Made in Abyss

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Made in Abyss
Made in Abyss volume 1.jpg
Bìa tập 1 của bộ truyện, bao gồm nhân vật Reg (trên) và Riko (dưới), trước miệng hố Abyss.
メイドインアビス
(Meido in Abisu)
Thể loạiPhiêu lưu, kỳ ảo u tối, khoa học viễn tưởng[1][2]
Manga
Tác giảTsukushi Ahikito
Nhà xuất bảnTakeshobo
Nhà xuất bản khác
Đài Loan Chingwin Publishing Group
Argentina Tây Ban Nha Editorial Ivrea
México Editorial Panini
Brasil NewPOP Editorial
Nga Reanimedia
Đối tượngSeinen
Tạp chíWeb Comic Gamma
Đăng tải2012 – nay
Số tập7, 51 chap (danh sách tập)
Anime truyền hình
Đạo diễnKojima Masayuki
Kịch bảnKurata Hideyuki
Âm nhạcKevin Penkin
Hãng phimKinema Citrus
Cấp phépNhật Bản Media Factory
Trung Quốc Đài Loan JY Animation
Tây Ban Nha Selecta Visión
Kênh gốcAT-X, Tokyo MX, TV Aichi, Sun TV, KBS, TVQ, STS, BS11
Phát sóng 7 tháng 7 năm 2017 29 tháng 9 năm 2017
Thời lượng / tập25 phút
Số tập13 (danh sách tập)
Loạt phim anime
  • Made in Abyss: Journey's Dawn (メイドインアビス 旅立ちの夜明け Meido in Abisu: Tabidachi no Yoake?)
  • Made in Abyss: Wandering Twilight (メイドインアビス 放浪する黄昏 Meido in Abisu: Hōrō Suru Tasogare?)
Đạo diễnKojima Masayuki
Kịch bảnKurata Hideyuki
Âm nhạcKevin Penkin
Hãng phimKinema Citrus
Cấp phép
Sentai Filmworks
Phát sóng4 tháng 1 năm 2019 (Phần 1)
18 tháng 1 năm 2019 (Phần 2)
Thời lượng / tậpPhần 1 (119 phút)
Phần 2 (108 phút)
Phim anime
Made in Abyss: Dawn of the Deep Soul (メイドインアビス 深き魂の黎明 Meido in Abisu: Fukaki Tamashī no Reimei?)
Đạo diễnKojima Masayuki
Kịch bảnKurata Hideyuki
Âm nhạcKevin Penkin
Hãng phimKinema Citrus
Công chiếuTháng 1 năm 2020
Chủ đề Anime và manga

Made in Abyss (Nhật: メイドインアビス Hepburn: Meido in Abisu?, tạm dịch: Đi vào Abyss) là một bộ manga của nam tác giả truyện tranh người Nhật Tsukushi Ahikito xuất bản trực tuyến trên Web Comic Gamma của Takeshobo từ năm 2012 và tổng hợp thành 7 tập tankōbon. Câu chuyện kể về một cô bé mồ côi phiêu lưu cùng một cậu bạn người máy vào miệng hố tên "Abyss" để tìm mẹ của mình. Bản anime truyền hình sản xuất bởi Kinema Citrus đã phát sóng mùa đầu tiên từ 7 tháng 7 năm đến 29 tháng 9 năm 2017, với mùa thứ hai sẽ được phát sóng vào tháng 1 năm 2020.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện xoay quanh về một cô gái mồ côi tên Riko sống ở trại trẻ mồ côi Belchero, nằm tại thị trấn Orth trên một hòn đảo giữa vùng biển Beoluska. Thị trấn Orth bao quanh một cái hố khổng lồ đi sâu vào lòng đất, thường được gọi với cái tên Abyss (Vực thẳm). Abyss là nơi tụ tập của những loài sinh vật kì lạ và những món di vật quý hiếm của nền văn minh cổ xưa mà con người chưa khai thác được, mà sau đó nó đã trở thành nơi săn tìm phổ biến của Cave Raiders, tên gọi chung của những nhà thám hiểm bất chấp khó khăn, gian nan và nguy hiểm, để đi sâu vào hố và tìm những cổ vật họ thấy được. Trở về từ vực thẳm gây nhiều trở ngại hơn do "Lời nguyền của Abyss", một biểu hiện gây ra cho người thám hiểm khi càng xuống sâu, từ chóng mặt, nôn mữa, đau toàn thân đến tử vong. Một số Cave Raiders huyền thoại đã may mắn trở về và kể lại hành trình của họ, một trong số đó là Lyza được biết với danh hiệu Còi trắng, là người mẹ ruột của Niko.

