Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2019

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2019
Bản đồ tóm lược mùa bão
Lần đầu hình thành 31 tháng 12 năm 2018
Lần cuối cùng tan Chưa kết thúc
Bão mạnh nhất Wutip – 915 hPa (mbar), 195 km/h (120 mph) (duy trì liên tục trong 10 phút)
Áp thấp nhiệt đới 35
Tổng số bão 17
Bão cuồng phong 6
Siêu bão cuồng phong 2
Số người chết 186
Thiệt hại $9.752 tỉ (USD 2019)
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương
2017, 2018, 2019, 2020, 2021

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2019 là một sự kiện mà theo đó các xoáy thuận nhiệt đới hình thành ở vùng phía Tây Bắc của Thái Bình Dương trong năm 2019, chủ yếu từ tháng 5-12. Bài viết này chỉ đề cập đến các cơn bão hình thành trong phạm vi của Thái Bình DươngBắc Bán Cầu và từ kinh tuyến 100 đến 180 độ. Bão nhiệt đới hình thành trên toàn Tây Bắc Thái Bình Dương sẽ được đặt tên bởi Cơ quan Khí tượng Nhật Bản JMA. Áp thấp nhiệt đới được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp JTWC theo dõi sẽ có thêm hậu tố "W" phía sau số thứ tự của chúng. Áp thấp nhiệt đới trở lên hình thành hoặc di chuyển vào khu vực mà Philippines theo dõi cũng sẽ được đặt tên bởi Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA). Đó là lý do đôi khi một cơn bão lại có hai tên gọi khác nhau. Đây cũng là mùa bão thứ hai liên tiếp mà cơn đầu tiên hình thành từ những ngày cuối cùng của năm (mùa) trước đó.

Mùa bão năm 2019 có một điểm đặc biệt là nó bắt đầu từ những ngày cuối của năm 2018 với cơn áp thấp nhiệt đới hình thành từ một vùng áp thấp ngày 31 tháng 12 năm 2018 và mạnh lên thành bão vào ngày 01 tháng 1 năm 2019 với tên PABUK (số hiệu 1901). Mùa bão năm nay diễn biến bất thường khi Bão Wutip mạnh lên Cấp 5 ngay trong tháng 2, cấp bão mạnh nhất trong giai đoạn này từng được ghi nhận từ thời điểm tháng 2/1911. Từ tháng 3 đến tháng 5 không có cơn bão nhiệt đới nào hoạt động, chỉ có các ATNĐ hình thành trong tháng 3 và tháng 5, không có cơn nào hình thành trong tháng 4. Đến tháng 6 xuất hiện 3 ATNĐ, nhưng chỉ có 1 trong số đó mạnh lên thành bão nhiệt đới yếu với tên là Sepat vào cuối tháng.

Tóm tắt và dự báo mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Thang bão Nhật Bản (JMA)

Bão Lingling (2019)Bão Faxai (2019)Bão Podul (2019)Bão Krosa (2019)Bão Lekima (2019)Bão Francisco (2019)Bão Wipha (2019)Áp thấp nhiệt đới Goring (2019)Bão Danas (2019)Bão Mun (2019)Bão Egay (2019)Bão Sepat (2019) Bão Wutip (2019)Áp thấp nhiệt đới Amang (2019)Bão Pabuk (2019)

Thang bão Saffir-Simpson

Bão Lingling (2019)Bão Faxai (2019)Bão Podul (2019)Bão Krosa (2019)Bão Lekima (2019)Bão Francisco (2019)Bão Wipha (2019)Áp thấp nhiệt đới Goring (2019)Bão Danas (2019)Bão Mun (2019)Bão Egay (2019)Bão Sepat (2019)Áp thấp nhiệt đới Chedeng (2019)Bão Wutip (2019)Áp thấp nhiệt đới Amang (2019)Bão Pabuk (2019)
  1. Trên toàn vùng: Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2019 bắt đầu khá sớm, từ những ngày cuối năm 2018 với ATNĐ hình thành ngày 31/12 nhưng mạnh lên thành bão vào ngày 01/1/2019 với tên PABUK (số hiệu 1901). Trong tháng 2 năm 2019 đã xuất hiện cơn bão mạnh Wutip, cơn bão mạnh nhất ghi nhận được trong tháng 2 từ trước đến nay. Tuy nhiên trong các tháng 3-6, không xuất hiện bất kỳ cơn bão nào mà chỉ có một số áp thấp nhiệt đới yếu. Mãi đến cuối tháng 6/2019 mới xuất hiện bão Sepat. Trong tháng 7, xoáy hoạt động mạnh hơn tuy nhiên các hình thế thời tiết trong và ngoài cơn bão (nhiệt độ nước biển, năng lượng nhiệt, độ đứt gió,...) đã kìm hãm sự phát triển của bão nên hầu hết có cường độ yếu như Mun, Danas, Nari, Wipha.
  2. Trên Biển Đông và đất liền Việt Nam: Ngoại trừ cơn bão số 1 là bão rớt mùa bão 2018, mùa bão năm 2019 được xem là đã chính thức bắt đầu ở nước ta khi cơn bão số 2 (Mun) hình thành trên khu vực Bắc Biển Đông ngày 01/7/2019 (muộn hơn TBNN từ 2-3 tuần) và đổ bộ vào Thái Bình. Đến giữa tháng 7 xuất hiện 1 ATNĐ nhưng ra khỏi biển Đông; cuối tháng 7 - đầu tháng 8 xuất hiện bão số 3 (Wipha) và đổ bộ vào Quảng Ninh.

Dự báo mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương

Trong năm, một số dịch vụ khí tượng quốc gia và các cơ quan khoa học dự báo có bao nhiêu cơn bão nhiệt đới, bão nhiệt đới và bão sẽ hình thành trong một mùa và / hoặc có bao nhiêu cơn bão nhiệt đới sẽ ảnh hưởng đến một quốc gia cụ thể. Các cơ quan này bao gồm Hiệp hội Rủi ro Bão nhiệt đới (TSR) của Đại học College London, PAGASA và Cục Thời tiết Trung ương Đài Loan.

Khu vực Biển Đông và đất liền nước ta

Mặc dù trên biển Đông đã xuất hiện cơn bão số 1 vào đầu năm 2019 nhưng đây lại được xem là bão rớt mùa bão 2018. El Nino yếu đã kết thúc vào đầu tháng 8 năm 2019 nhưng những tác động hậu El Nino còn có khả năng kéo dài đến hết tháng 9/2019, sau đó mới quay lại trạng thái trung tính (hơi nghiêng về pha nóng). Do vậy xu hướng mùa bão năm 2019 số lượng bão và ATNĐ sẽ xấp xỉ TBNN (12-13 cơn bão và ATNĐ, dự báo từ 11-13 cơn cả thảy). Năm 2019, dự báo bão sẽ hoạt động chính trên khu vực Bắc và Giữa Biển Đông, xuất hiện chủ yếu trong các tháng chính mùa bão (từ tháng 7 đến tháng 11). Từ nay đến cuối năm sẽ còn khoảng 4-5 cơn bão và ATNĐ nữa, dự báo cụ thể sẽ phân hóa làm các giai đoạn như sau:

