Major League Soccer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Major League Soccer
MLS crest logo RGB gradient.svg
Thành lập17 tháng 12, 1993; 25 năm trước[1]
Quốc giaHoa Kỳ
(Các) câu lạc bộ khác từCanada
Liên đoànCONCACAF
(Liên đoàn Bóng đá Bắc Mỹ)
Liên đoànLiên đoàn phía Đông
Liên đoàn phía Tây
Số đội23
Cấp độ trong hệ thống1 (Hoa Kỳ)
1 (Canada)
Cúp quốc giaU.S. Open Cup
Giải vô địch Canada
Cúp quốc tếCONCACAF Champions League
Campeones Cup
Thi đấu nhiều nhấtNick Rimando (478)
Vua phá lướiLandon Donovan (145 bàn thắng)
Danh hiệu MLS Cup
hiện tại
Toronto FC (lần đầu tiên)
(2017)
Danh hiệu Supporters'
Shield
hiện tại
Toronto FC (lần đầu tiên)
(2017)
Nhiều danh hiệu
MLS Cup nhất
LA Galaxy (5 danh hiệu)
Nhiều danh hiệu
Supporters' Shield nhất
D.C. United
LA Galaxy
(mỗi đội 4 danh hiệu)
Đối tác truyền hình
Trang webmlssoccer.com

Major League Soccer (MLS, tiếng Việt: Giải bóng đá nhà nghề Mỹ) là giải đấu bóng đá nam chuyên nghiệp cấp cao nhất tại Hoa KỳCanada được quản lý bởi Liên đoàn bóng đá Hoa Kỳ.[2][3] MLS là một trong những giải thi đấu thể thao nhà nghề lớn của Hoa Kỳ và Canada.[4][5] Giải đấu bao gồm 23 đội-20 ở Hoa Kỳ và 3 ở Canada. Mùa giải MLS chính thức được thi đấu từ tháng 3 tới tháng 10, mỗi đội thi đấu 34 trận;[6][7] đội có thành tích tốt nhất được trao danh hiệu Supporters' Shield. Vòng đấu hậu mùa giải bao gồm mười hai đội thi đấu tại MLS Cup Playoffs trong tháng 11 và 12, kết thúc với trận chung kết đoạt danh hiệu MLS Cup.[8] Các đội MLS cũng thi đấu tại các giải đấu quốc nội với các đội từ các hạng thi đấu khác tại U.S. Open CupGiải vô địch Canada. Các đội MLS cũng thi đấu với các đối thủ châu lục tại CONCACAF Champions League.[9]

Major League Soccer được thành lập năm 1993 nhân dịp Hoa Kỳ được chọn đăng cai FIFA World Cup 1994.[10] Mùa giải đầu tiên được tổ chức vào năm 1996 với mười đội.[11] MLS phải trải qua những khó khăn tài chính và hoạt động trong những năm đầu: Giải đấu mất hàng triệu đôla, các đội phải chơi trên những sân đấu bóng bầu dục trống, và hai đội đã phải giải thể vào năm 2002.[12] Kể từ đó, MLS đã mở rộng lên thành 23 đội, các chủ câu lạc bộ đã cho xây dựng những sân bóng đá chuyên biệt, lượng người theo dõi trung bình vượt qua cả National Hockey League (NHL) và National Basketball Association (NBA); MLS đã thông qua Luật Cầu thủ Chỉ định cho phép các đội ký hợp đồng với các cầu thủ ngôi sao như David Beckham; MLS còn chốt các hợp đồng truyền hình toàn quốc, và giải đấu nay đã có lãi.[13]