Khát vọng sống của Riko là theo bước chân mẹ cô trở thành một Còi trắng. Ngày nọ, cô tìm thấy và kết bạn với một cậu bé người máy ở Abyss, được biết với tên Riko đã đặt cho cậu là Reg. Riko cùng những người bạn của cô giúp Reg có thể vào được Belchero. Ngày kia, Riko đọc được một thông điệp của Lyka rằng mẹ cô đang chờ cô dưới đáy Abyss. Cô quyết định bắt đầu hành trình tìm mẹ cùng với Reg, chia tay bạn bè cũng như cả thị trấn.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Riko (リコ?)
Lồng tiếng: Tomita Miyu
Một cô bé 12 tuổi năng động và tinh nghịch, muốn trở thành một Cave Raider như mẹ người mẹ quá cố của mình, Lyza, đã biến mất ở Abyss từ mười năm trước (tính thời điểm hiện tại của câu chuyện). Riko hiện là một Cave Raider đang được huấn luyện tại trại trẻ mồ côi Belchero. Mặc dù chính sách của trại là đưa nộp những di vật tìm được để trả cho chi phí vận hành, nhưng cô đã bí mật sở hữu riêng mình một di vật tìm được, Star Compass, mà cô hy vọng sẽ sử dụng nó trong hành trình của mình. Lyza đã sinh cô ra trong một nhiệm vụ dưới Abyss. Lyza và Ozen đưa Riko lên bằng một thánh tích là "Vật kháng lời nguyền". Tuy nhiên, do Lời nguyền tác động, Riko phải đeo kính nếu không cô sẽ bị đau đầu khi nhìn bình thường.
Reg (レグ Regu?)
Lồng tiếng: Ise Mariya
Nửa người nửa robot bị mất trí nhớ với hình dạng một cậu bém. Reg không hề nhớ tên mình là gì, cậu được Riko đặt tên theo một chú chó mà cô từng sở hữu.[3] Cậu có thể tiêu thụ thực phẩm hữu cơ mặc dù là máy móc. Vũ khí của Reg là tay có khả năng kéo dài, và bắn ra một chùm năng lượng làm tan chảy cả đá.

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Logo của Made in Abyss

Tsukushi bắt đầu xuất bản bộ truyện trên Web Comic Gamma của Takeshobo từ năm 2012[4] và có tổng 7 tập tankōbon tính đến hiện nay. Seven Seas Entertainment thông báo tại Anime Expo 2017 rằng họ đã cấp phép cho manga bản tiếng Anh.[5]

Một bản manga tuyển tập có tên Meido in Abisu Kōshiki Ansorojī: Doshigataki Sagu-tachi (メイドインアビス公式アンソロジー 度し難き探窟家たち Meido in Abisu Kōshiki Ansorojī: Doshigataki Sagu-tachi?), đã phát hành vào 29 tháng 7 năm 2017 với ISBN là ISBN 9784801960121.[6]

Danh sách tập truyện[sửa | sửa mã nguồn]

#Tiếng NhậtTiếng Anh
Ngày phát hànhISBNNgày phát hànhISBN
01 31 tháng 7 năm 2013ISBN 978-4-81-248380-0 ([7])23 tháng 1 năm 2018ISBN 978-1-626927-73-5 ([8])
02 30 tháng 6 năm 2014ISBN 978-4-81-248716-7 ([9])24 tháng 4 năm 2018ISBN 978-1-626927-74-2 ([10])
03 20 tháng 6 năm 2015ISBN 978-4-801952-74-4 ([11])24 tháng 7 năm 2018ISBN 978-1-626928-27-5 ([12])
04 30 tháng 4 năm 2016ISBN 978-4-801955-16-5 ([13])23 tháng 10 năm 2018ISBN 978-1-626929-19-7 ([14])
05 26 tháng 12 năm 2016ISBN 978-4-801957-20-6 ([15])26 tháng 2 năm 2019ISBN 978-1-626929-92-0 ([16])
06 29 tháng 7 năm 2017ISBN 978-4-801960-11-4 ([17])4 tháng 6 năm 2019ISBN 978-1-642750-94-2 ([18])
07 27 tháng 7 năm 2018ISBN 978-4-801963-39-9 ([19])17 tháng 9 năm 2019ISBN 978-1-642756-98-2 ([20])