  • Trong nửa cuối tháng 9, tháng 10 năm 2019, bão có xu hướng chếch dần về hướng Tây - Tây Tây Bắc và hoạt động chủ yếu trên khu vực Bắc và Giữa biển Đông, đây là thời gian bão tập trung nhiều nhất trong năm; trong đó có khoảng 1-2 cơn đổ bộ trực tiếp đến các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hoà, ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ, cấp bão mạnh nhất có thể đạt được từ cấp 10-13. Vẫn có khả năng xuất hiện bão trái mùa đổ bộ vào ven biển Bắc Bộ trong tháng 10 năm 2019. Tuy vậy bão vẫn được dự báo tập trung nhiều hơn ở khu vực Trung Bộ, cụ thể từ Quảng Trị - Khánh Hòa là trọng điểm, trong thời đoạn này.
  • Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2019, xuất hiện từ 1-2 cơn bão và ATNĐ tập trung ở khu vực giữa và Nam Biển Đông, có khả năng đổ bộ trực tiếp vào đất liền các tỉnh ven biển từ Bình Định đến Kiên Giang, ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, cường độ có khả năng tương đương năm 2016. Có khả năng cao xuất hiện bão đổ bộ vào đất liền Nam Bộ trong tháng 11 và 12 năm 2019.
  • Đặc biệt, đề phòng sự xuất hiện của các cơn bão có cường độ mạnh và quỹ đạo phức tạp, di chuyển không theo quy luật, đổ bộ trái mùa, gây mưa lũ, nước biển dâng, sóng lớn; đặc biệt tại ven biển Bắc Bộ (9-10/2019) và Trung Bộ (9-12/2019).
Dự báo cập nhật ngày 13/09/2019 dựa trên bản tin của NCHMF ngày 15/08/2019, dự báo của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu, các mô hình dự báo dài hạn quốc tế. Các dự báo được cập nhật 1 tháng 1-2 lần.
  • Xu hướng giống mùa bão các năm: 1992, 1995, 2009.

Danh sách bão[sửa | sửa mã nguồn]

Bão Pabuk - Bão số 1[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Pabuk (2019)
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Pabuk 2019-01-04 0640Z.jpg Pabuk 2019 track.png
Thời gian31 tháng 12 năm 2018 – 5 tháng 1 năm 2019 (ra khỏi khu vực)
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10-min)  996 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 9 giật cấp 12 - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Nhật Bản): 45 kn - Bão nhiệt đới; áp suất: 994 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 50 kn - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Bắc Kinh): 28 m/s (Cấp 10) - Bão nhiệt đới dữ dội.

Cấp bão (Ấn Độ): 85 km/h (03 phút) - Bão xoáy nhiệt đới.

Cấp bão (Hàn Quốc): 23 m/s - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Đài Loan): 23 m/s - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Thái Lan): 45 kn (85 km/h) - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Indonesia): Xoáy thuận nhiệt đới.

Cấp bão (Hồng Kông): 85 km/h - Bão nhiệt đới.

  • Năm thứ 2 liên tiếp có bão sớm trên biển Đông ngay trong tháng 1 (2018 - 2019); đặc biệt hơn nữa lần đầu tiên ở biển Đông bão số 1 xuất hiện ngay ngày đầu năm mới (01/01). Tuy nhiên bão vẫn được xem là bão rớt mùa bão 2018 ở nước ta và là cơn bão trái mùa.
  • Hoa Kỳ đánh số cơn bão này là 36W vì họ quan trắc được nó đã đạt cấp độ ATNĐ trong ngày 31 tháng 12 năm 2018. Nhưng theo Việt Nam và Nhật Bản nó mạnh lên thành bão ngày 01/01/2019 nên được đặt tên Pabuk, số hiệu quốc tế 1901 và tính là bão số 1 trên biển Đông của mùa bão năm 2019.
  • Bão gây mưa trái mùa ở phía Nam nước ta trong những ngày đầu tháng 1/2019.
  • Theo Thái Lan, đây là cơn bão đầu tiên đổ bộ vào đất nước này vào mùa khô trong vòng khoảng 30 năm trở lại đây.
  • Tại Việt Nam, có một người chết, 2 người mất tích và thiệt hại ước tính là khoảng 27,87 tỷ đồng (1,2 triệu USD)[1].
  • Tại Thái Lan đã có bảy người chết và thiệt hại ước tính là 156 triệu USD (5 tỷ Bạt)[2].
  • Bão cũng giết chết một người tại Malaysia.

Áp thấp nhiệt đới 01W (Amang)[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
01W 2019-01-19 0518Z.jpg Amang 2019 track.png
Thời gian04 tháng 1 – 22 tháng 1
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10-min)  1004 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 7 - Áp thấp nhiệt đới.

Cấp bão (Hoa Kỳ): 25kt - Áp thấp nhiệt đới nhưng không được công nhận và bị hạ xuống mức Nhiễu động.

Cấp bão (Nhật Bản): 30 kt - ATNĐ - Áp suất trung tâm tối thiểu: 1004 mbar (hPa).

Cấp bão (Philipines): 45 km/h giật 60 km/h - ATNĐ.

  • Khi Mỹ công nhận là ATNĐ ngày 04/01 (tuy nhiên sau đó JTWC đã loại bỏ các cảnh báo về áp thấp nhiệt đới và hạ cấp thành nhiễu động nhiệt đới và nhận định lại rằng nó chưa đủ mạnh, dù vậy nó vẫn được giữ kí hiệu 01W) thì Nhật chỉ cho rằng là vùng nhiễu động yếu và không theo dõi trên bản đồ khí áp. Mãi 2 tuần sau (19/01/2019) Nhật mới chỉ định vùng áp thấp này phát triển thành ATNĐ khi tàn dư 01W tiến dần đến gần Philippines gặp điều kiện thuận lợi hơn.

Bão Wutip (Betty)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Wutip (2019)


Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
Wutip 2019-02-25 0345Z.jpg Wutip 2019 track.png
Thời gian18 tháng 2 – 1 tháng 3
Cường độ cực đại195 km/h (120 mph) (10-min)  920 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 105kts - Bão cuồng phong; Áp suất 920 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 140 kts - Siêu bão cuồng phong cấp 5.

  • Wutip đã vượt qua cơn bão Higos (năm 2015) trở thành cơn bão mạnh nhất được ghi nhận trong tháng 2 ở phía Tây bắc Thái Bình Dương, đồng thời cũng là cơn bão mạnh nhất trong tháng 2 trên danh sách Cục Thời tiết Đài Loan ghi nhận kể từ năm 1911.

Áp thấp nhiệt đới 03W (Chedeng)[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
03W 2019-03-17 0408Z.jpg Chedeng 2019 track.png
Thời gian14 tháng 3 – 20 tháng 3
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10-min)  1006 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 25kts - ATNĐ; Áp suất 1006 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 25kts - ATNĐ.

Cấp bão (Philippines): ATNĐ.

  • Vào ngày 14 tháng 3, áp thấp nhiệt đới 03W đã hình thành trên Liên bang Micronesia. Trong vài ngày tiếp theo, hệ thống trôi về phía tây, trong khi dần dần tổ chức. Đầu ngày 17 tháng 3, áp thấp nhiệt đới xâm nhập vào khu vực trách nhiệm của PAGASA ở Biển Philippines, và do đó, cơ quan này đã gán tên Chedeng cho cơn bão, ngay trước khi nó đổ bộ vào Palau. Vào lúc 5:30 PST ngày 19 tháng 3, Chedeng đã đi vào Malita, Davao Occidental. Chedeng suy yếu nhanh chóng sau khi đổ bộ vào Philippines, sau đó suy yếu thành vùng thấp còn sót lại vào ngày 19 tháng 3. Tàn dư của Chedeng tiếp tục suy yếu trong khi di chuyển về phía tây, tiêu tan trên quần đảo phía nam Philippines vào ngày 20 tháng 3.

Bão Sepat (Dodong)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Sepat (2019)
Bão nhiệt đới (JMA)
Subtropical storm (SSHWS)
Sepat 2019-06-28 0335Z.jpg Sepat 2019 track.png
Thời gian17 tháng 6 – 29 tháng 6
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10-min)  994 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 40 kn (75 km/h) - Bão nhiệt đới; Áp suất 994 hpa.

Cấp bão (Hoa Kỳ): 40 kn (75 km/h) - Bão cận nhiệt đới.

