Mộ Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Mộ Đức

Huyện
Hành chính
Tỉnh
Địa lý
Tọa độ

Diện tích

Dân số
Khác

Huyện Mộ Đức là một huyện đồng bằng, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.Mộ Đức là huyện đồng bằng trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Ngãi. Có Quốc lộ 1, Quốc lộ 24 và đường sắt Thống Nhất chạy qua. Nghề chính xưa nay vẫn là nghề nông, công thương nghiệp truyền thống có một số làng nghề đáng chú ý và ngày nay đang được đẩy mạnh. Mộ Đức là quê hương của nhà chính trị, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Phía Bắc của Mộ Đức giáp huyện Tư Nghĩa và thành phố Quảng Ngãi, phía Nam giáp huyện Đức Phổ, phía Tây giáp huyện Nghĩa Hành, phía Đông giáp biển Đông, với tổng chiều dài bờ biển là 23 km.Hình thể huyện tựa như một hình tam giác, nhọn hẹp ở phía bắc, phình rộng ở phía nam.Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 212,23 km2. Dân số của huyện là 144.230 người tạo nên mật độ 665,5 người/1 km2.Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Quảng Ngãi – Bình Định đi qua đang được xây dựng.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ ở huyện có biên độ dao động thấp, quanh giá trị trung bình hàng năm là 27,5độ C. Thời tiết luôn biến đổi bất thường, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.

Tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Về tự nhiên, huyện Mộ Đức là dải đồng bằng ven biển, có núi cao ở phía tây như núi Lớn (Đại Sơn), núi Giàng, có các đồi sót ở rải rác trong huyện như núi Long Phụng, núi Điệp, núi Vom, núi Văn Bân, núi Ông Đọ, núi Thụ, núi Long Hồi. Chạy dọc ở phía bắc có sông Vệ (làm ranh giới với huyện Tư Nghĩa), từ sông Vệ có có chi lưu là sông Thoa chảy theo hướng đông nam, qua vùng trung tâm huyện. Từ tây sang đông, Mộ Đức có 4 kiểu địa hình, lần lượt là: vùng cao, vùng trung bình, vùng thấp, doi cát ven biển.

Bờ biển Mộ Đức dài 32 km, nhưng là bãi ngang, chỉ có cửa Lở mở lấp hằng năm.

Đồng bằng Mộ Đức khá màu mỡ, thích hợp với cây lúa nước và nhiều giống cây trồng khác, tuy nhiên một số vùng hay bị úng ngập, nhất là dọc phía đông Quốc lộ 1. Đất gò đồi ở Mộ Đức có nhiều đá ong, có đất cao lanh, ở Tú Sơn, Thạch Trụ có suối khoáng.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính nhỏ hơn, gồm 12 : Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Hòa, Đức Lân, Đức Lợi, Đức Minh, Đức Nhuận, Đức Phong, Đức Phú, Đức Tân, Đức Thắng, Đức Thạnhthị trấn Mộ Đức (huyện lỵ).

Toàn bộ được chia thành 69 thôn và tổ dân phố. Các thôn của các xã trong huyện:

-Xã Đức Tân có 5 thôn:Thôn 1,Thôn 2,Thôn 3,Thôn 4 và Thôn 7 (Xưa là làng Thi Phổ Nhất).

-Xã Đức Phong có 5 thôn:Lâm Thượng,Lâm Hạ,Châu Me,Thạch Thang,Văn Hà.

-Xã Đức Nhuận có 8 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 đến thôn 8 (Trước năm 2003 có 2 thôn: Bồ Đề, Năng An).

-Xã Đức Lợi có 4 thôn: An Mô, An Chuẩn, Kỳ Tân, Vĩnh Phú.

-Xã Đức Thắng có 7 thôn: Dương Quang, Gia Hòa, Tân Định, An Tĩnh, Thanh Long, Mỹ Khánh, Đại Thạnh.

-Xã Đức Chánh có 6 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 đến thôn 6 (Trước kia là các thôn Văn Bân, An Phong, Kiến Khương, Hoài An).

-Xã Đức Hiệp có 5 thôn: An Long, Nghĩa Lập, Phú An, Phước Sơn, Chú Tượng.

-Xã Đức Hòa có 9 thôn: Phước An, Phước Luông, Phước Hiệp, Phước Điền, Phước Mỹ, Phước Toàn, Phước Xã, Phước Chánh, Phước Tây (xưa là 6 xã Vạn Phước).

