Madness (bài hát của Muse)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
"Madness"
Đĩa đơn của Muse
từ album The 2nd Law
Phát hành20 tháng 8, 2012 (2012-08-20)
Định dạng
Thu âmtháng 10 năm 2011 – tháng 12 năm 2012
Thể loại
Thời lượng4:39 (phiên bản album)
3:34 (radio edit)
Hãng đĩa
Sáng tácMatthew Bellamy
Sản xuấtMuse
Thứ tự đĩa đơn của Muse
"Survival"
(2012)
"Madness"
(2012)
"Follow Me"
(2012)
Danh sách bài hát của The 2nd Law
Video âm nhạc
"Madness" trên YouTube
"Madness" (Lyric Video) trên YouTube

"Madness" là một bài hát của ban nhạc rock người Anh Muse, với phần sáng tác thuộc về ca sĩ kiêm người chơi guitar Matt Bellamy và phần sản xuất do ban nhạc đảm trách. Đây là ca khúc thứ hai trích từ album phòng thu thứ 6 có tựa The 2nd Law của nhóm, đồng thời là đĩa đơn thứ hai được phát hành từ album. "Madness" đã có 19 tuần đứng đầu bảng xếp hạng Alternative Songs của Billboard, qua đó trở thành đĩa đơn trụ hạng quán quân lâu thứ hai trên bảng xếp hạng này. Bên cạnh đó bài hát giành được một đề cử Grammy cho hạng mục Bài hát rock hay nhất tại lễ trao giải năm 2013.

Bối cảnh và sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

"Madness" là một ca khúc thuộc nhiều thể loại electronic rock,[1] synthpop,[2] soft rock,[3]R&B[4] Theo tạp chí NME, "Madness" chịu ảnh hưởng từ "I Want to Break Free" của Queen, "Faith" của George Michael và một số yếu tố nhạc khí từ bài hit "I Want Your Sex" của George.[5] Trong bản nghe thử album The 2nd Law trên trang web của Pháp Jeuxactu, ca khúc được cho là có nét giống với âm nhạc của Depeche Mode; Jeuxactu miêu tả nó là "bình tĩnh, chậm rãi và ngọt ngào".[6] Matt Bellamy cho biết ca khúc khởi đầu với góc tái nhìn nhận bản thân anh sau một cuộc cãi vã của giọng ca với cô bạn gái Kate Hudson; rồi theo cách nào đó sau khi cô ấy bỏ về nhà mẹ mình, anh bắt đầu nhận ra, "Ừ, liệu cô ấy có đúng không nhỉ?".[7] Trong một buổi phỏng vấn riêng, Bellamy cho biết ban nhạc sáng tác "Madness" nhằm tối giản âm thanh của album, và bài hát có những nốt cơ bản trong 12 nhịp blues với những ảnh hưởng bởi phúc âm, soul và R&B. Anh đi đến kết luận rằng: "Đây có lẽ là ca khúc mà tôi tự hào nhất trong album này."[8]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc (MV) chính thức cho bài hát được đăng tải trên kênh YouTube chính thức của ban nhạc vào ngày 5 tháng 12 năm 2012.[9] Sản phẩm chứng kiến lần hợp tác thứ hai giữa ban nhạc và đạo diễn Anthony Mandler, người từng đạo diễn video âm nhạc cho "Neutron Star Collision (Love Is Forever)".[10] Jacquelyn London là người dựng MV,[11][12] trong khi David Devlin đảm nhiệm vai trò đạo diễn hình ảnh.[11] Bối cảnh ghi hình MV là tuyến đường Red Line, nằm ở nhà ga tàu điện ngầm Union.[13] Hai người mẫu Erin Wasson và Max Silberman đóng vai hai nhân vật chính trong video.[14]