Cấp bão (Hồng Kông): 55 km/h - Áp thấp nhiệt đới.

Cấp bão (Bắc Kinh): 70 km/h (20 m/s): Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Hàn Quốc): 70 km/h (20 m/s): Bão nhiệt đới yếu.

Cấp bão (Đài Loan): 70 km/h (20 m/s): Bão nhiệt đới.

  • Vào ngày 17 tháng 6, JMA bắt đầu cảnh báo về 1 áp thấp nhiệt đới hình thành trên Quần đảo Caroline. Vào ngày hôm sau, áp thấp nhiệt đới di chuyển về phía đông trước khi ngừng hoạt động trên Thái Bình Dương. Vào ngày 21 tháng 6, áp thấp nhiệt đới đã nối lại chuyển động chậm về phía tây bắc. Vào lúc 19:00 Giờ chuẩn Philippines (07:00 UTC) ngày 22 tháng 6, áp thấp nhiệt đới đi vào khu vực theo dõi của PAGASA ở Biển Philippines, phía đông-đông bắc Guiuan; tuy nhiên, PAGASA không công nhận cơn bão là áp thấp nhiệt đới. Trong vài ngày tiếp theo, cơn bão đã di chuyển theo hướng đông bắc, đi qua Luzon vào ngày 24 tháng 6. Đầu ngày 25 tháng 6, áp thấp nhiệt đới đủ mạnh để PAGASA công nhận đó là một cơn bão nhiệt đới và đã gán tên Dodong cho nó. Cuối ngày hôm đó, Dodong từ từ bắt đầu quay về hướng đông bắc, sau khi đi qua phía đông bắc Luzon. JMA đặt tên cho cơn bão là "Sepat". Sau đó nó trở thành một xoáy thuận ngoại nhiệt đới do đi vào vùng biển và không khí lạnh. Bão đổ bộ lên Nhật Bản với sức gió tối đa 10 phút là 40 kn. JTWC cho rằng đây là một cơn bão cận nhiệt đới.

Bão 04W (Egay)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Egay (2019)
Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
95W 2019-06-28 0405Z.jpg Egay 2019 track.png
Thời gian27 tháng 6 – 2 tháng 7
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10-min)  1006 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ): 35 kt - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Nhật Bản): <30 kt - Áp thấp nhiệt đới.

Cấp bão (Đài Loan): 15 m/s (55 km/h) - Áp thấp nhiệt đới.

  • Sáng sớm ngày 27 tháng 6, một áp thấp nhiệt đới hình thành ở phía tây nam của Quần đảo Mariana. Vào khoảng 21:00 Giờ chuẩn Philippines (09:00 UTC), áp thấp nhiệt đới xâm nhập vào khu vực trách nhiệm của PAGASA ở Biển Philippines, mặc dù PAGASA không công nhận hệ thống này là một cơn bão nhiệt đới vào thời điểm đó. Vào ngày 28 tháng 6, JTWC đã khởi xướng các cố vấn trên hệ thống và đưa cho nó số nhận dạng 04W. Vào ngày hôm sau, PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới là Egay và JTWC đã nhận ra Egay là một cơn bão nhiệt đới. Vào ngày 30 tháng 6, áp thấp nhiệt đới Egay gặp phải gió mạnh ở biển Philippines và bắt đầu suy yếu ngay sau đó. Vào ngày 1 tháng 7, Egay đã đổ bộ vào miền nam Đài Loan và cả PAGASA và JTWC đã đưa ra những cảnh báo cuối cùng về cơn bão suy yếu. Sau đó, Egay quay về hướng bắc-tây bắc, đi qua phía bắc Đài Loan, trước khi tan biến sớm vào ngày hôm sau.

Bão Mun - Bão số 2[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Mun (2019)
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Mun 2019-07-03 0450Z.jpg Mun 2019 track.png
Thời gian01 Tháng 7 – 4 Tháng 7
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10-min)  992 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam): 65 km/h (Cấp 8) - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - Bão nhiệt đới, áp suất: 992 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 35kts- Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Bắc Kinh - Trung Quốc): 18m/s - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Hồng Kông): 55km/h - Áp thấp nhiệt đới.

Cấp bão (Hàn Quốc): 18m/s (65km/h) - Bão NĐ.

Cấp bão (Đài Loan):18 m/s (35kts|65 km/h) - Bão NĐ.

  • Hoàn lưu bão số 2 cùng rãnh áp thấp nối với nó đã gây mưa trên diện rộng cho các khu vực ở nước ta, trong đó đặc biệt là các tỉnh Trung Bộ, mưa do bão đã chấm dứt đợt nắng nóng kéo dài 29 ngày (03/6-01/7/2019) cũng như làm giảm phần nào tình trạng khô hạn nghiêm trọng, cháy rừng tại miền Trung.
  • Phần lớn thời gian hoạt động của bão (từ khi mạnh lên thành ATNĐ ngày 01/7 đến khi bão đi vào vùng biển Hải Phòng - Nam Định), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (Hải quân Hoa Kỳ) chỉ coi nó là một vùng thấp (Vùng thấp 96W). Mãi đến 01h ngày 4/7 (giờ Việt Nam) (18h UTC ngày 03/7) khi Mun đi vào vùng biển Hải Phòng - Nam Định thì cơ quan này mới công nhận Mun là bão và phát đi dự báo duy nhất.
  • Bão số 2 đổ bộ vào các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định lúc 5h ngày 04/7, tâm bão đi qua thị trấn Diêm Điền, phía Bắc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đây là cơn bão đầu tiên đổ bộ trực tiếp vào Bắc Bộ nước ta kể từ bão Dianmu (bão số 3) năm 2016, nếu tính rộng hơn trên phạm vi xoáy thuận nhiệt đới thì đây là xoáy thuận đầu tiên sau ATNĐ ngày 25/9/2017. Bão gây gió giật mạnh từ cấp 6-9 cho các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình (riêng Hải Phòng cấp 8-9 giật cấp 11) và sâu trong đất liền một số tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ.

Bão Danas (Falcon)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Danas (2019)
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Danas 2019-07-19 0400Z.jpg Danas 2019 track.png
Thời gian14 tháng 7 – 21 tháng 7
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10-min)  985 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 8 - Bão NĐ (ngừng phát tin cảnh báo vào ngày 18/07/2019).

Cấp bão (Nhật Bản): 45 kn - Bão NĐ, áp suất 985 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 45 kn - Bão NĐ.

Cấp bão (Philippines): Bão NĐ.

Cấp bão (Hàn Quốc): 24m/s (86km/h) - Bão NĐ.

Cấp bão (Đài Loan): 45 kn - Bão NĐ.

Cấp bão (Bắc Kinh-Trung Quốc): 23m/s (45kt) - Bão NĐ.

Cấp bão (Hồng Kông): 85km/h - Bão NĐ.

  • Sáng sớm ngày 14 tháng 7, một vùng áp thấp tổ chức thành áp thấp nhiệt đới ở phía tây nam Quần đảo Caroline. Cuối ngày hôm đó, áp thấp nhiệt đới xâm nhập vào khu vực trách nhiệm của PhilippinesPAGASA đã đặt cho hệ thống này tên Falcon.Chiều ngày 16 tháng 7 lúc 15 giờ theo giờ Nhật Bản, nó mạnh thành bão và JMA gán tên cho nó là Danas. Theo Hàn Quốc, cơn bão đã suy yếu thành ấp thấp nhiệt đới trước khi đổ bộ vào nước này.

Áp thấp nhiệt đới Goring[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Goring 2019-07-19 0255Z.jpg Goring 2019 track.png
Thời gian17 tháng 7 – 19 tháng 7
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10-min)  996 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam): 56 km/h (Cấp 6~7) - Áp thấp nhiệt đới (Ra khỏi biển Đông ngày 19/07/2019).

