M1 Garand

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Súng trường M1 Garand
M1 Garand rifle - USA - 30-06 - Armémuseum.jpg
Góc nhìn phải và trái của súng trường M1 Garand
LoạiSúng trường, Súng trường bán tự động, súng trường chiến đấu
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
 Ý (Sau Thế chiến 2, Ý sản xuất tại nhà máy của hãng Beretta dưới tên gọi: Beretta BM-59)
 Đế quốc Nhật Bản (sao chép bất hợp pháp những khẩu M1 Garand thu được từ quân Mỹ dưới tên gọi Type 5 Garand)
Lược sử hoạt động
Phục vụ1936-1957 (Hoa Kỳ)
1940-nay (Nhiều quốc gia khác)
Sử dụng bởi Liên Hiệp Quốc
 Hoa Kỳ
 Ý
 Nhật Bản
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Canada
 Colombia
 Israel
 Jordan
 Hàn Quốc
 Trung Hoa Dân Quốc
 Trung Quốc
 Singapore
 Indonesia
 Malaysia
 Tây Đức
 Đức
 Pháp
 Brasil
 Uruguay
 Mexico
 Úc
 New Zealand
 Lào
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Thái Lan
 Philippines
 Na Uy
 Đan Mạch
 Cuba
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Xung đột Ả Rập-Israel
Chiến tranh Đông Dương
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Tây-Nam
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Cách mạng Cuba
Lược sử chế tạo
Người thiết kếJohn Garand
Năm thiết kế1932
Nhà sản xuấtSpringfield
Winchester
Harrington & Richardson
International Harvester
Beretta (Ý)
Breda (Ý)
Springfield Armory , Inc. (Phiên bản dân sự)
Giai đoạn sản xuất1937-1957
Số lượng chế tạo5,468,772 khẩu
Các biến thểM1C Garand
M1D Garand
Type 5 Garand (phiên bản do Nhật Bản sao chép bất hợp pháp từ những khẩu M1 Garand họ thu được từ quân Mỹ cùng với một vài sửa đổi nhỏ như về số lượng đạn từ ổ đạn 8 viên lên thành ổ đạn 10 viên, cỡ đạn từ .30-06 Springfield thành 7.7x58mm Arisaka. Ngoài ra, nó cũng được thay một bộ báng mới (bộ báng của súng trường Arisaka Type 99), khóa giữ kẹp đạn ở bên trái của mẫu Type 5 Garand cũng bị loại bỏ. Hệ thống ngắm cũng được sửa đổi từ thước ngắm cuộn với đầu ngắm tròn của bản gốc sang thước ngắm lên thẳng với đầu ngắm hình chữ U vuông. Tên tiếng Nhật của súng là: 四式自動小銃, phiên âm: Yon-shiki jidousyoujyuu)
Thông số
Khối lượng4.31 kg (Khi chưa nạp đạn)
5.38 kg (Khi đã nạp đầy ổ đạn 8 viên)
Chiều dài1,100mm (43.5 in)

Đạn.276 Pedersen (7x51mm) phiên bản thử nghiệm T3E2 Garand
.30-06 Springfield (phiên bản chinh thức phục vụ trong quân đội Mỹ từ năm 1937 đến năm 1953)
7.62x51mm NATO (Phiên bản M1 Garand phục vụ quân đội Mỹ từ sau năm 1953 cho đến khi bị khẩu M14 thay thế vào năm 1957)
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Khóa nòng xoay
Tốc độ bắn120 viên/phút
Vận tốc mũi853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả402 m
Tầm bắn xa nhấtKhoảng 600 m
Chế độ nạpKẹp đạn 8 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồi hoặc kính ngắm M84
Tướng Charles M Wesson (người mặc quân phục, cầm súng, đứng ở giữa) đang thử nghiệm khẩu M1 Garand ở tại trường bắn thử nghiệm của nhà máy vũ khí Winchester. Cha đẻ của súng, ông John Canticus Garand là người mặc com lê, đeo kính đứng bên phải tướng Wesson.