Phát hành và đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

"Madness" được phát hành dưới định dạng tải nhạc số vào ngày 20 tháng 8 năm 2012,[15] đi kèm là một video ca từ cho bài hát được đăng tải không lâu sau đó.[16] Tạp chí NME miêu tả bài hát là "lấy tiếng ồn đặc trưng của 'nhạc bass' và dùng nó để tạo ra thể loại nhạc soft rock vừa mượt mà vừa quyến rũ."[3] Bài đánh giá của tạp chí tiếp tục gọi "Madness" là một đĩa đơn xuất sắc, đồng thời cho rằng Muse đã "thuần hóa con cá mập" sau khi Muse tuyên bố rằng họ từng nhảy cá mập với "Survival".[17] Trang web Diffuser.fm nhấn mạnh rằng đĩa đơn "nghe không giống như Muse tự vươn mình thành một trong những ban nhạc rock hoành tráng nhất thế giới", nhưng thấy rằng "sự pha trộn âm thanh hiếm thấy lại nghe hay hơn nhiều so với tưởng tượng", qua đó chấm bản nhạc điểm 8/10.[18]

Tạp chí Rolling Stone nhận định rằng ca khúc cho thấy Muse "hoán đổi âm bass hung hăng và khoa trương thành [bản nhạc] mềm mại, tinh tế, như thể Matthew Bellamy cất tiếng hát ngân nga trong một bản nhạc pop nhẹ nhàng theo cách đáng ngạc nhiên."[19] Radio Times miêu tả nhạc phẩm như "phiên bản dưới nước cho 'Faith' của George Michael". Trong một bài nhận xét tiêu cực, cây bút Robert Myers của The Village Voice viết rằng "ban nhạc cuối cùng đã bắt chước U2 thành công, tiệm cận đến Achtung BabyZoopora [hai album của U2]". Ông nói thêm rằng Muse "đi đúng hướng nhưng thiếu gốc rễ cảm xúc và tài trí để lĩnh hội bản chất cảm hứng của họ."[20] Rolling Stone đã vinh danh "Madness" là ca khúc hay thứ 37 trong năm 2012.[21] Giọng ca Chris Martin của nhóm Coldplay thì miêu tả đây là "bài hát hay nhất của Muse từ trước đến nay".[22]

"Madness" đã trụ trong 19 tuần ở vị trí đầu bảng xếp hạng Alternative Songs của Billboard, qua đó trở thành ca khúc trụ ở ngôi quán quân lâu nhất trên bảng xếp hạng, phá kỷ lục 18 tuần liên tiếp mà "The Pretender" của Foo Fighters thiết lập.[23][24] Kỷ lục trên sau này tiếp tục bị "Feel It Still" của Portugal. The Man xô đổ vào năm 2017, với thành tích 20 tuần ở vị trí đầu bảng.[25] Bài hát còn giành được một đề cử Grammy cho hạng mục Bài hát rock hay nhất tại lễ trao giải năm 2013, nhưng thất cử trước "Lonely Boy" của The Black Keys.[26][27]

Thành tích thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

"Madness" có thành tích thương mại tích cực khi xếp hạng ở một vài quốc gia và nằm trong tốp 10 tại Bỉ (Wallonia), Iceland, Israel, Ý, Nhật Bản, Bồ Đào Nha và Hàn Quốc. Tại Anh Quốc, quê nhà của ban nhạc, ca khúc đạt vị trí thứ 25 trên UK Singles Chart. Tại Hoa Kỳ, ca khúc đứng ở vị trí thứ 45 trên bảng xếp hạng Hot 100 và thứ ba trên Hot Rock Songs. Đĩa đơn còn đứng đầu bảng xếp hạng Alternative Songs trong 19 tuần, phá vỡ kỷ lục đĩa đơn quán quân có thời gian trụ hạng dài nhất lịch sử bảng xếp hạng vốn thuộc về "The Pretender" của Foo Fighters.[28] Kỷ lục trên sau này bị xô đổ bởi bài "Feel It Still" của Portugal. The Man với 20 tuần nắm giữ ngôi đầu bảng.[25] "Madness" được chứng nhận vàng bởi IFPI tại Thụy Sĩ, bạch kim bởi MC tại Canada và FIMI tại Ý, và hai chứng nhận bạch kim bởi RIAA tại Hoa Kỳ.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Tải nhạc số[15]
STTTựa đềThời lượng
1."Madness"4:39
Đĩa đơn khuyến mãi tại Anh quốc[29]
STTTựa đềThời lượng
1."Madness" (radio edit)3:34
2."Madness" (bản album)4:39

