Mạc Đăng Lượng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mạc Đăng Lượng
Minh Nghĩa đại vương
Thông tin chung
Tự Cát Giang tử
Học vấn Tiến sĩ
Tước hiệu Minh Nghĩa đại vương
Giới tính Nam
Sinh 1496
Mất 1604 (107–108 tuổi)
Triều đại Hậu Lê, Mạc

Mạc Đăng Lượng (1496-1604) là một võ quan được phong tước Quốc công dưới triều Hậu Lê.[1] Triều Mạc từng được phong chức Phó quốc vương[2] dưới thời nhà Mạc và được Mạc Thái Tổ phong tước Hoàng quận công.

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Đăng Lượng tự Cát Giang Tử tức Hoàng Đăng Quang sinh năm 1496 quê ở xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là xã Nam Tân, huyện Nam Sách, Trấn Hải Dương), ông là con cả của cụ Mạc Đăng Trắc và cụ bà Đậu Thị Minh. Ông là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi và có quan hệ họ hàng với hoàng tộc nhà Mạc.

Năm 17 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tước Quốc Công dưới triều Hậu lê, do chán ghét các phe phái tranh giành ngôi vua, ông cáo quan về ở ẩn nơi sinh ra ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương xưa (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng)

Năm 1527, Mạc Thái Tổ lập lên triều Mạc, cho mời ông ra phò tá, ban tước Hoàng quận công.

Trong chiến tranh Nam-Bắc triều, ngày 16 tháng 2, 1535 (năm Đại Chính thứ 7) ông phụng chiếu Mạc Thái Tông, ông cùng em trai Mạc Đăng Tuấn đã đưa hơn một vạn quân vào trấn thủ đất Hoan Châu. Đóng quân xứ Tiên Đô.Lập 2 tuyến phòng thủ từ huyện Nam Đường tới phủ Anh Sơn: Tuyến 1: Phủ Anh sơn, cả một vùng Tây Bắc giáp động núi Lĩnh sơn, Đông Nam giáp sông Lam ngày nay. Tuyến 2: Huyện Nam đường, Nam giáp Động núi Lĩnh sơn, Bắc giáp núi Đại Huệ. , Ngài có công chiêu lập 137 hộ dân tiền thân các dòng họ lớn ở Tổng Đặng sơn (ngày nay thuộc 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn tỉnh Nghệ An)

Từ tháng 7 năm 1571 tới năm 1575, dưới sự chỉ huy của Phụ Chính Khiêm vương Mạc Kính Điển, Hoàng Quận Công Mạc Đăng Lượng, Thạch Quận Công Nguyễn Quyện cùng các tướng nhà Mạc tiến đánh vùng Thanh Nghệ. Trong trận Lèn Hai Vai (Yên Thành), đánh thắng Lai quận công Phan Công Tích. Năm 1576,Nguyễn Quyện cùng Mạc Đăng Lượng đem quân trở ra Ngọc Sơn, Thanh Hóa đóng đồn từ Cầu Quán đến Mạo Lạp, lại cho quân mai phục hai bên đón đường. Đã bắt sống Tấn quận công Nguyễn Cảnh Hoan trên đường trở ra Yên Trường tại Bông Đồn, Độc Hiệu ngoại Thanh Hóa (Ninh Bình ngày nay).

Tháng 10, 1584, nhà Mạc tấn phong ông tước Minh Nghĩa đại vương sau tấn phong Phó Quốc Vương Triều Mạc. Cùng đợt cũng tấn phong Giáp Trưng tước Sách quốc công, Nguyễn Quyện tước Nam đạo Thường Quốc công, Mạc Ngọc Liễn tước Đà Quốc Công.

Năm 1591 ông dẫn hàng vạn quân chỉ một đêm đã đào xong sông gọi "Sông Nhà Mạc" và đắp nhiều thành lũy "Nhất dạ thành" ở vùng Duyên Hà, Hậu Tái, Thái Bình. Năm 1592, Thăng Long thất thủ, nhà Mạc thất thế, ông đổi tên thành Hoàng Đăng Quang, trước ở vùng Thạch Thành, Thanh Hóa sau về ở ẩn vùng Chân Lộc, Thanh Chương, Nam Đường. Tại đây ông sống ẩn dật, chiêu dân lập ấp, dạy học làm thuốc đến cuối đời. Năm Hoằng Định thứ 2 (1602) ông đến dâng hương chứng kiến việc di dời mộ Nguyễn Cảnh Hoan từ Rú Guộc Thanh Chương về Rú Cấm Tràng sơn, Đô Lương. Khi sống hai ông tuy ở hai chiến tuyến khác nhau nhưng rất trọng nghĩa khí của nhau. Năm 1604, ông qua đời, hưởng thọ 108 tuổi. Sau khi mất mộ 2 ông, bà được song táng tại Rú cật thuộc dãy núi Đại Huệ. Duệ hiệu của ông là: Lê triều Tiến sỹ tước Quốc Công, Mạc Triều Hoàng đại tướng (Hoàng Quận Công) phó quốc vương, gia phong Thái quốc công, tặng Hiển công vương, gia tặng Minh nghĩa đại vương, thăng Tiên đô miếu (Đền Tiên Đô), thần quang linh ứng uy đức tôn thần, bao phong phu cách Hồng hiến, gia phong anh dũng thành hoàng thượng, thượng, thượng đẳng Thần. Gia phả ghi rõ: Mộ hai ông, bà được song táng tại xã Nam Lạc: Diện tiền Lam giang thuỷ, hậu bối Đại Huệ Sơn, tả hữu viễn cận sơn thuỷ, phân hướng tý ngọ, phân kim, Kim tinh chi cục. Hàng năm con cháu thuộc 5 chi đều đến tịnh mộ. Việc chăm sóc thường xuyên do chi họ Hoàng Văn ở Nam Lĩnh trông coi. Mộ 2 ông, bà được xây dưới chân núi Đại Huệ theo hình chữ nhật dài 4,25m và rộng 2,50m. Năm 1992 con cháu 5 chi họ Hoàng đã di chuyển mộ phần hai ông, bà ( Mạc Đăng Lượng- Mai Thị Huệ) về hợp táng tại nghĩa trang họ Hoàng Trần ở Hòn Lửa xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ an.

Thờ tự[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền sau khi đánh thắng quân Thanh, trên đường trở về Quang Trung phong ông làm Thượng Đẳng thần.

Vua Lê Hiển Tông và Triều Nguyễn, các vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định có 9 sắc phong ông cùng (con trai Hoàng Bá Kì là Đoan túc tôn thần), em trai Mạc Đăng Tuấn và hậu duệ Hoàng Đăng Ích là Thành Hoàng thượng đẳng Phúc thần, được thờ phụng chung tại Đền Tiên Đô lễ khai hạ (lễ hội Đền Tiên đô) mồng 7 tháng giêng; Lễ lục ngoạt 16 tháng 6 cũng là ngày kỵ nhật của ông; Di tích Quốc gia nhà thờ họ Hoàng Trần xã Đặng SơnTừ Đường họ Hoàng trần, Hoàng Văn, Hoàng Bá làng Lương sơn xã Bắc sơn; Từ Đường họ Hoàng Bá làng Khả phong xã Nam Sơn; Từ Đường họ Hoàng sỹ xã Yên Sơn; Từ Đường họ Hoàng văn xã Đà sơn thuộc huyện Đô Lương Nghệ an; Di tích Quốc gia Đền Tán Sơn xã Xuân Hòa và các chi họ Lê Đăng thuộc huyện Nam Đàn, Thanh Chương tỉnh Nghệ an.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Cụ nội: Mạc Đăng Đạt đậu tiến sỹ đời Hồng Đức vợ là công chúa Ngọc Hoa.

Ông nội: Mạc Đăng Kiệt;

Bà nội: Đào thị Hàm.

Cha: Mạc Đăng Trắc: quê ở xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là xã Nam Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương) Mùa xuân năm Kỷ tỵ (1469) niên hiệu Quang thuận ( 1460-1469) Cụ bác, chú ruột Mạc Thái Tổ là Tạo sỹ ( Tiến sỹ võ) Mạc Đăng Hùng Võ nghệ siêu quần , có tài đá cầu bị khép tội chết do đá cầu mua vui rơi vào chân Vua Lê Thánh Tông ngự xem trên thuyền rồng ở Sông Cầu. Gia đình họ hàng tránh đại họa phải chạy các nơi… Ông Mạc Đăng Thiệu cùng anh trai Mạc Đăng Thuật (tức Mạc Hịch- Mạc Bình) và cụ nội Mạc Đăng Kiệt và cụ tổ Mạc Đăng Trắc cùng gia đình anh em phải chạy lánh nạn xuống ở làng Cổ trai ,Ngũ Đoan, Nghi Dương. Sinh tổ Mạc Đăng Lượng ở đây .

Mẹ: Đậu Thị Minh làng Câu Tử Nội xã Hợp Thành huyện Thủy Nguyên (Thủy Đường), Hải Phòng là cô bà Đậu thị Giang vợ Thái Tông Mạc Đăng Doanh.

Vợ: Mai Thị Huệ. Dòng họ Mai Khoa bảng thôn Trung xã Đào Tai huyện Quế Dương, Kinh Bắc.

Các con: - Hoàng Đăng Lưu tự Pháp Lưu - Hoàng Đăng Đạo tự Nhã Đạo. - Hoàng Đăng Kì tự Bá Kì - Hoàng Đăng Ngọc tự Kim Ngọc - Hoàng Đăng Thuật tự Phúc Diện.

Em trai: Mạc Đăng Hào tức Mạc Đăng Tuấn năm 1535 cùng vào Trấn thủ đất Hoan Châu. Sau năm 1592 đổi tên Hoàng Tuấn Ngạn.

Duệ hiệu: Quốc tử Giám sinh. Lê triều đặc tiến kinh diên, Khâm tặng Minh Tề Đại Vương, anh dũng Thành Hoàng tự Đăng Tuấn Thượng Đẳng thần.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tam Tĩnh Đào, Thư viện Nghệ An. Khoa bảng Nghệ An, 1075-1919. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Thư viện Nghệ An, 2000. Trang 219.
  2. ^ “Đền Tán Sơn và mộ đồng chí Lê Hồng Sơn”. Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.