MG 34
| Maschinengewehr 34 | |
|---|---|
Súng máy MG-34 | |
| Loại | Súng máy đa chức năng |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1935 – 1945 (Quân đội Đức quốc xã) |
| Sử dụng bởi | Xem phần Sử dụng |
| Trận | Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai Chiến tranh thế giới thứ hai Nội chiến Trung Quốc Chiến tranh Triều Tiên Chiến tranh Đông Dương Chiến tranh Việt Nam Nội chiến Syria[1][2] |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Heinrich Vollmer |
| Năm thiết kế | 1934 |
| Nhà sản xuất | |
| Giai đoạn sản xuất | 1935–1945 |
| Số lượng chế tạo | 577,120 |
| Thông số | |
| Khối lượng | 12,1 kg (26,7 lb) 19,2 kg (42,3 lb) (với chân súng) |
| Chiều dài | 1.219 mm (48,0 in) |
| Độ dài nòng | 627 mm (24,7 in) |
| Đạn | 7.92x57mm Mauser |
| Cơ cấu hoạt động | Nạp đạn bằng độ giật, khóa nòng xoay |
| Tốc độ bắn | 800–900 viên/phút MG 34/41: 1,200 rounds/min.[3] |
| Sơ tốc đầu nòng | 755 m/s (2.477 ft/s) |
| Chế độ nạp | Các băng đạn từ 50, 75 đến 250 viên. |
| Ngắm bắn | Điểm ruồi |
Maschinengewehr 34, viết tắt là MG-34, là một loại súng máy đa chức năng làm mát bằng khí của Đức Quốc xã được thử nghiệm vào năm 1929, giới thiệu vào năm 1934 và được biên chế vào quân đội từ năm 1936. Súng sử dụng loại đạn 7.92x 57mm Mauser, được sản xuất từ năm 1934 đến năm 1945. Nó đã mang đến một khái niệm mới là súng máy đa chức năng-Einheitsmaschinengewehr, và được coi là súng máy đa chức năng đầu tiên.[4][5][6][7]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
MG 34 được coi là súng máy đa chức năng đầu tiên.[4] Nó có khả năng thực hiện chức năng của cả súng máy hạng nhẹ và súng máy hạng nặng. Nó được thiết kế bởi Heinrich Vollmer, một kĩ sư của Mauser Werke. Vollmer thiết kế ra khẩu súng này dựa theo khẩu MG 30 của Thụy Sĩ. Những thay đổi chủ yếu bao gồm thay đổi cơ chế nạp đạn sang vị trí bên trái của báng súng, và thêm một tấm che quanh nòng. Thay đổi cơ chế hoạt động này nhằm để tăng tốc độ bắn từ 800 - 900 phát/phút.
Súng đã được chấp nhận cho quân đội gần như ngay lập tức và nhận được sự yêu thích của binh sĩ. Nó đã được sử dụng bởi binh lính Đức để chống lại phe Cộng hòa Tây Ban Nha trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha. Cùng vào thời điểm đó, nó cũng được giới thiệu có một số tính năng tiên tiến và là một súng máy đa chức năng được dự định để thay thế súng máy Maschinengewehr 13 và các loại súng máy khác cũ hơn tuy nhiên chúng vẫn tiếp tục được sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai khi nhu cầu về súng máy không đáp ứng được nhu cầu chiến tranh. Sau đó, MG 34 được sử dụng như súng máy bộ binh chính trong những năm 1930, trên xe tăng, máy bay và vũ khí phòng thủ.[8] Nó cũng là súng máy tiêu chuẩn của Kriegsmarine (Hải quân Đức Quốc xã).[9]
Tuy nhiên, MG34 khá đắt cả về chế tạo lẫn nguyên vật liệu. Nó tiêu tốn 49 kg thép và việc sản xuất nó cũng khá tốn thời gian. Trong lúc đó, quân đội Đức lại đang mở rộng lực lượng vũ trang. MG 34 sau đó được thay thế bằng MG 42, nhưng do chưa có đủ số lượng của MG 42 để thay thế toàn bộ, nên MG 34 tiếp tục được sử dụng trong tất cả các vai trò ban đầu cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai.[10]
Đặc điểm
[sửa | sửa mã nguồn]MG-34 có thể sử dụng cả hộp đạn và băng đạn 7.92 mm. Băng đạn cung cấp cơ số đạn là 50 viên, nhưng nó có thể được nối liền với các băng đạn khác để bắn liên tục. Băng đạn 250 viên được sử dụng cho các súng đặt cố định trong các boongke, được nối bằng 5 băng đạn bình thường.