Thay vì hoạt động như một hiệp hội các câu lạc bộ sở hữu độc lập, MLS là một thực thể độc nhất trong đó mỗi đội được sở hữu bởi các nhà đầu tư của giải.[14] Các nhà đầu tư-vận hành kiểm soát đội của mình giống như các chủ sở hữu tại các giải đấu khác, và họ thường được gọi (một cách không chính xác) là chủ sở hữu của đội.[15] Giải đấu có một số lượng cố định đội tham gia, giống như hầu hết các giải đấu thể thao ở Hoa Kỳ và Canada, khiến cho đây là một trong số ít giải đấu bóng đá không có sự lên xuống hạng, hình thức không phổ biến tại hai nước này.[16] Trụ sở của MLS nằm tại Thành phố New York.[17]

Thể thức thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải chính của Major League Soccer diễn ra từ tháng 3 tới tháng 10. Các đội được chia thành hai Liên đoàn phía Đôngphía Tây, chơi 34 trận đấu theo lịch thi đấu không chia đều. Vào mùa giải 2018, với 23 đội tham dự, mỗi đội thi đấu 23 trận với các đội trong cùng Liên đoàn và 11 trận với các đội từ Liên đoàn bên kia.[6][18] Vào mùa giải 2019, với 24 đội tham dự, lịch thi đấu dự kiến sẽ là mỗi đội sẽ thi đấu 22 trận đấu với các đội trong cùng liên đoàn, trong đó sẽ có hai lần gặp cùng một đội, và thi đấu thêm 12 trận với các đội từ liên đoàn khác, trong đó chỉ có một lần gặp một đội, tổng cộng là 34 trận. Vào giữa mùa giải, các đội sẽ nghỉ ngơi cho trận đấu All-Star Game thường niên, một trận thi đấu giao hữu giữa các cầu thủ xuất sắc nhất giải và một câu lạc bộ lớn từ một liên đoàn khác.[19] Vào cuối mùa giải chính, đội có tổng điểm cao nhất sẽ đoạt danh hiệu Supporters' Shield.[20]

Không giống như các giải đấu bóng đá trên thế giới, nhưng lại tương tự như các giải thể thao khác ở châu Mỹ,[21] kế sau mùa giải MLS chính thức sẽ là vòng playoff MLS Cup gồm 12 đội vào tháng 11, và kết thúc với trận chung kết vô địch MLS Cup vào đầu tháng 12.[22] Mặc dù một số nhà bình luận cho rằng vòng đấu playoff làm giảm độ quan trọng của mùa giải chính,[23] Giám đốc giải Don Garber đã giải thích rằng "Mục đích của chúng tôi là có một giải đấu có giá trị, và vòng playoff khiến cho giải có ý nghĩa hơn."[24]

Lịch thi đấu từ xuân tới thu của Major League Soccer trùng với lịch FIFA và các giải đấu quốc tế mùa hè như World CupCúp vàng CONCACAF,[25] khiến cho một vài cầu thủ bị lỡ một vài trận đấu MLS.[26] Trong khi MLS đã tính tới chuyện đổi sang thể thức thi đấu từ thu sang xuân, hiện chưa có kế hoạch chính thức nào như vậy. Nếu chuyển lịch thi đấu, giải vẫn sẽ cần phải có một kỳ nghỉ đông dài do có các đội có trụ sở tại những nơi có khí hậu mùa đông khắc nghiệt.[27][28][29] Giải cũng sẽ phải cạnh tranh với những giải đấu phổ biến và thu hút chú ý của truyền thông như National Football League (NFL) vào mùa thu và đông cùng với National Basketball Association (NBA) và National Hockey League (NHL) đều có lịch thi đấu từ thu tới xuân.[29]

