Mai Hữu Xuân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mai Hữu Xuân (không rõ năm sinh, năm mất), nguyên là một tướng lĩnh của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Trung tướng. Xuất thân từ ngành Mật thám của Chính quyền bảo hộ Pháp, sau được đồng hoá trong ngành Cảnh sát Công an của chính phủ Quốc gia Việt Nam và là người đứng đầu ngành này trong nhiều năm. Ông cũng là một trong những thành viên chủ chốt trong cuộc Đảo chính Nam Việt Nam năm 1963 và liên quan đến cái chết nhiều nghi vấn của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông người miền Trung, tốt nghiệp bậc trung học tại Sài Gòn và vào đời với nghề trưởng ga xe điện Xóm Gà. Ông bắt đầu sự nghiệp của mình ở ngành mật thám (1940) và được tuyển chọn làm mật báo viên (thuộc Sở Liêm phóng-Pháp). Chẳng bao lâu, Giám đốc mật thám Nam Kỳ để ý đến ông vì tinh thần mẫn cán lẫn kết quả công việc. Ông được đặc cách công nhận là Gardien de Paix (Chánh Thanh tra), một phẩm trật thường chỉ dành cho người Pháp hoặc mang quốc tịch Pháp. Năm 1944 theo học khoá 1 Huấn luyện viên Thể dục-Thể thao.

Từ khi Pháp xâm lược trở lại Việt Nam – tháng 9-1945 – đường công danh của ông càng mở rộng. Lúc đầu giữ chức Chef Brigade cùng lứa với Trần Bá Thành, Michel Mỹ, ông nhảy vọt lên vị trí thứ ba trong đẳng cấp ngành mật thám Đông Dương, chỉ đứng sau Perrier, giám đốc Liên bang và Bazin, Giám đốc Nam Việt. Ông phụ trách bộ phận cảnh sát đặc biệt miền Đông.

Năm 1948- 1950: Dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam, ông làm trợ lý cho tướng Nguyễn Văn Hinh trong ngành An ninh Quân đội phục vụ tại Ty An ninh Quân đội Cần Thơ với hàm Trung tá giả định ngạch trừ bị. Sau đó ông được cử làm Giám đốc Công an Nam Việt thay thế ông Nguyễn Văn Đây.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951: Tháng 11, ông được cất nhắc lên làm Tổng Kiểm tra (tức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia ) trước khi Lại Văn Sang người Bình Xuyên nắm quyền. Lại Văn Sang cử em là Lại Hữu Tài làm Giám đốc Cảnh sát Sài Gòn-Chợ Lớn, thải hồi hết các nhân viên cảnh sát thuộc phe Mai Hữu Xuân, thành lập Công an Xung phong.

Năm 1953: Ông được đồng hoá sang Quân đội Quốc gia và được thăng cấp lên Đại tá nhận chức Giám đốc Nha An Ninh Quân đội thay thế Đại tá Trần Văn Đôn đi nhận chức Tham mưu trưởng Liên quân.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Ông được vinh thăng Thiếu tướng. Công du Do Thái để nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển các ku vực đinh cư người Do Thái ở Trung Đông. Tở về nước, ông được cử làm Chỉ huy trưởng khu chiến Miền Đông.

Năm 1956: Ông được kiêm chức vụ Chỉ huy trưởng Chiến dịch Trương Tấn Bửu bình định Miền Đông đặt bản doanh tại Biên Hoà.

Năm 1958: Tổng thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Đại tá Đỗ Mậu thay thế ông vào chức Giám đốc Nha An ninh Quân đội và giao cho ông nhiệm vụ không quan trọng làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quang Trung thay thế Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ.

Năm 1963: Trong cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, ông đã chỉ huy những khoá sinh đang được huấn luyện tấn công thành công Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát Đặc biệt. Sau đó ông đã chỉ huy một nhóm bắt giữ anh em Tổng thống Diệm và Cố vấn Nhu sau khi họ bị phát hiện trốn ở một nhà thờ. Khi anh em Diệm và Nhu được chở về sở chỉ huy, họ đã bị giết chết, dẫn đến một tranh cãi ai là người đã ra lệnh sát hạt anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Sau vụ đảo chính, ông là một thành viên của ủy ban quân sự quản lý Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 2-11, ông được vinh thăng Trung tướng và giữ chức Đô trưởng Sài Gòn và Tổng Giám đốc Tổng Nha cảnh sát Quốc gia thay thế Đại tá Nguyễn văn Y sau khi bàn giao Trung tâm Quang Trung lại cho Đại tá Đặng Thanh Liêm.

Năm 1964: Đêm ngày 30/1, Ủy ban quân sự bị tướng Nguyễn Khánh cầm đầu một nhóm tướng lãnh chỉnh lý lật đổ, ông bị bắt cùng với Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất ĐínhNguyễn Văn Vỹ, bị cáo buộc âm mưu hòa hoãn với những người Cộng sản và chuyến Nam Việt Nam thành một quốc gia trung lập. Cả 5 tướng bị đưa lên giam lỏng (quản thúc) ở Đà Lạt.

Sau đó ông được trả tự do và bổ nhiệm làm Tổng Cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị (tháng 11/1964).

Năm 1965: Tháng 3, ông bị buộc phải giải ngũ.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ông rời Việt Nam vào ngày 29 tháng 4 (cùng cựu Chuẩn tướng Nguyễn Thành Hoàng và Đại tá Nguyễn Hồng Đài). Sau đó, ông định cư tại Washington DC, Hoa Kỳ.

Ông mất tại Bắc California vì bệnh tim.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]