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Canada (Music Canada)[70] Bạch kim 80.000^
Ý (FIMI)[71] Bạch kim 30.000*
Thụy Sĩ (IFPI)[72] Vàng 15.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[73] 2× Bạch kim 2.000.000[74]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sperounes, Sandra (ngày 1 tháng 10 năm 2012). “Album review: Muse, The 2nd Law”. Edmonton Journal. Postmedia Network. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015. 
  2. ^ Newman, Melinda (ngày 1 tháng 10 năm 2012). “Album Review: Muse holds nothing back on 'The 2nd Law'. HitFix. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ a ă “NME Track Reviews - Muse – ‘Madness’”. NME. 21 tháng 8 năm 2012. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  4. ^ Sutherland, Mark (ngày 1 tháng 10 năm 2012). “Muse Fill London Show With Songs From 'The 2nd Law'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2019. 
  5. ^ “The 2nd Law - Album Summary - News”. Muselive. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  6. ^ “Muse: on a écouté The 2nd Law en avant-première”. Musique.jeuxactu.com. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  7. ^ “Muse reveal new single Madness inspired by fight with Kate Hudson”. Metro. 17 tháng 8 năm 2012. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  8. ^ Balfe, John (22 tháng 8 năm 2012). “Muse speak about new single 'Madness'. entertainment.ie. Truy cập 22 tháng 10 năm 2019. 
  9. ^ Coplan, Chris (5 tháng 9 năm 2012). “Video: Muse – "Madness". Consequence of Sound. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  10. ^ "Neutron Star Collision (Love Is Forever)" by Muse”. VH1. 20 tháng 5 năm 2010. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  11. ^ a ă Gottlieb, Steven (5 tháng 9 năm 2015). “Watch It: Muse "Madness" – Anthony Mandler, dir.”. Videostatic. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  12. ^ “Muse: Sunset Edit – 323.467.8550”. Sunset Edit. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  13. ^ Chen, Anna (20 tháng 12 năm 2012). “Muse music video: "madness" on the subway”. The Source. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  14. ^ “Muse – Madness (2012)”. Internet Music Video Database. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  15. ^ a ă “Muse – Madness (File)”. Discogs. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  16. ^ Daw, Robbie (20 tháng 8 năm 2012). “Muse Premiere "Madness" Lyric Video”. Idolator. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  17. ^ Macbain, Hamish (28 tháng 6 năm 2012). “Have Muse Jumped The Shark With Their Olympics Track?”. NME. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  18. ^ Shetler, Scott (20 tháng 8 năm 2012). “Muse, ‘Madness’ – Song Review”. Diffuser.fm. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  19. ^ “Muse Unveil Subtle New Single 'Madness'. Rolling Stone. 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  20. ^ Myers, Robert (30 tháng 8 năm 2012). “Hot 100 Roundup: Eric Church And Luke Bryan Milk It, Eminem Gets Silly, And More”. The Village Voice. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  21. ^ “Muse, 'Madness' – 50 Best Songs of 2012”. Rolling Stone. 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  22. ^ Bychawski, Adam (22 tháng 8 năm 2012). “Chris Martin: 'Muse's new single 'Madness' is their best song ever'. NME. Truy cập 25 tháng 10 năm 2019. 
  23. ^ “Madness video coming tomorrow, sneak preview here”. Muse.mu. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2012. 
  24. ^ “Watch Muse new video Madness”. Rekwired. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ a ă “Portugal. The Man's 'Feel It Still' Breaks Record for Most Weeks at No. 1 on Alternative Songs Chart”. Billboard. 28 tháng 11 năm 2017. 
  26. ^ “55th Grammy Awards Nominees”. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 12 năm 2010. Truy cập 10 tháng 2 năm 2019. 
  27. ^ “2013 Grammy Awards Winners: The Complete List”. E!. 10 tháng 2 năm 2013. Truy cập 10 tháng 2 năm 2019. 
  28. ^ Trust, Gary (11 tháng 2 năm 2013). “Muse's 'Madness' Rewrites Record For Longest-Reigning Alternative Songs No. 1”. Billboard. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  29. ^ “Muse – Madness (CD)”. Discogs. Truy cập 8 tháng 11 năm 2019. 
  30. ^ “Chartifacts”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019. 
  31. ^ "Austriancharts.at – Muse – Madness" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40.
  32. ^ "Ultratop.be – Muse – Madness" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop 50.