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Bản chuyển thể anime truyền hình được thông báo vào năm 2016.[4] Mười ba tập phim đã được phát sóng từ ngày 7 tháng 7 đến 29 tháng 9 năm 2017 trên các kênh AT-X, Tokyo MX, TV Aichi, Sun TV, KBS Kyoto, TVQ, Saga TV, và BS11,[21][22][23] với tập cuối (13) là tập đặc biệt dài 1 tiếng.[23] Kojima Masayuki đạo diễn bộ anime và kịch bản Kurata Hideyuki do chắp bút, với phần sản xuất hoạt họa thực hiện bởi Kinema Citrus và Kise Kazuchika thiết kế nhân vật.[4] Nghệ sĩ âm nhạc người Úc Kevin Penkin đã sáng tác phần nhạc.[23][24] Tomita MiyuIse Mariya, diễn viên lồng tiếng cho hai nhân vật Riko, Reg, đã thực hiện ca khúc mở đầu "Deep in Abyss" và ca khúc kết thúc "Tabi no Hidarite, Saihate no Migite", sau đó hợp tác thực hiện cùng với Izawa Shiori (vai Nanachi).[25]

Hai bản tổng hợp các tập của phim, Made in Abyss: Tabidachi no Yoake (メイドインアビス 旅立ちの夜明け? "Journey's Dawn")Made in Abyss: Hōrō Suru Tasogare (メイドインアビス 放浪する黄昏? "Wandering Twilight"), đã phát hành vào ngày 4 tháng 1 và 18 tháng 1 năm 2019.[26] Hai bản này được thông báo vào tháng 11 năm 2017 sẽ ra mắt.[27]

Một bản phim dài tiếp theo với tên Gekijōban Made in Abyss: Fukaki Tamashii no Reimei (劇場版メイドインアビス 深き魂の黎明 Made in Abyss the Movie: Dawn of the Deep Soul?),[28] lên kế hoạch sẽ khởi chiếu vào đầu năm 2020.[29]

Sentai Filmworks đã cấp phép cho bộ anime và khởi chiếu nó trực tuyến trên nền tảng Anime Strike của Amazon trong Hoa Kỳ và trên Hidive ngoài Hoa Kỳ.[30][31] MVM Films đã phát hành bộ anime ở cả Anh quốc và Ireland,[32]Madman Entertainment đã phát hành ở Úc và New Zealand.[33] Sentai Filmworks cũng cấp phép cho hai bản tổng hợp[34] và hợp tác với Fathom Events khởi chiếu nó tại Regal Cinemas ở Los Angeles vào ngày 15 tháng 3 năm 2019.[35] Made in Abyss còn được chiếu rạp có phụ đề vào 20 tháng 3 và lồng tiếng Anh vào 25 tháng 3.[36]

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đạo diễn: Kojima Masayuki
  • Trợ lý đạo diễn: Haga Hitoshi, Iino Shinya
  • Chỉ đạo sản xuất: Tsuruta Mieko, Ota Mitsuhiro, Yamshita Shimpei, Tagaki Takayuki, Isogai Tokuchi
  • Âm thanh: Yamada Haru
  • Kịch bản: Koyanagi Keigo, Kurata Hideyuki
  • Âm nhạc: Kevin Penkin
  • Nghệ thuật: Masuyama Osamu
  • Chỉ đạo diễn hoạt: Kamada Akemi, Takeuchi Atsushi, Mori Satoshi, Takakura Takeshi, Taniguchi Yoshiaki
  • Thiết kế nhân vật: Kise Kazuchika
  • Nhiếp ảnh: Ema Tsunetaka
  • Thiết kế màu sắc: Yamashita Miyao