Các giải đấu khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội MLS cũng thi đấu tại các giải quốc tế và trong nước khác. Mỗi năm, năm đội MLS — bốn từ Hoa Kỳ và một từ Canada — thi đấu tại CONCACAF Champions League trước các câu lạc bộ khác từ khu vực CONCACAF (México, Trung Mỹ và Caribe). Hai đội MLS tại Hoa Kỳ được tham gia giải dựa vào kết quả từ mùa giải chính MLS: đội vô địch liên đoàn phía Tây và đội vô địch liên đoàn phía Đông. Đội bóng Hoa Kỳ thứ ba được tham dự giải là đội thắng MLS Cup. Một đội MLS thứ tư tại Hoa Kỳ có thể tham dự giải thông qua U.S. Open Cup,[30] nơi các đội tại Hoa Kỳ thi đấu với các câu lạc bộ hạng dưới. Nếu một đội giành được quyền tham dự giải thông qua nhiều suất vé cùng lúc, hoặc một đội MLS tại Canada đoạt được bất kì suất vé tại MLS nào, suất vé thứ tư này sẽ dành cho đội Hoa Kỳ có thành tích tốt nhất trong bảng danh hiệu Supporters' Shield nhưng không đủ điều kiện tham dự. Các câu lạc bộ MLS Canada sẽ thi đấu với các câu lạc bộ Canada hạng dưới tại Giải vô địch Canada để giành một suất tham dự Champions League của Canada.[31] Chưa có câu lạc bộ MLS nào vô địch Champions League kể từ khi giải bắt đầu thể thức hiện tại vào năm 2008, khi mà các câu lạc bộ México đang làm chủ giải đấu này, nhưng các đội MLS cũng đã lọt vào chung kết ba lần: Real Salt Lake vào năm 2011, Montreal Impact vào năm 2015, và Toronto FC vào năm 2018. Bắt đầu từ năm 2018, nhà vô địch MLS Cup năm trước sẽ thi đấu tại giải Campeones Cup, với một trận đấu duy nhất trước đội thắng trận Campeón de Campeones từ giải Liga MX (Giải bóng đá vô địch quốc gia México), được tổ chức bởi đội MLS đó vào tháng 9.[32] Trận đấu đầu tiên sẽ diễn ra giữa Toronto FC và Tigres UANL.

Các đội[sửa | sửa mã nguồn]

23 đội của MLS được chia thành hai Liên đoàn phía Đôngphía Tây. Mỗi câu lạc bộ được phép sở hữu lên tới 28 cầu thủ trong danh sách đội hình ban đầu.[33] Tất cả 28 cầu thủ đều có thể được chọn vào các đội hình 18 người cho từng trận đấu trong mùa giải chính và vòng playoff.

Kể từ mùa giải 2005, MLS đã bổ sung thêm nhiều câu lạc bộ mới. Trong thời gian mở rộng này, Los Angeles trở thành nơi đầu tiên có hai đội, và giải đấu còn được mở rộng sang Canada vào năm 2007.[34] Giải đã mở rộng từ 18 đội vào năm 2014 lên thành 23 vào năm 2018. Vào năm 2019, giải sẽ bổ sung thêm đội thứ 24, Cincinnati.[35] Giải có kế hoạch mở rộng lên 26 đội với sự tham dự của các đội ở Miami và Nashville vào năm 2020,[36] thậm chí còn dự định mở rộng lên 28 đội tới năm 2022.

Một vài đội còn tranh tài hằng năm cho chiếc cúp cạnh tranh MLS phụ, thường là bởi hai đối thủ trong cùng khu vực (vd. Portland với Seattle hoặc Vancouver).[37] Mỗi chiếc cúp được trao cho đội có thành tích mùa giải chính thức cao hơn đội kia ở các trận đấu có hai đội tham gia. Khái niệm này tương tự như những danh hiệu nhỏ của các đội bóng bầu dục Mỹ đại học.[38]

Hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đội Thành phố Sân vận động Sức chứa Tham gia HLV trưởng
Liên đoàn phía Đông
Atlanta United FC Atlanta, Georgia Sân vận động Mercedes-Benz1 42.5004 2017 Gerardo Martino
Chicago Fire Bridgeview, Illinois Toyota Park 20.000 1998 Veljko Paunović
Columbus Crew SC Columbus, Ohio Sân vận động Mapfre 19.968 1996 Gregg Berhalter
D.C. United Washington, D.C. Sân Audi 20.000 1996 Ben Olsen
Montreal Impact Montreal, Quebec Sân vận động Saputo 20.801 2012 Rémi Garde
New England Revolution Foxborough, Massachusetts Sân vận động Gillette1 2 20.0004 1996 Brad Friedel
New York City FC New York City, New York Sân vận động Yankee1 2 30.3214 2015 Domènec Torrent
New York Red Bulls Harrison, New Jersey Đấu trường Red Bull 25.000 1996 Chris Armas
Orlando City SC Orlando, Florida Sân vận động Thành phố Orlando 25.500 2015 James O'Connor
Philadelphia Union Chester, Pennsylvania Sân vận động Talen Energy 18.500 2010 Jim Curtin
Toronto FC Toronto, Ontario Sân BMO3 30.991 2007 Greg Vanney
Liên đoàn phía Tây
Colorado Rapids Commerce City, Colorado Dick's Sporting Goods Park 18.061 1996 Anthony Hudson
FC Dallas Frisco, Texas Sân vận động Toyota 20.500 1996 Óscar Pareja
Houston Dynamo Houston, Texas Sân vận động BBVA Compass 22.039 2006 Wilmer Cabrera
LA Galaxy Carson, California Trung tâm StubHub3 27.000 1996 Sigi Schmid
Los Angeles FC Los Angeles, California Sân vận động Banc of California 22.000 2018 Bob Bradley
Minnesota United FC Minneapolis, Minnesota Sân vận động TCF Bank1 2 50.805 2017 Adrian Heath
Portland Timbers Portland, Oregon Providence Park 21.144 2011 Giovanni Savarese
Real Salt Lake Sandy, Utah Sân vận động Rio Tinto 20.213 2005 Mike Petke
San Jose Earthquakes San Jose, California Sân vận động Avaya 18.000 1996 Mikael Stahre
Seattle Sounders FC Seattle, Washington Sân CenturyLink1 39.4194 2009 Brian Schmetzer
Sporting Kansas City Kansas City, Kansas Children's Mercy Park 18.467 1996 Peter Vermes
Vancouver Whitecaps FC Vancouver, British Columbia BC Place1 22.1204 2011 Carl Robinson

Tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội trong tương lai
Đội Thành phố Sân vận động Sức chứa Tham gia
FC Cincinnati Cincinnati, Ohio Sân vận động Nippert1 2 33.800 2019[39][40]
Inter Miami CF Miami, Florida Sân vận động Miami MLS 28.000 2020[41]
Nashville Nashville, Tennessee Sân vận động Nashville Fairgrounds 27.500 2020[42]

[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội cũ
Đội Thành phố Sân vận động Năm hoạt động
Chivas USA Carson, California Trung tâm StubHub 2005–2014
Miami Fusion Fort Lauderdale, Florida Sân vận động Lockhart 1998–2001
Tampa Bay Mutiny Tampa, Florida Sân vận động Tampa1 (1996–1998)
Sân vận động Raymond James1 (1999–2001)
1996–2001
  1. Cơ sở dùng chung; không phải sân bóng đá chuyên biệt
  2. Các đội dự định chuyển sang sân bóng đá chuyên biệt
  3. Cơ sở dùng chung; là sân bóng đá chuyên biệt
  4. Sức chứa sân có thể tăng thêm

Thời biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên giải Thành viên cũ Thành viên trong tương lai Các giải khác

Các đội vô địch giải[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tới cuối mùa giải 2017, 25 câu lạc bộ đã tham gia tranh tài, trong đó 12 đội đã thắng ít nhất một MLS Cup, và 12 đội thắng ít nhất một danh hiệu Supporters' Shield.[43] Đã có bảy lần cả hai danh hiệu được trao cho cùng câu lạc bộ trong cùng một năm (đã có hai câu lạc bộ làm được điều này hai lần).[44]