Súng trường M1 Garand là mẫu súng trường bán tự động được một thợ súng người Mỹ gốc Canada là John Garand thiết kế. Ông Garand bắt đầu thiết kế súng trường bán tự động từ năm 1921 thế nhưng phần lớn những thiết kế của ông trong thời gian này đều thất bại và chúng chỉ là nguyên mẫu để cho ông thử nghiệm nhằm để thiết kế ra được một mẫu mới tốt hơn so với các mẫu trước. Súng bắt đầu được sản xuất hàng loạt từ năm 1938 tại hãng chế tạo vũ khí Springfield Armory - nơi súng được thiết kế. Nó được trang bị cho bộ binh Hoa Kỳ và đây cũng là một trong những loại súng trường bán tự động đầu tiên trên thế giới. M1 Garand ngừng hoạt động tại Mỹ từ sau năm 1957 vì quân đội Mỹ đã chọn khẩu M14 mới hơn, hiện đại hơn để thay thế cho M1 Garand nhưng nó vẫn tiếp tục hoạt động tại nhiều quốc gia khác trong nhiều cuộc chiến như Chiến tranh Việt Nam. Đây là một trong những loại súng trường chiến đấu thành công nhất trong Thế chiến II, tương tự như Mosin-Nagant hay SVT-40 (của Liên Xô), Lee-Enfield (của Anh), Karabiner 98k hay Gewehr 43 (của Đức).

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

M1 Garand được trưng bày trong viện bảo tàng lịch sử ở Stockholm, Thụy Điển.

Súng được thiết kế sau khi Quân đội Mỹ đặt ra yêu cầu về một loại súng trường mới để thay thế cho mẫu súng trường bắn phát một đã cũ từ thời thế chiến thứ nhấtM1903 Springfield và M1917 "Enfield". Đồng thời, mẫu súng mới cũng cần phải có uy lực, tốc độ bắn cũng như tầm bắn mạnh mẽ và vượt trội hơn 2 mẫu M1903 và M1917 "Enfield". John Garand - một thợ súng người Mỹ gốc Canada đã thành công trong việc thiết kế ra được một mẫu súng như vậy tại phòng thiết kế số 28 của hãng chế tạo vũ khí Springfield Armory có trụ sở ở Massachusetts, Hoa Kỳ. Vào năm 1936 thì Quân đội Mỹ đã chấp nhận sử dụng mẫu thiết kế này của ông Garand dưới tên gọi là súng trường M1 (M1 Rifle). Và từ năm 1938 thì mẫu súng trường này được đặt tên theo cùng với tên của nhà thiết kế là M1 Garand. Súng phục vụ tại Hoa Kỳ từ năm 1937 đến 1957. Từ năm 1957 trở đi thì nó bị thay thế bằng M14 (hay là từ sau năm 1969 trở đi thì bị thay thế hoàn toàn bởi M16). Hiện nay, một số khẩu M1 Garand đã được đưa vào viện bảo tàng, một số khẩu thì lại được sử dụng để tập bắn hay đóng các bộ phim, làm các tựa game về thời Thế chiến thứ hai (Series Call of Duty 1, 2, 3, WaW, WWII hay series Battlefield như 1942 hay V,...), Chiến tranh Đông Dương (7554), Chiến tranh Việt Nam (Rising Storm 2: Vietnam, Battlefield Bad Company 2 Vietnam,...). Một số khác thì lại được bày bán tại các cửa hàng kinh doanh vũ khí dân dụng tại thị trường Mỹ. Một số khác nữa thì lại được Lục quân Mỹ, Hải quân Mỹ và các học viên của Học viện West Point sử dụng trong các nghi thức, nghi lễ hàng năm của họ như: lễ kỉ niệm ngày Quốc khánh nước Mỹ (ngày 4/7 hàng năm), lễ chào cờ, lễ tưởng niệm các anh hùng của quân đội Mỹ đã hi sinh trong các cuộc chiến, lễ khai giảng cũng như lễ tốt nghiệp của học viện West Point, lễ kỉ niệm ngày thành lập lục quân Mỹ (ngày 14/6 hàng năm), hải quân Mỹ (ngày 13/10 hàng năm),...

M1 Garand sau này có rất nhiều phiên bản mà nổi tiếng là M1C Garand và M1D Garand, ngoài ra còn có phiên bản dùng kính ngắm M84 dành cho lính bắn tỉalính dù. Tuy nhiên, phiên bản bắn tỉa của khẩu Garand thì lại ít phổ biến hơn do khi lắp ống ngắm lên khẩu Garand thì nó làm chắn mất vị trí nạp đạn của khẩu súng do khẩu M1 Garand nạp đạn bằng 1 kẹp đạn với 8 viên đạn trên thân súng. Vẫn còn nhiều phiên bản khác nữa do Hải quânLục quân Mỹ tự thiết kế trong thời gian Thế chiến 2 diễn ra.