Cấp bão (Nhật Bản): 30 kt - Áp thấp nhiệt đới.

Cấp bão (Philippines): Áp thấp nhiệt đới.

Vào ngày 17 tháng 7, một áp thấp nhiệt đới hình thành từ phần phía tây của cơn bão nhiệt đới Danas, trên phần phía đông của Biển Đông, ngay ngoài khơi Luzon. Trong vài ngày tiếp theo, hệ thống di chuyển theo hướng đông bắc và vào lại Khu vực Trách nhiệm Philippines (PAGASA) và được đặt tên là Goring trong khi JTWC ban hành TCFA về Goring. Goring đã đi qua miền nam Đài Loan vào đầu ngày 19 tháng 7. Sau đó, JTWC đã hủy bỏ TCFA và đã hạ thấp cơ hội phát triển của Goring xuống mức ''trung bình''.

Bão Nari[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
91W 2019-07-24 0140Z.jpg Nari 2019 track.png
Thời gian24 tháng 7 – 28 tháng 7
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10-min)  998 hPa (mbar)
Bài chi tiết: Bão Nari (2019)


Cấp bão (Nhật Bản): 35 kn - Bão NĐ; Áp suất 998 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 35 kn - Bão NĐ.

  • Vào ngày 21 tháng 7, JTWC bắt đầu theo dõi một vùng áp thấp để hình thành tiềm năng của một cơn bão nhiệt đới. Trong điều kiện thuận lợi, hệ thống sẽ tự tổ chức trong vài ngày tới. Vào lúc 00:00 UTC ngày 24 tháng 7, nó đã phát triển thành áp thấp nhiệt đới ở phía tây quần đảo Bonin. Cơn bão dần trở nên có tổ chức hơn trong khi di chuyển theo hướng bắc-tây bắc. Đầu ngày 25 tháng 7, JTWC đã khởi xướng các cố vấn về cơn bão và đưa ra nhận dạng "07W". Đầu ngày 26 tháng 7, áp thấp nhiệt đới mạnh lên thành một cơn bão nhiệt đới và JMA đặt tên cho nó là Nari trong khi nó di chuyển về phía bắc. Cơn bão đã bao trùm miền nam Nhật Bản và khi nó di chuyển vào đất liền, nó suy yếu thành áp thấp nhiệt đới. Vài giờ sau, nó suy yếu thành mức thấp còn sót lại. Do đó, JTWC và JMA đã ngừng đưa ra cảnh báo về Nari.

Bão Wipha - Bão số 3[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Wipha 2019 08 02.jpg Wipha 2019 track.png
Thời gian30 tháng 7 – 4 tháng 8
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10-min)  985 hPa (mbar)
Bài chi tiết: Bão Wipha (2019)

Cấp bão (Việt Nam): 76 km/h (Cấp 8~9) - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Nhật Bản): 45kts - Bão nhiệt đới; Áp suất: 992 mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 40kts - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Bắc Kinh - Trung Quốc): 20m/s - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Hồng Kông): 85km/h - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Hàn Quốc): 20m/s (72km/h) - Bão nhiệt đới.

Cấp bão (Đài Loan): 20 m/s (39kts|72 km/h) - Bão nhiệt đới.

  • 22h30 ngày 02/8/2019, bão số 3 đã đổ bộ vào phía Bắc Quảng Ninh (tâm bão đi qua TP. Móng Cái), sau chuyển hướng Tây Tây Nam - Tây Nam quét dọc các tỉnh: Quảng Ninh - Hải Phòng - Hải Duơng - Hưng Yên trong ngày 03/8 và suy yếu thành ATNĐ, ATNĐ đi đến Hà Nam - Ninh Bình - Hòa Bình thì suy yếu thành 1 vùng áp thấp, trôi về phía Tây Thanh Hóa đi sang Thượng Lào và tan dần. (Riêng cơ quan khí tượng Nhật Bản cho rằng khi bão đi đến địa phận tỉnh Ninh Bình chiều tối 03/8 mới suy yếu thành ATNĐ).
  • Bão gây gió mạnh cấp 6-7 giật cấp 8-9 cho khu vực Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, cụ thể:
    • Móng Cái (17m/s giật 23m/s), Hải Dương (12m/s giật 20m/s),....
  • Cơn bão Wipha là cơn bão số 3 đổ bộ vào nước ta với sức gió từ 65km/h-85km/h. Rạng sáng ngày 30/7, JMA và NCHMF đã công nhận Wipha là một vùng áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông.Trưa ngày 30/7, NCHMF đã cảnh báo đây là cơn bão nhiệt đới, có khả năng mạnh lên thành bão là 90%. Chiều ngày 30/7, áp thấp nhiệt đới đã mạnh lên thành bão và được gọi là Wipha. Đến đêm ngày 30/7, bão đổ bộ vào đảo Hải Nam và suy yếu thành áp thấp nhiệt đới nên JMA đã ngừng cảnh báo. Tuy nhiên, chỉ 3 tiếng sau, JMA một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo khi Wipha vượt qua Vịnh Bắc Bộ và trở lại là bão. Đêm ngày 2/8 - rạng sáng ngày 3/8, bão đổ bộ vào Quảng Ninh và di chuyển dọc theo hướng Nam rồi suy yếu dần thành áp thấp nhiệt đới.
  • Hoàn lưu bão gây mưa to và ngập lụt tại các tỉnh miền Bắc nước ta, đặc biệt tại tâm bão Móng Cái. Trước đó bão cũng gây mưa lớn gió mạnh cho miền Nam Trung Quốc. Khi tiến vào nước ta, bão trút lượng mưa từ 100-300mm.

Bão Francisco[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Francisco (2019)
Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
Francisco 2019-08-05 1710Z.jpg Francisco 2019 track.png
Thời gian01 tháng 8 – 8 tháng 8
Cường độ cực đại130 km/h (80 mph) (10-min)  970 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 130km/h (80mph) 70kts - Bão cuồng phong; Áp Suất 975mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 75kts - Bão cuồng phong cấp 1.

Bão Lekima (Hanna)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Lekima (2019)
Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Lekima 2019-08-08 0232Z.jpg Lekima 2019 track.png
Thời gian02 tháng 8 – 14 tháng 8
Cường độ cực đại195 km/h (120 mph) (10-min)  920 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 95kts - Bão cuồng phong; Áp Suất 920mbar (hPa).

Cấp bão (Hoa Kỳ): 130kts - Siêu bão cuồng phong cấp 4.

Cấp bão (Philippines): Bão cuồng phong.

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 185km/h - Bão cuồng phong dữ dội.

Cấp bão (Bắc Kinh - Trung Quốc):

Cấp bão (Đài Loan):

Cấp bão (Hàn Quốc):

Bão Krosa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Krosa (2019)
Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
Krosa 2019-08-08 0400Z.jpg Krosa 2019 track.png
Thời gian05 tháng 8 – 17 tháng 8
Cường độ cực đại155 km/h (100 mph) (10-min)  950 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 85kts - Bão cuồng phong. Áp suất 950hPa

Cấp bão (Hoa Kỳ): 100kts - Bão cuồng phong cấp 3.

Một áp thấp nhiệt đới đã mạnh lên thành bão ở phía tây quần đảo Mariana ngày 6 tháng 8.