Các danh hiệu MLS Cup và Supporters' Shield

Đội MLS
Cup
Năm thắng Supporters'
Shield
Năm thắng Mùa giải
MLS
LA Galaxy 5 2002, 2005, 2011, 2012, 2014 4 1998, 2002, 2010, 2011 22
D.C. United 4 1996, 1997, 1999, 2004 4 1997, 1999, 2006, 2007 22
San Jose Earthquakes 2 2001, 2003 2 2005, 2012 20
Sporting Kansas City 2 2000, 2013 1 2000 22
Houston Dynamo 2 2006, 2007 12
Columbus Crew SC 1 2008 3 2004, 2008, 2009 22
Chicago Fire 1 1998 1 2003 20
Seattle Sounders FC 1 2016 1 2014 9
Toronto FC 1 2017 1 2017 11
Real Salt Lake 1 2009 13
Colorado Rapids 1 2010 22
Portland Timbers 1 2015 7
New York Red Bulls 2 2013, 2015 22
Tampa Bay Mutiny* 1 1996 6*
Miami Fusion* 1 2001 4*
FC Dallas 1 2016 22
*Đội giải thể sau khi hết mùa giải 2001

Kỷ lục cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu bên dưới là của các cầu thủ đang giữ các kỷ lục mọi thời đại. Số liệu chỉ tính trong mùa giải chính. Các cầu thủ có tên in đậm vẫn đang thi đấu tại MLS.

Tính đến ngày 3 tháng 9 năm 2018[45]

Kỷ lục cầu thủ (đang thi đấu)[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu bên dưới là của các cầu thủ đang giữ các kỷ lục mọi thời đại mà hiện vẫn đang thi đấu. Số liệu chỉ tính trong mùa giải chính.