Giống như hầu hết các khẩu súng máy, nòng của MG-34 được thiết kế để dễ dàng thay thế để tránh quá nóng khi bắn liên tục. Để thay đổi nòng, người sử dụng sẽ chỉ cần mở một chốt giữ và xoay nòng để tháo nòng. Một thao tác tương tự nhưng ở quy trình ngược lại để lắp lại nòng mới vào. Toàn bộ quá trình chỉ mất một vài giây khi nó được thực hiện bởi một người lính được huấn luyện.[11]

Một tính năng độc đáo của MG 34 là khả năng chuyển chế độ bắn tự động không cần thao tác. Khi xạ thủ bắn nhanh, súng sẽ kích hoạt chế độ bắn tự động; và khi xạ thủ bắn chậm lại, súng sẽ kích hoạt chế độ bán tự động.[12] Mặc dù được coi là sáng tạo vào thời điểm đó, tính năng này đã được loại bỏ do sự phức tạp của nó trên mẫu MG-42.
Trong vai trò súng máy hạng nhẹ, nó được sử dụng với chân đế và nặng 12,1 kg (26,7 lb). Trong vai trò súng máy hạng trung, nó có thể được gắn trên một trong hai giá đỡ ba chân: một loại nhỏ hơn với trọng lượng 6,75 kg (14,88,1 lb), hoặc loại lớn hơn với trọng lượng 23,6 kg (52,0 lb).
Các biến thể
[sửa | sửa mã nguồn]

MG-34/41 (MG-34)
[sửa | sửa mã nguồn]MG 34/41 đã đáp ứng yêu cầu trong sự khởi đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai khi chứng minh rằng nó có tốc độ bắn cao khiến cho các viên đạn phân tán rộng hơn. MG 34/41 có thể bắn với tốc độ bắn 1200 rpm. Trọng lượng của MG 34/41 là 14 kg, nhẹ hơn phiên bản gốc MG-34. MG34/41 cũng có một số hạn chế. MG 34/41 đã bị đánh bại trong các thử nghiệm bởi MG-39/41, sau đó là MG-42.
MG-34 Panzerlauf
[sửa | sửa mã nguồn]Hầu hết các xe tăng Đức được sử dụng trong Thế chiến thứ II đã sử dụng MG-34 Panzerlauf như một vũ khí phụ. MG-42 không thích hợp do các phương pháp thay đạn. Sự khác biệt chính của MG-34 Panzerlauf và MG-34 là nòng nặng hơn, gần như hoàn toàn không có các lỗ thông gió của MG-34 cơ bản. Khi được gắn bên trong một chiếc xe tăng, MG-34 cũng thiếu báng. Bộ phụ kiện để chuyển đổi nhanh được tiến hành bên trong thùng chứa báng và chân đế, kết hợp với lắp ráp tâm ngắm phía trước.
MG-81
[sửa | sửa mã nguồn]MG-34 cũng được sửa đổi như một khẩu súng máy gắn trên máy bay. Đối với vai trò này, khóa nòng đã được sửa đổi đôi chút để cho phép lấy đạn lên từ cả hai phía, và trong một phiên bản, hai khẩu súng đã được gắn với nhau để tạo thành một vũ khí được gọi là MG 81Z (Zwilling). Khi Không quân Đức bị thất bại trong cuộc chiến giành ưu thế trên không, MG-15 và MG-81, được thiết kế như là súng máy gắn trên máy bay, đã được sửa đổi và thích nghi cho việc sử dụng của bộ binh.
Sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Algeria: Được cung cấp bởi Tiệp Khắc.[13]
Australia:Thu giữ từ Đức Quốc xã.[14]
Biafra: Được cung cấp bởi Tiệp Khắc.[15]
Bulgaria: Được cung cấp bởi Đức Quốc xã.[16]
Đức Quốc xã
Liên Xô : Tịch thu từ Đức quốc xã trong Thế chiến 2
Tiệp Khắc : Chế tạo tại nhà máy Zbrojovka Brno trong và sau chiến tranh.[17]
Đông Đức : Được dùng sau chiến tranh, gắn trên xe bọc thép SK-1
Na Uy : Được sửa đổi lần đầu là MG34F1 dùng đạn .30-06 Springfield (7,62×63mm) và cuối cùng là MG34F2 dùng đạn 7,62×51mm NATO, dùng đến giữa những năm 1990 bởi Heimevernet (lực lượng Vệ binh Quốc gia Na Uy).
Guatemala : Nhận 1000 khẩu từ Tiệp Khắc vào năm 1954.[18]
Israel : Do Tiệp Khắc cung cấp.[19]
Nhà nước Độc lập Croatia[20]
Vương quốc Hungary[21]
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên : Dùng trong chiến tranh Triều Tiên
Lào: Được Tiệp Khắc và Việt Nam cung cấp.