  33. ^ "Ultratop.be – Muse – Madness" (bằng tiếng Pháp). Ultratop 50.
  34. ^ “Muse-Chart History”. Billboard. Truy cập 8 tháng 4 năm 2020. 
  35. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Radio Top 100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Ghi chú: Đổi sang bảng xếp hạng CZ – RADIO – TOP 100, chọn 201248 rồi bấm tìm kiếm.
  36. ^ "Danishcharts.com – Muse – Madness". Tracklisten.
  37. ^ "Lescharts.com – Muse – Madness" (bằng tiếng Pháp). Les classement single.
  38. ^ "Musicline.de – Muse Single-Chartverfolgung" (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. PhonoNet GmbH.
  39. ^ “Icelandic Singles Chart”. Tonlist.is. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. 
  40. ^ “Top 100 Singles - Week ending 23rd August 2012”. Irish Recorded Music Association. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 
  41. ^ "Muse – Madness Media Forest". Israeli Airplay Chart. Media Forest.
  42. ^ “Top Digital Download - Classifica settimanale WK 40 (dal 01/10/2012 al 07/10/2012)” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019. 
  43. ^ “Chart Search Results - Japan Hot 100 Singles ngày 13 tháng 10 năm 2012”. Billboard.biz. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2019. 
  44. ^ "Dutchcharts.nl – Muse – Madness" (bằng tiếng Hà Lan). Single Top 100.
  45. ^ 27 tháng 10 năm 2012/portugal “Portugal Digital Songs - Peak”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  46. ^ "Official Scottish Singles Sales Chart Top 100". Official Charts Company.
  47. ^ “Search: Gaon International Download Chart - Issue date: 2012.08.19 - 2012.08.25”. Gaon Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  48. ^ "Spanishcharts.com – Muse – Madness" Canciones Top 50.
  49. ^ "Swisscharts.com – Muse – Madness". Swiss Singles Chart.
  50. ^ "Official Singles Chart Top 100". Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  51. ^ “Official Streaming Chart (Pre-July 2014) Top 100”. officialcharts.com. Truy cập 24 tháng 2 năm 2020. 
  52. ^ "Muse Chart History (Hot 100)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  53. ^ "Muse Chart History (Hot Rock Songs)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  54. ^ "Muse Chart History (Rock Airplay)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  55. ^ "Muse Chart History (Adult Alternative Songs)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  56. ^ "Muse Chart History (Adult Pop Songs)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  57. ^ "Muse Chart History (Alternative Songs)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  58. ^ "Muse Chart History (Mainstream Rock)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  59. ^ "Muse Chart History (Pop Songs)". Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  60. ^ “Nuevas Esta Semana]]”. Record Report (bằng tiếng Tây Ban Nha). R.R. Digital C.A. Ngày 2 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  61. ^ “Annual 2012 - Singles”. Ultratop.be. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2019. 
  62. ^ “Hot Rock Songs: Year End 2012”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. 
  63. ^ “Triple A Songs: 2012 (Year-End)”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  64. ^ “Alternative Songs: Year End 2012”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. 
  65. ^ “Hot Rock Songs: Year End 2013”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. 
  66. ^ “Rock Airplay Songs: Year End 2013”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. 
  67. ^ “Triple A Songs: 2013 (Year-End)”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  68. ^ “Adult Pop Songs: Year End 2013”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2019. 
  69. ^ “Alternative Songs: Year End 2013”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. 
  70. ^ “Canada single certifications – Muse – Madness”. Music Canada. 
  71. ^ “Italy single certifications – Muse – Madness” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý.  Chọn lệnh "Tutti gli anni" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Madness" vào ô "Filtra". Chọn "Singoli online" dưới phần "Sezione".
  72. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Muse; 'Madness')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. 
  73. ^ “American single certifications – Muse – Madness” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  74. ^ “RIAA - Gold & Platinum Searchable Database - ngày 12 tháng 5 năm 2015”. http://www.riaa.com. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]