Tính đến ngày 3 tháng 9 năm 2018[45]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Borg, Simon (ngày 17 tháng 12 năm 2010). “MLS celebrates 17th anniversary of formal debut”. Major League Soccer. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2013. 
  2. ^ “About Major League Soccer”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  3. ^ Fraser v. Major League Soccer, 01 F.3d 1296 (1st Cir. 2002).
  4. ^ MLSsoccer staff (ngày 25 tháng 4 năm 2015). “MLS maintains status as most diverse professional sports league in North America”. Major League Soccer. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ Hickey, Walt (ngày 4 tháng 4 năm 2014). “The 'Big Five' in North American Pro Sports”. FiveThirtyEight. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2015. 
  6. ^ a ă “MLS expands playoffs, adds 2 teams in 20th season”. USA Today. Ngày 7 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015. 
  7. ^ MLSsoccer staff (ngày 7 tháng 1 năm 2015). “Major League Soccer unveils 2015 schedule, with Decision Day finale and expanded playoff format”. mlssoccer.com (Major League Soccer). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  8. ^ “MLS Cup Playoffs 101: How the 2013 postseason works”. Portland Timbers. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  9. ^ “CONCACAF Approves U.S. Soccer's/MLS Request to Amend Their Qualification Process to CCL”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  10. ^ “About Major League Soccer”. MLSnet. Ngày 5 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  11. ^ “1996 Season Recap”. MLSsoccer.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  12. ^ “Major League Soccer's Most Valuable Teams”. Forbes. Ngày 20 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  13. ^ Smith, Chris (ngày 19 tháng 8 năm 2015). “Major League Soccer's Most Valuable Teams 2015”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  14. ^ Fraser v. Major League Soccer, 01 F.3d 1296 (US 1st Cir. ngày 20 tháng 3 năm 2002). “MLS owns all of the teams that play in the league (a total of 12 prior to the start of 2002), as well as all intellectual property rights, tickets, supplied equipment, and broadcast rights. … However, MLS has also relinquished some control over team operations to certain investors. MLS contracts with these investors to operate…the league's teams”
  15. ^ “Dempsey Transfer Highlights Influence of MLS Single-Entity Economic Structure”. Business of Soccer. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  16. ^ “MY TWO CENTS Part II: A few reasons how promotion/relegation system could be a success in the United States”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  17. ^ “Major League Soccer, L.L.C. Company Information”. Hoovers, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ “New Teams and New Stadiums Highlight 2017 MLS Regular Season Schedule”. Major League Soccer. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017. 
  19. ^ “MLS All-Star Game creates opportunities for Portland, U.S. soccer: Editorial”. OregonLive.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  20. ^ “A case for the Supporters Shield”. Brotherly Game. Ngày 21 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  21. ^ “How the MLS Playoff Format Punishes Ambitious Teams”. Forbes. Ngày 15 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  22. ^ Wahl, Grant (ngày 31 tháng 10 năm 2011). “Beckham's Last Stand”. Sports Illustrated. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2011. 'With the playoffs you can end up winning the Supporters' Shield [for best regular-season record] and then go out in the first round.' 
  23. ^ “Are there too many MLS playoff teams?”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  24. ^ “MLS commissioner talks Pacific Northwest rivalry, league's future”. CNN. Ngày 11 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  25. ^ Lewis, Michael (ngày 19 tháng 6 năm 2010). “FIFA president Blatter says MLS needs to adopt int'l calendar to compete”. New York Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010. 
  26. ^ “MLS May Change Its Schedule To Help The US's World Cup Bid”. Business Insider. Ngày 22 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  27. ^ “MLS looks at switching to international schedule”. USA Today. Ngày 22 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2011. 
  28. ^ “Playoffs expand to 10 teams, more changes ahead” (Thông cáo báo chí). Major League Soccer. Ngày 22 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010. 
  29. ^ a ă “MLS' Garber: No plans for international calendar”. USA Today. Ngày 15 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011. 
  30. ^ “Lamar Hunt U.S. Open Cup”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  31. ^ “Canada Soccer announces move to new timeframe for future Amway Canadian Championships”. Canada Soccer. Ngày 21 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  32. ^ “Major League Soccer and Liga MX Fuel Rivalry with New Partnership” (Thông cáo báo chí). Major League Soccer. Ngày 13 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. 
  33. ^ “MLS Roster Rules”. MLSsoccer.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2016. 
  34. ^ PA Sports. “MLS considers expanding to Montreal”. Bleacher Report. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  35. ^ Brennan, Patrick (ngày 29 tháng 5 năm 2018). “It's official: FC Cincinnati has joined MLS, will begin play in 2019”. The Cincinnati Enquirer. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  36. ^ “Miami MLS expansion team to begin play in 2020”. MLS. Ngày 29 tháng 1 năm 2018. 
  37. ^ “Learn about MLS”. New York City FC. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2017. 
  38. ^ “Derby or Rivalry in MLS?”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  39. ^ MLSsoccer staff (ngày 29 tháng 5 năm 2018). “Cincinnati awarded MLS expansion club, will start play in 2019”. MLSSoccer.com (MLS Digital). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018. 
  40. ^ Brennan, Patrick (ngày 29 tháng 5 năm 2018). “It's official: FC Cincinnati has joined MLS, will begin play in 2019”. The Cincinnati Enquirer. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018. 
  41. ^ Couch, Ben (ngày 29 tháng 1 năm 2018). “Miami MLS expansion team to begin play in 2020”. MLSSoccer.com (MLS Digital). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018. 
  42. ^ Rosano, Nick (ngày 20 tháng 12 năm 2017). “Nashville awarded MLS expansion club”. MLSSoccer.com (MLS Digital). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018. 
  43. ^ “MLS Trophies – By Trophy”. MLSsoccer.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  44. ^ “MLS guide: Learn more about Orlando's new pro league”. Orlando Sentinel. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  45. ^ a ă “All-Time”. 
  46. ^ “All-Time”. 
  47. ^ “All-Time”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị
NASL
Giải bóng đá hạng 1 tại Hoa Kỳ
1996–nay
Kế vị
giải hiện tại