Bão Bailu (Ineng)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Bailu (2019)
Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Bailu 2019-08-24 0540Z.jpg Bailu 2019 track.png
Thời gian20 tháng 8 – 26 tháng 8
Cường độ cực đại95 km/h (60 mph) (10-min)  985 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 50kts - bão NĐ dữ dội. Áp suất 985HPa (mBar)

Cấp bão (Hoa Kỳ): 55 kts - bão NĐ

Cấp bão (Hồng Kông): 105km/h - bão NĐ dữ dội

Cấp bão (Bắc Kinh): 30m/s - bão NĐ mạnh

Cấp bão (Đài Loan): 30m/s - bão NĐ mạnh

Cấp bão (Philippines): Bão NĐ dữ dội

Bão Podul (Jenny) - Bão số 4[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Podul (2019)
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Podul 2019-08-28 1440Z.jpg Podul 2019 track.png
Thời gian25 tháng 8 – 31 tháng 8
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10-min)  992 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam) : Cấp 9 - Bão NĐ

Cấp bão (Hoa Kỳ) : 35 kts - bão NĐ

Cấp bão (Nhật Bản): 45 kts - bão NĐ. Áp suất 992 hPa ( mBar )

Cấp bão (Hồng Kông): 85km/h - bão NĐ

Cấp bão (Bắc Kinh): 25m/s (90km/h) - bão NĐ

Cấp bão (Philippines): Bão NĐ

Cấp bão (Hàn): 24m/s - 86,4 km/h - bão yếu

Cấp bão (Đài Loan): 23 m/s - 45kts - bão yếu

  • 01h ngày 30/8, bão số 4 đã đổ bộ vào đất liền tỉnh Quảng Bình, tâm bão đi qua thị xã Ba Đồn.
  • Đây là cơn bão di chuyển rất nhanh, có lúc lên tới 35km/h, cường độ không mạnh và chỉ tồn tại chưa đầy hai ngày trên biển Đông trước khi cập bờ biển Quảng Bình.

Bão Faxai[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Faxai (2019)
Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Faxai 2019-09-08 0145Z.jpg Faxai 2019 track.png
Thời gian30 tháng 8 – 10 tháng 9
Cường độ cực đại155 km/h (100 mph) (10-min)  955 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 85kts - bão CP. Áp suất 955 hPa

Cấp bão (Hoa Kỳ): 115kts - bão CP cấp 4.

  • Đêm chủ nhật ngày 8 tháng 9, bão Faxai đã đổ bộ trực tiếp lên thành phố Chiba và thủ đô Tokyo, Nhật Bản. Gió giật mạnh nhất lên tới 209 km/h được ghi nhận tại đảo Kozu, phá vỡ kỷ lục trước đó bởi cơn bão Higos năm 2002. Cơn bão đã khiến ít nhất 5 người chết và 40 người bị thương, trong đó có 2 người chết vì bị sốc nhiệt bởi khối khí nóng được cơn bão mang theo; 1 triệu người mất điện. Tại thành phố Izu, tỉnh Shizuoka, lượng mưa đo được trong 24 giờ ngày 9 tháng 9 là 440 mm, gây ngập nhiều tuyến phố và tàu điện ngầm. Do ảnh hưởng của bão, cúp bóng bầu dục quốc tế tại Tokyo đã được hoãn lại. Thiệt hại mùa màng ước tính là vào khoảng 20,84 tỷ ¥ ($194 triệu).
  • Bão Faxai là cơn bão mạnh nhất đổ bộ lên vùng Kantō kể từ khi siêu bão Ma-on năm 2004.

Bão Kajiki (Kabayan)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Kajiki (2019)
Bão nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Kajiki 2019-09-02 1500Z.jpg Kajiki 2019 track.png
Thời gian30 tháng 8 – 7 tháng 9
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10-min)  996 hPa (mbar)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 6~7 — ATNĐ

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - bão NĐ. Áp Suất: 996 hPa (mBar)

Cấp bão (Hoa Kỳ): 30kts - ATNĐ

Cấp bão (Philippines): ATNĐ

Cấp bão (Hồng Kông): 55km/h - ATNĐ

Cấp bão (Bắc Kinh): 18m/s - Bão NĐ

Cấp bão (Hàn Quốc): 18m/s - bão yếu

Cấp bão (Đài Loan): 18m/s - bão NĐ yếu

  • Khi đổ bộ vào đất liền tỉnh Thừa Thiên Huế, ATNĐ đã được Nhật Bản công nhận là bão Kajiki, tuy nhiên Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung uơng vẫn chưa công nhận là bão.
  • Có 2 ATNĐ cùng tồn tại ở biển Đông vào ngày Quốc khánh 02/9/2019 (ATNĐ còn lại là vùng thấp 94W), cùng dải hội tụ nhiệt đới gây mưa rất lớn ở các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Ngãi.
  • Diễn biến của Kajiki tương đối giống ATNĐ từ 03-09/09/2009 (cũng luẩn quẩn quanh ven biển Trung Bộ và tồn tại 2 ATNĐ song song), có khác là ATNĐ Kajiki này luẩn quẩn 1 ngày trên đất liền ba tỉnh/thành phố là Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam.
  • Lần đầu tiên kể từ tháng 2 năm 2013 (cơn bão Shanshan/ATNĐ tháng 2-2013), một xoáy thuận nhiệt đới trên biển Đông được JMA công nhận là bão và đặt tên quốc tế nhưng trong khi đó Việt Nam chỉ công nhận là một áp thấp nhiệt đới.

Bão Lingling (Liwayway)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bão Lingling (2019)
Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Lingling 2019-09-05 0437Z.jpg Lingling 2019 track.png
Thời gian31 tháng 8 – 8 tháng 9
Cường độ cực đại165 km/h (105 mph) (10-min)  940 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 90kts - bão cuồng phong. Áp suất: 940 hPa

Cấp bão (Hoa Kỳ): 120kts - bão cuồng phong cấp 4.

Cấp bão (Hồng Kông): 185km/h - siêu bão

Cấp bão (Bắc Kinh): 53m/s (190 km/h) - bão cuồng phong

Cấp bão (Hàn Quốc): 45m/s - bão cuồng phong

Cấp bão (Đài Loan): 48m/s - bão CP

Cấp bão (Philippines): bão CP

  • Bão Lingling được xem là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào nước CHDCND Triều Tiên trong lịch sử với sức gió lên đến trên 130km/h khi đổ bộ (07/9/2019). Bão Lingling cũng là cơn bão đầu tiên đổ bộ trực tiếp vào Triều Tiên kể từ bão Bolaven năm 2012.
  • Áp thấp nhiệt đới Liwayway ờ phía đông Philippines đã mạnh lên thành bão vào ngày 3 tháng 9. Bão Lingling hút tàn dư của Kajiki và vùng thấp trên biển Đông và bùng nổ sức gió vào sáng ngày 5 tháng 9, trong vòng 6 tiếng nó đã mạnh lên từ bão cấp 2 trở thành bão cuồng phong cấp 4 trên thang bão Saffir-Simpson với sức gió tối đa 1 phút là 230km/h ngay ở phía Đông Đài Loan. Bão Lingling đã đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên, phần thuộc Bắc Triều Tiên vào ngày thứ bảy. Sức gió mạnh nhất ghi nhận đươc lên tới 191 km/h. Cơn bão khiến 3 người chết và 10 người bị thương ở Hàn Quốc, 5 người chết và 3 người bị thương ở Triều Tiên. Đây là cơn bão mạnh nhất đổ bộ trực tiếp lên bán đảo Triều Tiên kể từ khi cơn bão Maemi năm 2003.

Áp thấp nhiệt đới Marilyn[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Marilyn 2019-09-12 0430Z.jpg Marilyn 2019 track.png
Thời gian10 tháng 9 – 13 tháng 9
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10-min)  996 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 30kts - áp thấp nhiệt đới, As : 996 hPa

Cấp bão (Philippines): áp thấp nhiệt đới

Áp thấp nhiệt đới này được PAGASA đặt hai cái tên bởi trước đó có thời điểm cơ quan này giáng cấp xuống vùng áp thấp nhưng JMA vẫn công nhận ATNĐ

Bão Peipah[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
17W 2019-09-15 0325Z.jpg Peipah 2019 track.png
Thời gian13 tháng 9 – 16 tháng 9
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10-min)  1000 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - bão nhiệt đới, AS 1000 hPa

Cấp bão (Hoa Kỳ): 35kts - bão nhiệt đới

Một vùng áp thấp hình thành ở giữa Thái Bình Dương ngày 14 tháng 9 và đã mạnh lên thành bão. Tuy nhiên nó chỉ giữ được cấp bão trong vòng 12 giờ trước khi suy yếu thành áp thấp nhiệt đới.