Danh sách tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên
(dịch)
Đạo diễn Kịch bản Ngày phát sóng gốc T.k.
1 "Thành phố của hố lớn
>The City of the Great Pit"
"(大穴の街 (Ōana no Machi?)"
Haga HitoshiKurata Hideyuki7 tháng 7, 2017 (2017-07-07)[37]
2 "Lễ phục sinh
>Resurrection Festival"
"復活祭 (Fukkatsu-sai?)"
Mori SatoshiKurata Hideyuki14 tháng 7, 2017 (2017-07-14)[38]
3 "Khởi hành
>Departure"
"出発 (Shuppatsu?)"
Sun Hi SonKurata Hideyuki21 tháng 7, 2017 (2017-07-21)[39]
4 "Vực thẳm Abyss
>The Edge of the Abyss"
"アビスの淵 (Abisu no Fuchi?)"
Iino ShinyaKoyanagi Keigo28 tháng 7, 2017 (2017-07-28)[40]
5 "Hỏa táng
>Incinerator"
"火葬砲 (Kasō Hō?)"
Kudō ToshiharuKoyanagi Keigo4 tháng 8, 2017 (2017-08-04)[41]
6 "Trạm tìm kiếm
>Sneeker Camp"
"監視基地 (シーカーキャンプ) (Shīkā Kyanpu?)"
Haga HitoshiKoyanagi Keigo11 tháng 8, 2017 (2017-08-11)[42]
7 "Chúa tể bất động
>The Unmovable Sovereign"
"不動卿 (Fudō Kyō?)"
Iino ShinyaKurata Hideyuki18 tháng 8, 2017 (2017-08-18)[43]
8 "Huấn luyện sinh tồn
>Surviving Training"
"生存訓練 (Seizon Kunren?)"
Iino ShinyaKurata Hideyuki25 tháng 8, 2017 (2017-08-25)[44]
9 "Lỗi lầm lớn
>The Great Fault"
"大断層 (Dai Dansō?)"
Haga HitoshiKurata Hideyuki1 tháng 9, 2017 (2017-09-01)[45]
10 "Độc và Lời nguyền
>Poison and the Curse"
"毒と呪い (Doku to Noroi?)"
Sun Hi SonKoyanagi Keigo8 tháng 9, 2017 (2017-09-08)[46]
11 "Nanachi
>Nanachi"
"ナナチ (Nanachi?)"
Kudō ToshiharuKayanagi Keigo15 tháng 9, 2017 (2017-09-15)[47]
12 "Bản chất thật của Lời nguyền
>The True Nature of the Curse"
"呪いの正体 (Noroi no Shōtai?)"
Kojima MasayukiKoyanagi Keigo22 tháng 9, 2017 (2017-09-22)[48]
13 "Thách Thức
>The Challengers"
"挑む者たち (Idomu Monatachi?)"
Mori SatoshiKurata Hideyuki29 tháng 9, 2017 (2017-09-29)[a][49]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Made in Abyss được đề cử giải Manga Taishō lần thứ 11 và nhận tổng điểm 40, xếp tại hạng 8.[50] Bộ manga còn thắng giải Anime of the Year (Anime của năm) và Best Score (Âm nhạc xuất sắc) tại 2017 Anime Awards của Crunchyroll.[51] Mặt khác, giới phê bình đã khen ngợi đây là một trong những bộ anime hay nhất năm 2017. Nick Creamer của Anime News Network đã ca ngợi anime tập trung tốt vào thể loại phiêu lưu, phần âm nhạc cũng như bối cảnh của Abyss.[52] Julian Malerman của THEM Anime nhận xét nó có đầy đủ yếu tố về mặt cảm xúc.[53]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây là tập đặc biệt dài một tiếng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Made in Abyss" Descends into Darkness in Sequel Series”. Crunchyroll. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ “MADE IN ABYSS”. Sentai Filmworks. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ chương 4, trang 14
  4. ^ a ă â “Akihito Tsukushi's Made in Abyss Manga Gets TV Anime”. Anime News Network. 21 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  5. ^ “Seven Seas Licenses Made in Abyss, Nameless Asterism, Soul Liquid Chambers, Getter Robo Devolution Manga (Update)”. Anime News Network. 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  6. ^ “メイドインアビス公式アンソロジー 度し難き探窟家たち”. Takeshobo (bằng tiếng Nhật). Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  7. ^ メイドインアビス (1). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  8. ^ Made in Abyss Vol. 1. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  9. ^ メイドインアビス (2). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  10. ^ Made in Abyss Vol. 2. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  11. ^ メイドインアビス (3). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  12. ^ Made in Abyss Vol. 3. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  13. ^ メイドインアビス (4). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  14. ^ Made in Abyss Vol. 4. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  15. ^ メイドインアビス (5). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  16. ^ Made in Abyss Vol. 5. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  17. ^ メイドインアビス (6). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  18. ^ Made in Abyss Vol. 6. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  19. ^ メイドインアビス (7). Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  20. ^ Made in Abyss Vol. 7. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019