Việt Nam : Nhận từ Tiệp Khắc và Liên Xô.[22]
Palestinian Fedayeen[23]
Cuba[13]
Pháp[13]
România[24]
Hy Lạp[25]
Syria : Do Tiệp Khắc cung cấp.[17]
United Kingdom: Thu được từ chiến lợi phẩm.[26][27]
Trung Quốc[17]
Trung Hoa Dân Quốc[17]
Quân nổi dậy Nam Tư[28][29]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Syrian Civil War: WWII weapons used". WWII After WWII. ngày 27 tháng 6 năm 2017.[nguồn tự xuất bản]
- ^ "Small Arms Captured by SAA During Operation BASALT". Silah Report. ngày 7 tháng 8 năm 2018.
- ^ "German Views on Use of the MG 42". Intelligence Bulletin. II (9). tháng 5 năm 1944. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017 – qua Lonesentry.com.
Under battle conditions the MG 42 can fire about 22 bursts per minute—that is, about 154 rounds. Under the same conditions, the MG 34 is capable only of about 15 bursts per minute, at a rate of 7 to 10 rounds per burst, totalling about 150 rounds. Thus the MG 42, used as a light machine gun, requires a slightly higher ammunition expenditure.
- ^ a b Bishop 2002, tr. 246.
- ^ Hogg, Ian & Gander, Terry (2005). Jane's Guns Recognition Guide. HarperCollins. tr. 375.
- ^ Hogg, Ian V. & Weeks, John S. (2000). Military Small Arms of the 20th Century (ấn bản thứ 7). Iola, WI: Krause Publications. tr. 326. ISBN 978-0-87341-824-9.
- ^ Bishop 2002, tr. 245 & 246.
- ^ McNab 2012, tr. 17.
- ^ McNab 2012, tr. 61.
- ^ Haskew 2012, tr. 85.
- ^ "Info on the MG 34 from worldguns.ru". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012.
- ^ armusa.com information page on the MG 34
- ^ a b c McNab 2012, tr. 70.
- ^ Knight (Lt) (ngày 25 tháng 7 năm 1942). "COMMONWEALTH FORCES IN NORTH AFRICA 1942". Imperial War Museum. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
- ^ Jowett, Philip (2016). Modern African Wars (5): The Nigerian-Biafran War 1967–70. Oxford, UK: Osprey Publishing Press. tr. 23. ISBN 978-1-47281-609-2.
- ^ "BULGARIAN SMALL ARMS OF WORLD WAR II, PART 2: FROM MAXIM OBRAZETZ 1907G TO ZB39 OBRAZETZ 1939G. - Free Online Library". www.thefreelibrary.com. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2022.
- ^ a b c d McNab 2012, tr. 69.
- ^ Perutka, Lukáš (tháng 9 năm 2014). Checoslovaquia, Guatemala y México en el Período de la Revolución Guatemalteca: Ibero-Americana Pragensia – Supplementum 32/2013 (bằng tiếng Tây Ban Nha). Karolinum Press. tr. 110. ISBN 978-80-246-2429-7.
- ^ McNab 2012, tr. 69-70.
- ^ Brnardic, Vladimir (ngày 17 tháng 11 năm 2016). World War II Croatian Legionaries: Croatian Troops under Axis Command 1941–45. Men-at-Arms 508. Osprey Publishing. tr. 5. ISBN 978-1-47281-767-9.
- ^ Rada, Tibor (2001). A Magyar Királyi Honvéd Ludovika Akadémia és a Testvérintézetek Összefoglalt Története (1830-1945) (bằng tiếng Hungary). Quyển II. Budapest: Gálos Nyomdász Kft. tr. 1114. ISBN 963-85764-3-X.
- ^ "MG 34". NAM: Vietnamská válka 1964-1975 (bằng tiếng Séc).
- ^ "PHOTOGRAPH: Resistance of men and women". Palquest.org. 1936.
- ^ "Small arms". worldwar2.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2025.
- ^ Οι #ΕΔ υποστηρίζουν & αναδεικνύουν τον σταθεροποιητικό ρόλο της 🇬🇷 στην ευρύτερη περιοχή (Twitter). Hellenic National Defence General Staff. Twitter. 2023.
- ^ Lea, T. (Flight Lieutenant). "ROYAL AIR FORCE: 2ND TACTICAL AIR FORCE, 1943-1945". Imperial War Museum. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
- ^ Morris R H (Sgt); Sheridan (Sgt) (ngày 22 tháng 4 năm 1942). "THE BRITISH ARMY IN NORTH AFRICA 1942". Imperial War Museum. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
- ^ Scarlata, Paul (ngày 1 tháng 10 năm 2017). "Yugoslav Part II: World War II small arms: an assortment of small arms from friends and foe alike". Firearms News.
- ^ Vukšić, Velimir (tháng 7 năm 2003). Tito's partisans 1941–45. Warrior 73. Osprey Publishing. tr. 25. ISBN 978-1-84176-675-1.