Bão Tapah (Marilyn-Nimfa)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
18W 2019-09-19 0440Z.jpg Tapah 2019 track.png
Thời gian17 tháng 9 – Đang hoạt động
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10-min)  990 hPa (mbar)

Tàn dư của Marilyn vẫn chưa suy yếu hẳn mà vẫn di chuyển ở vùng biển phía Đông Philippines nên trong ngày 17 tháng 9 nó đã hút lấy hoàn lưu của một vùng thấp ở phía Tây Luzon và nó đã mạnh lên trở lại thành một áp thấp nhiệt đới và được PAGASA gán tên là Nimfa. Sang ngày thứ sáu nó đã mạnh lên thành bão.

Áp thấp nhiệt đới khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2/5: Một vùng áp thấp hình thành trên Quần đảo Yap. Vào ngày 7 tháng 5, JMA đã nâng cấp vùng áp thấp thành áp thấp nhiệt đới. Vào ngày 8 tháng ộ Vĩ Bắc; phía Tây kinh tuyến 111,5 độ Kinh Đông. báo cuối cùng về hệ thống này.
  • 7/5: Một áp thấp nhiệt đới hình thành gần khu vực phía tây nam của Micronesia. Trong vài ngày tiếp theo, hệ thống từ từ trôi về phía tây, cường độ không thay đổi. Vào ngày 9 tháng 5, áp thấp nhiệt đới đã bắt đầu suy yếu. Xu hướng suy yếu đã tiếp tục vào ngày 12 tháng 5, khi hệ thống trôi dạt về phía tây bắc. Sau đó cùng ngày, áp thấp nhiệt đới thoái hóa thành mức thấp còn sót lại. Tuy nhiên, sáu giờ sau, vào ngày 13 tháng 5, hệ thống đã tái sinh thành áp thấp nhiệt đới và JMA đã đưa ra các cảnh báo về cơn bão. Vào ngày 15 tháng 5, áp thấp nhiệt đới suy yếu thành vùng thấp lại một lần nữa. Vào lúc 12:00 UTC ngày 16 tháng 5, tàn dư của áp thấp nhiệt đới tan trên biển.
  • 10/5: Một áp thấp nhiệt đới được hình thành ở Quần đảo Yap. Đến gần sáng ngày 11 tháng 5, áp thấp nhiệt đới đi vào Palau và suy yếu dần thành 1 vùng thấp; sau đó, vùng thấp đi về phía tây và tan trên biển vào buổi chiều ngày hôm đó.
  • 10/5: Một áp thấp nhiệt đới khác hình thành ở phía đông Mindanao và JMA đã đưa ra các cảnh báo về cơn bão. Sáng sớm ngày hôm sau, áp thấp nhiệt đới bắt đầu suy yếu, sau khi gặp phải tình trạng gió cắt mạnh trong khi tiếp tục đi về phía tây. Vào ngày 11 tháng 5, áp thấp nhiệt đới đã tan ở phía đông của Mindanao.
  • 26/6: Một áp thấp nhiệt đới hình thành trên vùng biển phía Nam Hàn Quốc và nhanh chóng chuyển thành vùng áp thấp ngoại nhiệt đới.
  • 7/8: Một vùng áp thấp hình thành ở trên biển Đông, phía tây đảo Luzon và tồn tại trong vòng 48 tiếng sau đó bị bão Lekima ờ phía đông bắc hút lấy.
  • 1/9: Một áp thấp nhiệt đới hình thành trên biển Đông, phía đông quần đảo Hoàng Sa. Áp thấp nhiệt đới di chuyển tới đảo Hải Nam và suy yếu dần thành một vùng thấp do bị áp thấp Kajiki hút lấy. Hoàn lưu của cả 2 áp thấp nhiệt đới sau đó đều bị bão Lingling ở phía đông hút lấy.
  • 4/9: Một áp thấp nhiệt đới hình thành ờ phía nam quần đảo Caroline nhưng hoàn lưu của nó cũng đã bị bão Lingling hút lấy và nhanh chóng tan biến.