  21. ^ “Made in Abyss TV Anime Premieres in July”. Anime News Network. 22 tháng 3 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 3 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  22. ^ “Made in Abyss Anime Premieres on July 7”. Anime News Network. 26 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 5 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  23. ^ a ă â “Made in Abyss Anime's Final Episode Airs as 1-Hour Special”. Anime News Network. 2 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 10 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  24. ^ May, Callum (4 tháng 10 năm 2017). “Interview: Made in Abyss Composer Kevin Penkin”. Anime News Network. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  25. ^ “Made in Abyss Anime Reveals 2nd Promo Video, Theme Song Artists, More Cast”. Anime News Network. 9 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 7 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  26. ^ Sherman, Jennifer (26 tháng 7 năm 2018). “Made in Abyss Compilation Films Reveal Visual, January Premieres”. Anime News Network. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  27. ^ “Made in Abyss Anime Gets Sequel”. Anime News Network. 26 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2017. 
  28. ^ Hodgkins, Crystalyn (4 tháng 1 năm 2018). “New Made in Abyss: Fukaki Tamashii no Reimei Anime Film Revealed with Teaser Visual”. Anime News Network. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  29. ^ Pineda, Rafael Antonio (22 tháng 3 năm 2019). “Made in Abyss: Fukaki Tamashii no Reimei Anime Film Opens in January 2020”. Anime News Network. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  30. ^ “Sentai Filmworks Licenses Made in Abyss Anime for Summer Simulcast”. Anime News Network. 26 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 7 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  31. ^ “HIDIVE Reveals Streaming Territories, Debut Dates For Battle Girl High School, Made in Abyss Anime”. Anime News Network. 30 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 10 năm 2017. 
  32. ^ “Latest batch of announcements. Coming next year we've got Land of the Lustrous, Love & Lies, Made in Abyss and Princess Principal.”. Twitter. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 1 năm 2018. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  33. ^ “Made in Abyss Complete Season 1 (Blu-Ray) (Limited Edition)”. Madman Entertainment. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  34. ^ Ressler, Karen (16 tháng 11 năm 2018). “Sentai Filmworks Licenses Made in Abyss, DanMachi Films”. Anime News Network. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  35. ^ “First Film in Two-Part MADE IN ABYSS Series to Debut Spring 2019 for Special Engagement”. Sentai Filmworks. 22 tháng 1 năm 2019. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  36. ^ “For the First Time, ‘MADE IN ABYSS’ Comes to Movie Theaters Across the U.S. March 20 and 25 Only”. Sentai Filmworks. 29 tháng 1 năm 2019. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  37. ^ “第1話「大穴の街」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  38. ^ “第2話「復活祭」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  39. ^ “第3話「出発」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  40. ^ “第4話「アビスの淵」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  41. ^ “第5話「火葬砲”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  42. ^ “第6話「監視基地 (シーカーキャンプ)」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  43. ^ “第7話「不動卿」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  44. ^ “第8話「生存訓練」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  45. ^ “第9話「大断層」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  46. ^ “第10話「毒と呪い」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  47. ^ “第11話「ナナチ」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  48. ^ “第12話「呪いの正体」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 29 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  49. ^ “第13話「挑む者たち」”. Made in Abyss (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 29 tháng 9 năm 2017. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  50. ^ Loo, Egan; Hodgkins, Crystalyn (22 tháng 3 năm 2018). “Paru Itagaki's BEASTARS Wins 11th Manga Taisho Awards”. Anime News Network. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  51. ^ Loveridge, Lynzee (25 tháng 2 năm 2018). “Made in Abyss, My Hero Academia Win Big at Crunchyroll's Anime Awards”. Anime News Network. Truy cập 22 tháng 4 năm 2019. 
  52. ^ Creamer, Nick (25 tháng 10 năm 2017). “Made in Abyss Episodes 1-13 Streaming - Review”. Anime News Network. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  53. ^ Malerman, Julian. “Made in Abyss”. THEM Anime Reviews. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]