Trong thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ binh Mỹ đang bắn M1 Garand tại Bastogne trong lúc thế chiến thứ hai còn tiếp diễn.
Hai người lính Mỹ ở Mặt trận Thái Bình Dương trong thế chiến thứ hai đang tiến hành tháo lắp để vệ sinh 2 khẩu M1

M1 Garand rất phổ biến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó xuất hiện lần đầu tại các cuộc chiến giành lại các đảo từ tay phát xít Nhật do Mỹ phát động. Nó được trang bị cho Lục quân Hoa Kỳ và cả Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Sau này, nhiều quốc gia trong khối đồng minh bắt đầu nhận được những khẩu M1 Garand từ Mỹ. Sau khi mặt trận phía Đông (chống quân phát xít Đức) được mở thì M1 Garand cùng các đơn vị lính dù và lục quân của Mỹ bắt đầu xuất hiện tại đây.

Quân đội Hoàng gia Anh, Hồng quân Liên Xô, Bát lộ quân, Tân Tứ quân của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc dân Cách mệnh Quân của Trung Quốc Quốc dân Đảng đều được Quân đội Mỹ viện trợ một số lô súng M1 Garand nhưng họ ít sử dụng (hoặc thậm chí là không sử dụng) vì họ cũng có những mẫu súng khác chẳng thua kém gì M1 Garand. Anh có Lee-Enfield, Liên Xô có Mosin-Nagant. Quân đội Trung Quốc thì lại dùng nhiều những khẩu Mosin-Nagant được Liên Xô viện trợ hay những khẩu súng trường Hanyang Type 24 "Trung Chính" do nhà máy quân khí Hán Dương của họ sao chép bất hợp pháp từ mẫu Mauser "Standardmodell" 1924 của Đức. Ngoài 2 mẫu súng trường chiến đấu bắn phát một này ra thì quân đội Trung Quốc của cả 2 phe (Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông) còn dùng khẩu M1941 Johnson nữa. Thậm chí, Hồng quân Liên Xô còn có riêng cho mình khẩu súng trường bán tự động là SVT-40 tốt hơn M1 Garand nhiều.

M1 Garand cùng với M1 Carbine đã trở thành 2 khẩu súng trường thành công nhất của Quân đội Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

M1 Garand được Mỹ cùng đồng minh của mình sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Triều Tiên, nhiều đơn vị súng trường bộ binh cùng Thủy quân Lục chiến cũng sử dụng cả M1 Garand và M1 Carbine, đối chọi với họ là các đơn vị súng trường của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều TiênTrung Quốc được trang bị súng trường Mosin-Nagant của Liên Xô. Tuy Mosin-Nagant có tầm bắn xa, sức công phá mạnh hơn nhưng M1 Garand có tốc độ bắn nhanh hơn (bán tự động) nên Mosin-Nagant bị yếu thế trong các trận đánh ở cự ly gần. Nhưng từ sau năm 1952 thì liên quân Trung - Triều được trang bị súng trường bán tự động SKS với số lượng lớn (được Liên Xô sản xuất và viện trợ cho) thì khi ấy, họ đã lấy lại thế cân bằng với quân Mỹ và quân Đại Hàn được trang bị súng M1 Garand và M1 Carbine. Qua 2 đợt viện trợ, đợt một là từ năm 1950 đến năm 1953 và đợt hai là từ năm 1964 đến năm 1974 thì Hàn Quốc đã nhận được tổng cộng tới 296,450 khẩu M1 Garand từ Mỹ.

Sự kiện Vịnh Con Lợn[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sự kiện Vịnh Con Lợn (The Bays of Pig) thì những Cuba chống cộng sống lưu vong tại Mỹ được CIA đào tạo kỹ càng và trang bị nhiều loại vũ khí từ thời Thế chiến 2, trong đó có súng trường M1 Garand nhưng cuộc đổ bộ này bất thành và phía Cuba nhanh chóng tổ chức bắt giữ những kẻ đột nhập bất hợp pháp này cũng như thu toàn bộ vũ khí.

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ông John Garand (người mặc Com lê, đeo kính đứng ở bên trái) đang chỉ cách sử dụng khẩu M1 của ông cho trung tướng Charles M. Wesson (người mặc quân phục đứng ở giữa) và thiếu tướng Gilbert H. Stewart (người mặc quân phục đứng ở bên phải).

Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, cả hai phe là Pháp - Quốc gia Việt NamViệt Nam Dân chủ Cộng hòa đều sử dụng M1 Garand. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được lực lượng OSS của Mỹ viện trợ cho một số lượng ít súng M1 Garand trong giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới thứ hai để chống lại Nhật với tư cách là một đồng minh. Kể từ sau năm 1950 thì họ được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa viện trợ cho một số lượng lớn súng M1 Garand cùng với đạn .30-06 Springfield (của khẩu M1) mà Trung Quốc còn tồn kho rất nhiều sau chiến tranh. Số súng M1 Garand và đạn .30-06 của khẩu súng này là do Mỹ sản xuất và viện trợ cho cả 2 phe là: Trung Hoa Quốc dân Đảng của Tưởng Giới ThạchĐảng Cộng sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông trong Chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách là đồng minh chống Nhật chủ yếu của Mỹ ở Mặt trận Thái Bình Dương. Về phía Pháp thì họ cũng được Mỹ bán lại cho rất nhiều những lô súng M1 Garand còn tồn kho từ thời Thế chiến thứ 2 với giá rẻ. Quân Pháp dùng nó rất nhiều trong những cuộc chiến với quân đội Việt Minh vào những thời điểm đầu của cuộc chiến (từ 1946 đến 1951). Kể từ sau năm 1951 trở đi thì lính Pháp đưa vào trang bị những khẩu MAS-49 do họ tự chế tạo và sản xuất nội địa để thay thế cho những khẩu M1 Garand trong biên chế của mình nhưng Quân đội Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại, tay sai của Pháp ở Việt Nam thì lại sử dụng rất nhiều khẩu súng này vì người Pháp chưa có đủ số lượng súng MAS-49 để trang bị cho toàn bộ lính của một quân đội vừa đông mà lại còn quá yếu kém về kĩ thuật cũng như trình độ chiến đấu như Quân đội Quốc gia Việt Nam. Chính vì lý do đó, để tiết kiệm về mặt tài chính, người Pháp quyết định phân phối lại những khẩu M1 Garand cùng với đạn .30-06 của khẩu súng này (được người Pháp đặt mua từ Mỹ) cho lính Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại sử dụng tiếp. Trong giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1964 thì Quân đội Pháp đã nhận được từ Quân đội Hoa Kỳ 232,500 khẩu M1 Garand. Quân đội Pháp gọi khẩu súng này là Fusil semi-automatique 7 mm 62 (C. 30) M. 1.

Tại chiến trường Nam Bộ, tuy không được cung cấp trực tiếp từ trung ương nhưng các đơn vị chủ lực của Việt Minh đóng tại đây lại trang bị M1 Garand như là một chiến lợi phẩm thu được từ quân Pháp và Quốc gia Việt Nam. Người dân miền Nam Việt Nam thường gọi loài súng này là súng trường M1 Ga-răng (đọc phiên âm từ "Garand" theo tiếng Pháp).

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn 1955-1975 thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã nhận được một lượng lớn vũ khí từ thời thế chiến 2 do Hoa Kỳ viện trợ, trong đó có khoảng 220.300 khẩu M1 Garand. Chúng được trang bị cho các lực lượng bán quân sự của Việt Nam Cộng hòa. Không chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mà ngay cả đối thủ chính của họ ở chiến trường miền Nam - Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng sử dụng khẩu súng này khá là phổ biến. Thì cũng như thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954) thôi, những người lính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (Bộ đội miền Nam hay gọi theo cách của Mỹ và VNCH là Việt Cộng) thu được khá nhiều loại súng này từ phía Việt Nam Cộng Hòa nên họ mang nó ra sử dụng tiếp để đánh lính Việt Nam Cộng Hòa vì bộ đội miền Nam không có nhiều súng AK-47 hay CKC như Quân đội nhân dân Việt Nam (Bộ đội miền Bắc hay theo cách gọi của Mỹ và VNCH là lính Bắc Việt) để trang bị cho toàn bộ lính của Quân Giải phóng. M1 Garand vẫn còn phục vụ hết sức rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam.

Nội chiến Lào và Nội chiến Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự như Việt Nam Cộng hòa, chính phủ Cộng hòa KhmerChính phủ Hoàng gia Lào cũng nhận được nhiều khẩu M1 Garand từ Hoa Kỳ thông qua các gói hàng viện trợ quân sự.

Ưu điểm và nhược điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Kẹp đạn "en-bloc" 8 viên của M1 Garand.

Súng có nhiều ưu điểm như gọn, dễ mang vác, sử dụng hai loại đạn rất mạnh là 30-06 Springfield (7.62x63mm) và 7.62x51mm NATO (.308 Winchester). Súng hoạt động bán tự động nên có tốc độ bắn cao hơn súng trường bắn phát một, độ chuẩn xác cao, dễ tháo lắp và tầm bắn hiệu quả tốt. Tuy vậy, súng vẫn còn một số nhược điểm như là súng trường bán tự động nên tốc độ bắn không cao (so với súng liên thanh), lượng đạn nạp vào súng cho 1 lần nạp còn ít (chỉ có 8 viên một lần nạp), nhưng dù sao đi chăng nữa nó vẫn được tướng Mỹ George S. Patton ca ngợi "là một vũ khí vĩ đại từng được phát minh".

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]