-Xã Đức Phú có 5 thôn: Phước Vĩnh, Phước Thuận, Phước Đức, Phước Hòa, Phước Lộc (xưa là các thôn Vĩnh Trường, Vạn Lộc).

-Xã Đức Lân có 4 thôn: Tú Sơn 1, Tú Sơn 2, Thạch Trụ Đông, Thạch Trụ Tây (xưa là hai làng Tú Sơn, Thạch Trụ).

-Xã Đức Thạnh có 4 thôn: Phước Thịnh, Lương Nông Bắc, Lương Nông Nam, Đôn Lương (xưa là làng Thi Phổ Nhì).

-Xã Đức Minh có 4 thôn: Minh Tân Bắc, Minh Tân Nam, Đạm Thuỷ Bắc, Đạm Thuỷ Nam.

-Thị Trấn Mộ Đức có 3 Tổ Dân Phố là TDP 1, TDP 2, TDP 3.

Cư dân huyện Mộ Đức chủ yếu là người Việt, trong tổng số dân 143.668 người chỉ có 36 người Hrê sống ở phía tây xã Đức Phú (thời điểm năm 2005). Xưa kia có một số người Hoa đến buôn bán, sinh sống ở Lạc Phố. Cư dân chủ yếu sống bằng nghề nông, kết hợp với đánh cá, làm nghề thủ công, buôn bán. Mật độ dân cư ở Mộ Đức khá cao (năm 2005 là 682 người/km2 so với mật độ trung bình toàn tỉnh là 250 người/km2, mật độ các huyện đồng bằng 569 người/km2). Dân cư cần cù, hiếu học và có truyền thống yêu nước khá nổi bật. Mộ Đức là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử và nhiều chí sĩ cách mạng nổi tiếng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Đời nhà Hồ, Mộ Đức có tên là huyện Khê Cẩm thuộc châu Nghĩa, một trong bốn châu của lộ Thăng Hoa (tức Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay). Đời Lê, Mộ Đức có tên là huyện Mộ Hoa bao gồm rẻo đất từ nam sông Vệ đến hết đèo Bình Đê (giáp giới với tỉnh Bình Định ngày nay).

Đời Lê, huyện Mộ Hoa có 53 xã, thôn. Đến đời Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vì kỵ huý, huyện Mộ Hoa phải đổi lại là Mộ Đức, tuy địa giới vẫn như trước, nhưng có đến 6 tổng với 175 xã thôn. Sáu tổng ở Mộ Đức là Quy Đức, Cảm Đức, Triêm Đức, Ca Đức, Lại Đức, Tri Đức.

Từ cuối thế kỷ XIX (dưới thời Pháp thuộc), các tổng, xã phía nam tách lập châu rồi huyện Đức Phổ, các xã phía bắc - tây bắc nhập vào huyện Nghĩa Hành.

Năm 1932, huyện Mộ Đức đổi là phủ Mộ Đức.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Mộ Đức mang tên là huyện Nguyễn Bá Loan (tên một chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần vương, Duy tân), sau đó lấy lại tên cũ, các tổng được bãi bỏ, các xã cũ hợp lại thành xã mới lớn hơn và trực thuộc huyện. Sau nhiều lần điều chỉnh, huyện Mộ Đức đã ổn định với 11 xã là các xã Đức Nhuận, Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Minh, Đức Thạnh, Đức Tân, Đức Hòa, Đức Phú, Đức Phong, Đức Lân.

Huyện được giải phóng hoàn toàn vào ngày 23 tháng 3 năm 1975.

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Mộ Đức có 12 xã là Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Hòa, Đức Lân, Đức Lợi, Đức Minh, Đức Nhuận, Đức Phong, Đức Phú, Đức Tân, Đức Thắng, Đức Thạnh. Trong thời kỳ chính quyền Sài Gòn kiểm soát, huyện Mộ Đức đổi tên là quận Mộ Đức, kể từ giữa 1958 tên các xã đổi lại, với tổng số 12 xã: xã Đức Nhuận đổi là xã Đức Quang; xã Đức Hải tách lập từ một phần xã Đức Thắng; xã Đức Thắng đổi là xã Đức Phụng; xã Đức Chánh đổi là xã Đức Hoài; xã Đức Hiệp đổi là xã Đức Thọ; xã Đức Minh đổi là xã Đức Lương; xã Đức Thạnh đổi là xã Đức Phước; xã Đức Tân đổi là xã Đức Vinh; xã Đức Hòa đổi là xã Đức Thạch; xã Đức Phú đổi là xã Đức Sơn; xã Đức Phong đổi là xã Đức Thuận; xã Đức Lân đổi là xã Đức Mỹ.

Phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng vẫn gọi theo tên xã có từ thời kháng chiến chống Pháp. Riêng xã Đức Hải do chính quyền Sài Gòn thành lập, từ ngày 11.3.1966, đặt tên là xã Đức Lợi.

Thị trấn Mộ Đức được thành lập ngày 12-3-1987 với tên ban đầu là thị trấn Đồng Cát, trên cơ sở sáp nhập thôn 2 (trừ xóm Cây Gạo), thôn 4 (trừ xóm Chòi), thôn 5 và thôn 6 của xã Đức Tân.

Ngày 1-10-1992, thị trấn Đồng Cát giao cho xã Đức Tân quản lý diện tích và dân cư thôn 4 (trừ sân vận động và 1,8 ha vùng Gò Giàng), đồng thời nhận lại của xã Đức Tân 17 ha ruộng phía đông bắc cầu Bà Trà, 214 ha đất màu vùng Đá Bàn phía tây kênh nam sông Vệ và diện tích vùng núi lớn (lấy ranh giới là đường phân thuỷ từ đỉnh Lỗ Tây xuống phía nam hồ Đá Bàn), cùng thời điểm đổi tên thành thị trấn Mộ Đức[1]).

Trong tương lai, huyện sẽ nâng cấp Thạch Trụ và Nam Sông Vệ lên thành thị trấn, nâng số thị trấn lên thành 3 thị trấn.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Về kinh tế, Mộ Đức là huyện trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nông từ xưa đến nay vẫn là ngành sản xuất chính, một nguồn sống quan trọng của nhân dân trong huyện, trong khi tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao và góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiến bộ.

Nông lâm ngư nghiệp :Tính đến năm 2005, trong số trên 144.500 người dân của Mộ Đức, có đến trên 113.000 người sống bằng nghề nông, lâm và ngư nghiệp (chủ yếu là nghề nông) với gần 55.500 lao động (so với 12.500 lao động trong các nghề khác), chiếm khoảng 5/6 tổng số lao động của toàn huyện. Trừ xã Đức Lợi chủ yếu sống bằng ngư nghiệp, các xã khác hầu hết dân số đều sống bằng nghề nông. Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản là 397,803 tỉ đồng (giá trị hiện hành 2005), trong đó nông nghiệp chiếm đến 309,399 tỉ đồng (trồng trọt 229,029 tỉ đồng, chăn nuôi 69,162 tỉ đồng), các dịch vụ nông nghiệp trên 11,208 tỉ đồng, lâm nghiệp trên 5,554 tỉ đồng, thủy sản gần 82,850 tỉ đồng.

Ngành chăn nuôi được chú ý phát triển, trong đó chủ yếu là chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, heo, gà, vịt, dê... Số lượng vật nuôi ở Mộ Đức năm 2005 như sau: 1) Trâu 1.656 con (nhiều nhất ở các xã Đức Phú 420 con, Đức Hòa 235 con, Đức Phong 253 con); 2) Bò 19.026 con (nhiều nhất ở các xã Đức Lân 2.860 con, Đức Phong 2.090 con, Đức Phú 2.540 con); 3) Lợn 90.570 con (nhiều nhất ở các xã Đức Phong 15.088 con, Đức Chánh 14.072 con, Đức Nhuận 12.304 con); 4) Dê 1.621 con; 5) Gà 161.500 con; 6) Vịt 116.000 con; 7) Ngan, ngỗng 137.145 con.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huyện có bãi biển Minh Tân, cách khu lưu niệm Phạm Văn Đồng 5 km về phía Đông.
  • Có những suối đẹp như: Suối Mơ (Đức Tân), Hố Vực (Đức Phú), Hóc Sằm (Đức Phú).
  • Thắng cảnh đẹp như: Núi Long Phụng-Chùa Ông Rau (Đức Thắng), Rừng Nà (Đức Thạnh), Suối Nước Nóng (Đức Lân).
  • Ngày 01/09/2008, Bộ văn hóa - thể thao và du lịch, Bảo tàng cách mạng Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức khánh thành khu lưu niệm bác Phạm Văn Đồng (Đức Tân).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Bản mẫu:Danh sách xã, thị trấn thuộc huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi