, áp suất 960hPa
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 195km/h - bão cuồng phong cấp 3.

Bão Chanthu (Gener) - Bão số 2[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 7 tháng 6 – 15 tháng 6
Cường độ mạnh nhất 110 km/h (70 mph) (duy trì 10 phút)  975 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Việt Nam): cấp 11 - bão nhiệt đới dữ dội
  • Cấp bão (Nhật Bản): 110km/h - bão nhiệt đới dữ dội, áp suất 975hPa.
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 140km/h - bão cuồng phong cấp 1.
  • Chanthu là một cơn bão trái mùa đổ bộ vào các tỉnh Nam Trung Bộ, không theo quy luật.

Bão Dianmu (Helen)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 11 tháng 6 – 21 tháng 6
Cường độ mạnh nhất 185 km/h (115 mph) (duy trì 10 phút)  915 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Nhật Bản): 185km/h - bão cuồng phong. ÁP suất 915 hpa.
  • Cấo bão (Hoa Kỳ): 280km/h - siêu bão cấp 5.

Bão Mindulee (Igme)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động June 21 – July 4
Cường độ mạnh nhất 175 km/h (110 mph) (duy trì 10 phút)  940 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Nhật Bản): Bão cuồng phong.
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): Bão cuồng phong cấp 4.

Bão Tingting[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 25 tháng 6 – 4 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  955 mbar (hPa)

Cái tên "Tingting" về sau được thay thế bằng tên "Lionrock".

  • Cấp bão (Nhật Bản); 150km/h - Bão cuồng phong cấp 1. Áp suất 955hPa
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 80 hải lý/giờ - bão cuồng phong cấp 1.

Bão Kompasu (Julian) - Bão số 3[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 12 tháng 7 – 16 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 85 km/h (50 mph) (duy trì 10 phút)  992 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Việt Nam): cấp 8-9 - bão nhiệt đới.
  • Cấp bão (Nhật Bản); 85km/h - bão nhiệt đới. Áp suất:992hPa
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 45 hải lý/giờ - bão nhiệt đới.

Bão Namtheun[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 24 tháng 7 – 2 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 155 km/h (100 mph) (duy trì 10 phút)  935 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Nhật Bản): 155 km/h - bão cuồng phong
  • Cấp bão (Hoa kỳ): 115 hải lý/giờ - bão cuồng phong cấp 4.

Bão Malou[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 2 tháng 8 – 5 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 75 km/h (45 mph) (duy trì 10 phút)  995 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Nhật Bản): 75km/h - bão nhiệt đới.
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 35 hải lý/giờ - bão nhiệt đới

Bão Meranti[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 2 tháng 8 – 9 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 140 km/h (85 mph) (duy trì 10 phút)  960 mbar (hPa)
  • Cấp bão (Nhật Bản): 140km/h - bão cuồng phong
  • Cấp bão (Hoa Kỳ): 90 hải lý/ giờ bão cuồng phong cấp 2

Bão Rananim (Karen)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 6 tháng 8 – 15 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  950 mbar (hPa)

Bão Malakas[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 9 tháng 8 – 12 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 85 km/h (50 mph) (duy trì 10 phút)  990 mbar (hPa)

Bão Megi (Lawin)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 13 tháng 8 – 20 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 120 km/h (75 mph) (duy trì 10 phút)  970 mbar (hPa)

Bão Chaba[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 18 tháng 8 – 31 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 205 km/h (125 mph) (duy trì 10 phút)  910 mbar (hPa)

Bão Aere (Marce)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 17 tháng 8 – 26 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  955 mbar (hPa)

Áp thấp nhiệt đới 21W[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 26 tháng 8 – 28 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Bão Songda (Nina)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 26 tháng 8 – 8 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 175 km/h (110 mph) (duy trì 10 phút)  925 mbar (hPa)

Bão Sarika[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 4 tháng 9 – 8 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 100 km/h (65 mph) (duy trì 10 phút)  980 mbar (hPa)