Mùa bão và tên Bão[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Tên bão Thời gian
hoạt động
Cấp độ cao nhất Sức gió
duy trì
Áp suất Khu vực tác động Tổn thất
(USD)
Số người chết Tham khảo
Pabuk - Bão số 1 31 Tháng 12 năm 2018 – 05 Tháng 1 năm 2019 Bão nhiệt đới 85 km/h (50 mph) 996 hPa (29.41 inHg) Quần đảo Trường Sa, Nam Bộ, Malaysia, Thái Lan $157,2 triệu &0000000000000010.000000 10 [3]
01W (Amang) 04 Tháng 1 – 22 Tháng 1 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1004 hPa (29.65 inHg) Quần đảo Caroline, Philippines $6,04 triệu &0000000000000010.000000 10 [4]
Wutip (Betty) 18 Tháng 2 - 1 tháng 3 Siêu bão cuồng phong 195 km/h (120 mph) 920 hPa (27.17 inHg) Quần đảo Caroline, Guam $3,3 triệu Không có
03W (Chedeng) 14 Tháng 3 - 20 Tháng 3 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1006 hPa (29.71 inHg) Quần đảo Caroline, Philippines $23 nghìn &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 0
Áp thấp nhiệt đới 7 Tháng 5 - 8 Tháng 5 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1004 hPa (29.65 inHg) Yap, Palau Không có &0000000000023000.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 7 Tháng 5 - 12 Tháng 5 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1004 hPa (29.65 inHg) Quần đảo Caroline không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Vùng áp thấp 10 Tháng 5 - 11 Tháng 5 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1008 hPa (29.77 inHg) Yap, Palau không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 không có
Vùng áp thấp 13 Tháng 5 - 15 Tháng 5 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1006 hPa (29.71 inHg) Quần đảo Caroline không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 không có
Sepat (Dodong) 17 Tháng 6 - 29 tháng 6 Bão nhiệt đới 75 km/h (45 mph) 994 hPa (29.35 inHg) Quần đảo Caroline, Palau, Nhật Bản Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 26 Tháng 6 - 27 Tháng 6 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Quần đảo Ryukyu, Nhật Bản, Hàn Quốc không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 không có
04W (Egay) 27 Tháng 6 - 2 Tháng 7 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1000 hPa (29.53 inHg) Quần đảo Caroline, Yap không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 không có
Mun - Bão số 2 1 Tháng 7 - 4 Tháng 7 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 992 hPa (29.29 inHg) Nam Trung Quốc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ $326 nghìn &0000000000000002.000000 2
Danas (Falcon) 14 tháng 7 - 21 tháng 7 Bão nhiệt đới 85 km/h (50 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Đảo Yap, Philippines, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga $6,42 triệu &0000000000000005.000000 5
Goring 17 tháng 7 - 19 tháng 7 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph 996 hPa (29.41 inHg) Philippines Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Nari 24 tháng 7 - 28 tháng 7 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 998 hPa (29.47 inHg) đảo Bonin, Nhật Bản Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Wipha - Bão số 3 30 tháng 7 - 4 tháng 8 Bão nhiệt đới 85 km/h (50 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Nam Trung Quốc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Lào $44,3 triệu &0000000000000027.000000 27
Francisco 1 tháng 8 - 8 tháng 8 Bão cuồng phong 130 km/h (75 mph) 970 hPa (28.64 inHg) Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga Không có số liệu &0000000000000001.000000 1
Lekima (Hanna) 2 tháng 8 - 13 tháng 8 Siêu bão cuồng phong 195 km/h (120 mph) 920 hPa (27.17 inHg) Quần đảo Caroline, Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc $9,28 tỷ &0000000000000090.000000 90 [5][6][7][8]
Krosa 5 Tháng 8 - 17 tháng 8 Bão cuồng phong 155 km/h (100 mph) 950 hPa (28.05 inHg) Quần đảo Mariana, Nhật Bản, Nga $17,8 triệu &0000000000000003.000000 3 [9][10]
Áp thấp nhiệt đới 7 tháng 8 - 9 tháng 8 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph 996 hPa (29.41 inHg) Philippines Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Vùng áp thấp 17 tháng 8 - 19 tháng 8 Vùng áp thấp Không xác định 1006 hPa (29.71 inHg) Không có Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 19 tháng 8 - 21 tháng 8 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1004 hPa (29.65 inHg) Quần đảo Ryukyu, Đài Loan Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Bailu (Ineng) 20 tháng 8 - 26 tháng 8 Bão nhiệt đới dữ dội 95 km/h (55 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Philippines, Đài Loan, Trung Quốc $28,2 triệu &0000000000000003.000000 3
Podul - Bão số 4 25 tháng 8 - 30 tháng 8 Bão nhiệt đới 85 km/h (50 mph) 992 hPa (29.29 inHg) Yap, Philippines, Trung Quốc, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Lào, Thái Lan, Campuchia $2,43 triệu &0000000000000015.000000 15 [11][12][13][14]
Faxai 30 tháng 8 - 11 tháng 9 Bão cuồng phong 155 km/h (95 mph) 955 hPa (28.19 inHg) Nhật Bản $194 triệu &0000000000000005.000000 5 [15][16][17][18]
Kajiki (Kabayan) 30 tháng 8 - 7 tháng 9 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 996 hPa (29.41 inHg) Philippines, Nam Trung Quốc, Bắc và Trung Trung Bộ, Tây Nguyên Lào, Campuchia $12,9 triệu &0000000000000006.000000 6 [19][20]
Lingling (Liwayway) 31 tháng 8 - 8 tháng 9 Bão cuồng phong 165 km/h (105 mph) 940 hPa (27.76 inHg) Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nga $172 triệu &0000000000000008.000000 8 [21][22][23][24][25][26]
Áp thấp nhiệt đới 1 tháng 9 - 3 tháng 9 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 998 hPa (29.47 inHg) Philippines Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 4 tháng 9 - 5 tháng 9 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1006 hPa (29.71 inHg) Quần đảo Caroline Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 7 tháng 9 - 10 tháng 9 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Quần đảo Ryukyu Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới Marilyn 10 tháng 9 -13 thấnng 9 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 996 hPa (29.41 inHg) Quần đảo Caroline, Philippines, Đài Loan, Quần đảo Ryukyu Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Peipah 14 tháng 9 - 17 tháng 9 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Quần đảo Mariana Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 15 tháng 9 - 16 tháng 9 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 996 hPa (29.41 inHg) Nhật Bản Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Tapah (Nimfa) 17 tháng 9 - Đang hoạt động Bão nhiệt đới 75 km/h (45 mph) 990 hPa (29.23 inHg) Quần đảo Ryukyu, Đài Loan Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Áp thấp nhiệt đới 20 tháng 9 - Đang hoạt động Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1004 hPa (29.65 inHg) Không có Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Tổng hợp mùa bão
33 XTNĐ (Wutip Mạnh nhất) 31 tháng 12 năm 2018 –
Chưa kết thúc
 195km/h ( 120mph) 920 hPa (27.17 inHg) >&0000009752000000.000000$9.75 tỷ 186

Bảng trên đây tóm tắt tất cả các hệ thống phát triển trong hoặc di chuyển vào Bắc Thái Bình Dương, ở phía Tây của Đường Đổi Ngày Quốc tế trong năm 2019. Các bảng cũng cung cấp thông tin tổng quan về cường độ, thời gian, diện tích đất bị ảnh hưởng và mọi thuơng vong hoặc thiệt hại liên quan.

Chú ý – Quy ước các vùng để xác định vùng ảnh hưởng trực tiếp vùng đổ bộ của bão
  • Vùng đổ bộ đất liền:
    • Việt Nam: Bắc Bộ (Bao gồm cả Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ); Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Quảng Bình), Trung Trung Bộ (Quảng Trị - Quảng Ngãi), Nam Trung Bộ (Bình Định - Bình Thuận), Tây Nguyên, Nam Bộ (Bao gồm cả Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ). Các vùng này được xác định riêng biệt, không gọi chung là Việt Nam.
    • Trung Quốc: Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông, Ma Cao); Đông Trung Quốc (Phúc Kiến, Chiết Giang, Thượng Hải, Giang Tô, Sơn Đông, Hà Bắc, Bắc Kinh, Thiên Tân và các tỉnh phụ cận); Đông Bắc Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Côn Minh, Nội Mông). Các tỉnh còn lại ít hoặc hầu như Không có chịu ảnh hưởng của xoáy thuận nhiệt đới nên Không có nói đến. Nếu có 2 vùng trở lên thì gọi chung là Trung Quốc.
  • Vùng đổ bộ của các khu vực biển Đông (So với đổ bộ đất liền):
    • Việt Nam: Bắc Bộ (Bắc Vịnh Bắc Bộ); Bắc Trung Bộ (Nam Vịnh Bắc Bộ, bao gồm Thanh Hóa - Quảng Bình); Trung Trung Bộ (Vùng biển Quảng Trị - Quảng Ngãi); Nam Trung Bộ (Vùng biển Bình Định - Ninh Thuận); Nam Bộ (Vùng biển Bình Thuận - Cà Mau, Cà Mau - Kiên Giang bao gồm cả Phú Quốc và Vịnh Thái Lan); Nếu có khu vực Bắc, Giữa và Nam Biển Đông trở lên thì gọi chung là Việt Nam.

Tên quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên theo danh sách bên dưới do Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực ở Tokyo, Nhật Bản, khi một xoáy thuận đạt đến cường độ bão nhiệt đới.[27] Các tên gọi do các thành viên của ESCAP/WMO Typhoon Committee đề xuất. Mỗi nước trong số 14 nước và vùng lãnh thổ thành viên đưa ra 10 tên gọi, được sử dụng theo thứ tự ABC, bằng tên tiếng Anh của quốc gia đó.[28] Sau đây là các tên gọi dự kiến sẽ đặt tên cho các cơn bão năm 2019:

  • Pabuk (1901)
  • Wutip (1902)
  • Sepat (1903)
  • Mun (1904)
  • Danas (1905)
  • Nari (1906)
  • Wipha (1907)
  • Francisco (1908)
  • Lekima (1909)
  • Krosa (1910)
  • Bailu (1911)
  • Podul (1912)
  • Lingling (1913)
  • Kajili (1914)
  • Faxai (1915)
  • Peipah (1916)
  • Tapah (đang hoạt động)
  • Mitag (chưa sử dụng)
  • Hagibis (chưa sử dụng)
  • Neoguri (chưa sử dụng)
  • Bualoi (chưa sử dụng)
  • Matmo (chưa sử dụng)
  • Halong (chưa sử dụng)
  • Nakri (chưa sử dụng)
  • Fengshen (chưa sử dụng)
  • Kalmaegi (chưa sử dụng)
  • Fung-wong (chưa sử dụng)
  • Kammuri (chưa sử dụng)
  • Phanfone (chưa sử dụng)
  • Vongfong (chưa sử dụng)

Tên địa phương của Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Khi một xoáy thuận nhiệt đới đi vào khu vực PAGASA theo dõi sẽ được đặt tên bằng danh sách tên bão riêng của họ

Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sử dụng danh sách tên bão riêng của họ để đặt cho một xoáy thuận nhiệt đới khi nó đi vào khu vực theo dõi của họ. PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới đã hình thành trong khu vực theo dõi của họ và những xoáy thuận nhiệt đới di chuyển vào khu vực theo dõi của họ. Nếu danh sách các tên trong năm đó bị sử dụng hết, tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, và danh sách tên bão sẽ được đưa ra trước khi mùa bão bắt đầu.[29]

  • Amang
  • Betty (1902)
  • Chedeng
  • Dodong (1904)
  • Egay
  • Falcon (1905)
  • Goring
  • Hanna (1909)
  • Ineng (1911)
  • Jenny (1912)
  • Kabayan (1914)
  • Liwayway (1915)
  • Marilyn
  • Nimfa (1917)
  • Onyok (chưa sử dụng)
  • Perla (chưa sử dụng)
  • Quiel (chưa sử dụng)
  • Ramon (chưa sử dụng)
  • Sarah (chưa sử dụng)
  • Tisoy (chưa sử dụng)
  • Ursula (chưa sử dụng)
  • Viring (chưa sử dụng)
  • Weng (chưa sử dụng)
  • Yoyoy (chưa sử dụng)
  • Zigzag (chưa sử dụng)

Số hiệu cơn bão tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam một cơn bão được đặt số hiệu khi nó đi vào vùng thuộc phạm vi theo dõi của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương được xác định trên biển Đông phía Tây kinh tuyến 120 độ kinh Đông và phía bắc vĩ tuyến 5 độ vĩ Bắc. Số hiệu của bão được đặt theo số thứ tự xuất hiện của nó trong năm ví dụ: Bão số 1, bão số 2,...

Tính đến 03/09/2019, trên biển Đông có 4 (5) cơn bão và 4 (3) áp thấp nhiệt đới được nước ta công nhận.[“nb” 1] Bão số 1 được hình thành ngày 01/1/2019.

Dưới đây là các cơn bão đã được Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương đặt số hiệu trong năm 2019 (kèm theo là vùng đổ bộ):

  • Bão số 1 (Pabuk) - Đổ bộ vào Nam Thái Lan.
  • Bão số 2 (Mun) - Đổ bộ vào phía Bắc tỉnh Thái Bình.
  • Bão số 3 (Wipha) - Đổ bộ vào phía Bắc tỉnh Quảng Ninh
  • Bão số 4 (Podul) - Đổ bộ vào tỉnh Quảng Bình

Chú ý
  • Nếu bão ở trên biển Đông đang hoạt động mà chưa đến đất liền thì được coi như là Chưa đổ bộ, còn nếu bão vào đất liền thì được coi như là Đổ bộ vào tỉnh nào/Khu vực nào. Tỉnh ven biển đầu tiên mà tâm bão đi qua tại Việt Nam được tính là nơi đổ bộ chính thức của bão ở nước ta.

Lưu ý

  1. ^ Cơn bão Kajiki trên biển Đông chỉ được Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung uơng coi là ATNĐ số 01 tháng 9/2019, nên không tính là bão ở nước ta. Kajiki đổ bộ vào các tỉnh từ Quảng Trị đến Thừa Thiên-Huế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hậu quả do bão số 1: Còn 2 người mất tích, thiệt hại ước tính 30 tỷ đồng”. Kinh tế Đô thị. 6 tháng 1 năm 2019. Truy cập 7 tháng 1 năm 2019. 
  2. ^ “Thailand braces for powerful storm at southern beach towns”. 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập 7 tháng 1 năm 2019. 
  3. ^ Patpicha Tanakasempipat; Panarat Thepgumpanat (4 tháng 1 năm 2019). “One dead in Thailand as tropical storm uproots trees, blows off roofs”. Channel NewsAsia. Reuters. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ journal.com.ph (19 tháng 1 năm 2019). “Tropical Depression 01W”. Journal.com. Journal Reporter. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019. 
  5. ^ “Typhoon Lekima leaves 45 dead, 16 missing in China”. China.org.cn. 12 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2019. 
  6. ^ https://www.theweek.in/news/world/2019/08/12/typhoon-lekima-45-dead-one-million-displaced-in-china.html
  7. ^ https://www.indiatoday.in/world/story/typhoon-lekima-45-killed-over-a-million-displaced-in-china-1580095-2019-08-12
  8. ^ https://www.abc.net.au/news/2019-08-12/typhoon-lekima-claims-dozens-lives-in-china-as-damage-totals-3bn/11404132
  9. ^ Toorola (16 tháng 8 năm 2019). “Krosa fizzles as it heads for Hokkaido after leaving three dead, 50 injured in west Japan”. the japantimes. The japantimes. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019. 
  10. ^ 台風10号 長野県内農作物への被害、7700万円 (bằng tiếng Nhật). The Nikkei. 16 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019. 
  11. ^ Petinglay, Annabel Consuelo (2 tháng 9 năm 2019). 'Jenny' leaves P4.5-M damage to Antique crops”. Philippine News Agency. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2019. 
  12. ^ 姚皓 (30 tháng 8 năm 2019). “海南突发龙卷风影响3市县受灾人口超500人” (bằng tiếng Trung). 南海网. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  13. ^ Cao, Quí (1 tháng 9 năm 2019). “6 người chết, 2 người mất tích do thiên tai trong mưa bão số 4”. Kênh Thời Tiết. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019. 
  14. ^ “Sơn La thiệt hại hơn 1,8 tỷ đồng do ảnh hưởng bão số 4”. Báo Tài nguyên & Môi trường. 1 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019. 
  15. ^ Kyodo (9 tháng 9 năm 2019). “Powerful Typhoon Faxai kills three, injures 40 and wreaks havoc on Tokyo transport system”. AFP-JIJI, STAFF REPORT. The Japan Times. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2019. 
  16. ^ “Japan struggles to deal with blackout after deadly Typhoon Faxai”. Al Jazeera. 11 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019. 
  17. ^ 台風15号 千葉、農水被害193億円 台風被害で過去最大 (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shimbun. 14 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2019. 
  18. ^ 台風15号 茨城県災害条例適用へ 農林水産業 被害額14億円超に (bằng tiếng Nhật). Ibaraki News. 14 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2019. 
  19. ^ Nguyễn Quý (5 tháng 9 năm 2019). “Four die in floods, landslides as rains batter central Vietnam (Bản quốc tế)”. Vnexpress International. Vnexpress International. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2019. 
  20. ^ “Vùng bưởi Phúc Trạch chìm trong lũ”. VN Expres. 6 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2019. 
  21. ^ “Pampanga crop damage due to floods hits P5M”. Sun.Star. 4 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2019. 
  22. ^ 公共施設被害1億1300万円/台風13号 (bằng tiếng Nhật). Miyako Mainichi. 7 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2019. 
  23. ^ Chang May Choon (8 tháng 9 năm 2019). “North Korea says typhoon Lingling kills five, injured 3, damages farmland”. South Korea Correspondent. The Straits Times. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2019. 
  24. ^ “Recovery work under way in N. Korea after powerful typhoon hits peninsula”. Yonhap News Agency. 9 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2019. 
  25. ^ 叶昊鸣 (9 tháng 9 năm 2019). 台风“玲玲”共造成3省45.5万人受灾 (bằng tiếng Trung). Xinhua News. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2019. 
  26. ^ Тайфун "Линлин" подтопил почти 380 домов в Комсомольске-на-Амуре (bằng tiếng Nga). Russian Gazette. 10 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2019. 
  27. ^ Gary èPadgett. “Monthly Tropical Cyclone summary December 1999”. Australian Severe Weather. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008. 
  28. ^ “Tropical Cyclone names”. JMA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008. 
  29. ^ “Philippine Tropical cyclone names”. Philippine Atmospheric, Geophysical and Astronomical Services Administration. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]