Bão Haima (Ofel)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão cận nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 11 tháng 9 – 14 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 75 km/h (45 mph) (duy trì 10 phút)  995 mbar (hPa)

Áp thấp nhiệt đới Pablo[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (PAGASA)
Thời gian hoạt động 15 tháng 9 – 18 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Bão Meari (Quinta)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 18 tháng 9 – 30 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 165 km/h (105 mph) (duy trì 10 phút)  940 mbar (hPa)

Bão Ma-on (Rolly)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 29 tháng 9 – 10 tháng 10
Cường độ mạnh nhất 185 km/h (115 mph) (duy trì 10 phút)  920 mbar (hPa)

Bão Tokage (Siony)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 10 tháng 10 – 20 tháng 10
Cường độ mạnh nhất 155 km/h (100 mph) (duy trì 10 phút)  940 mbar (hPa)

Bão Nock-ten (Tonyo)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 13 tháng 10 – 26 tháng
Cường độ mạnh nhất 155 km/h (100 mph) (duy trì 10 phút)  945 mbar (hPa)

Bão Muifa (Unding) - bão số 4[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 14 tháng 11 – 26 tháng 11
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  950 mbar (hPa)

Bão Merbok (Violeta)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Thời gian hoạt động 22 tháng 11 – 23 tháng 11
Cường độ mạnh nhất 65 km/h (40 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Áp thấp nhiệt đới Winnie[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (PAGASA)
Thời gian hoạt động 27 tháng 11 – 30 tháng 11
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Bão Nanmadol (Yoyong) - bão số 5[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 28 tháng 11 – 4 tháng 12
Cường độ mạnh nhất 165 km/h (105 mph) (duy trì 10 phút)  935 mbar (hPa)

Bão Talas (Zosimo)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 9 tháng 12 – 20 tháng 12
Cường độ mạnh nhất 75 km/h (45 mph) (duy trì 10 phút)  995 mbar (hPa)

Bão Noru[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 17 tháng 12 – 22 tháng 12
Cường độ mạnh nhất 75 km/h (45 mph) (duy trì 10 phút)  990 mbar (hPa)

Tên bão[sửa | sửa mã nguồn]

Tên quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên theo danh sách bên dưới do Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vựcTokyo, Nhật Bản, khi một xoáy thuận đạt đến độ mạnh của bão.[12] Các tên gọi do các thành viên của ESCAP/WMO Typhoon Committee đề xuất. Mỗi nước trong số 14 nước và vùng lãnh thổ thành viên đưa ra 10 tên gọi, được sử dụng theo thứ tự ABC, bằng tên tiếng Anh của quốc gia đó.[13] Sau đây là các tên gọi đã đặt cho các cơn bão năm 2013.

  • Sudal (0401)
  • Nida (0402)
  • Omais (0403)
  • Conson (0404)
  • Chanthu (0405)
  • Dianmu (0406)
  • Mindulle (0407)
  • Tingting (0408)
  • Kompau (0409)
  • Namtheun (0410)
  • Malou (0411)
  • Meranti (0412)
  • Rananim (0413)
  • Malakas (0414)
  • Megi (0415)
  • Chaba (0416)
  • Aere (0417)
  • Songda (0418)
  • Sarika (0419)
  • Haima (0420)
  • Meari (0421)
  • Ma-on (0422)
  • Tokage (0423)
  • Nock-ten (0424)
  • Muifa (0425)
  • Merbok (0426)
  • Nanmadol (0427)
  • Talas (0428)
  • Noru (0429)

Tên ở Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

PAGASA sử dụng cách đặt tên riêng của mình cho cơn bão nhiệt đới trong khu vực theo dõi của họ. PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới đã hình thành trong khu vực theo dõi của họ và bất kỳ cơn bão nhiệt đới có thể di chuyển vào khu vực theo dõi của họ. Nên danh sách các tên trong năm đó bị sử dụng hết, tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, các bão đầu tiên được hình thành mỗi năm trước khi mùa bão bắt đầu. Tên còn lập lại (chưa được dùng) từ danh sách này sẽ được sử dụng một lần nữa trong mùa bão năm 2008. Tên mà chưa được sử dụng hay sẽ sử dụng được đánh dấu Ví dụ (chưa sử dụng).

  • Ambo (01W)
  • Butchoy (02W)
  • Cosme (0401)
  • Dindo (0402)
  • Enteng (0403)
  • Frank (0404)
  • Gener (0405)
  • Helen (0406)
  • Igme (0407)
  • Julian (0409)
  • Karen (0413)
  • Lawin (0415)
  • Marce (0417)
  • Nina (0418)
  • Ofel (0420)
  • Pablo
  • Quinta (0421)
  • Rolly (0422)
  • Siony (0423)
  • Tonyo (0424)
  • Unding (0425)
  • Violeta (0426)
  • Winnie
  • Yoyong (0427)
  • Zosimo (0428)

Danh sách dự phòng

  • Alakdan (chưa sử dụng)
  • Baldo (chưa sử dụng)
  • Clara (chưa sử dụng)
  • Dencio (chưa sử dụng)
  • Estong (chưa sử dụng)
  • Felipe (chưa sử dụng)
  • Gardo (chưa sử dụng)
  • Heling (chưa sử dụng)
  • Ismael (chưa sử dụng)
  • Julio (chưa sử dụng)

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, một cơn bão được đặt số hiệu khi nó đi vào vùng thuộc phạm vi theo dõi của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Việt Nam được xác định trên biển Đông phía Tây kinh tuyến 120 độ kinh Đông và phía bắc vĩ tuyến 10 độ vĩ Bắc. Số hiệu của bão được đặt theo số thứ tự xuất hiện của nó trong năm. Nếu cơn bão "Ví dụ" xuất hiện lần 1 mà đi vào vùng biển Việt Nam thì tên bão sẽ là "Bão số 1" và tương tự, các cơn số 2, 3, 4,... cũng được đặt như vậy.

  • Bão Conson là bão số 1
  • Bão Chanthu là bão số 2
  • Bão Kompasu là bão số 3
  • Bão Muifa là bão số 4
  • Bão Nammadol là bão số 5.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Japan Meteorological Agency (1997). “Best Track of the 2004 Pacific Typhoon Season”. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. [liên kết hỏng]
  2. ^ Gary Padgett (2004). “April Global Tropical Weather Summary”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ United Nations Office for the Coordination of Humanitarian Affairs (5 tháng 5 năm 2004). “Federated States of Micronesia – Typhoon Sudal OCHA Situation Report No. 2”. ReliefWeb. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ Prior, Sarah A.; Guard, Charlkes (tháng 4 năm 2005). “In the Wake of a Destructive Typhoon: Cold Water, Low Tides, and Fog”. Mariners Weather Log (National Oceanic and Atmospheric Administration) 49 (1). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  5. ^ ESCAP/WMO Typhoon Committee (2005). “38th Session of the Typhoon Committee”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2007. 
  6. ^ Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (2001). “Report of the Typhoon Committee on its Thirty-Fourth Session” (DOC). World Meteorological Organization. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008. [liên kết hỏng]
  7. ^ Tropical Cyclone Programme (2008). “Typhoon Committee Operational Manual — Meteorological Component” (PDF). World Meteorological Organization. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008. 
  8. ^ “Change of Tropical Cyclone Names: "Dolphin" and "Lionrock" to replace "Yanyan" and "Tingting". Hong Kong Observatory. 2005. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008. 
  9. ^ May 2004 Monthly Global Tropical Cyclone Summary[liên kết hỏng]
  10. ^ Central Weather Bureau A Real-time MM5/WRF Forecasting system in Taiwan URL Accessed: September 26, 2006
  11. ^ Đặc điểm KTTV 2004, NCHMF
  12. ^ Gary Padgett. “Monthly Tropical Cyclone summary December 1999”. Australian Severe Weather. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008. 
  13. ^ “Tropical Cyclone names”. JMA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]