Marina Mikhailovna Raskova
Marina Mikhailovna Raskova | |
|---|---|
| Sinh | Мали́нина Мари́на Миха́йловна 28 tháng 3, 1912 Moskva, Đế quốc Nga |
| Mất | 4 tháng 1, 1943 (30 tuổi) Saratov, Liên Xô |
| Nguyên nhân mất | Tai nạn máy bay |
| Nơi an nghỉ | Nghĩa trang tường Điện Kremli, Moskva |
| Quốc tịch | Liên Xô |
| Nghề nghiệp | Hoa tiêu, Phi công |
| Nổi tiếng vì | Người thành lập 3 trung đoàn không quân nữ của Liên Xô |
| Phối ngẫu | Sergei Ivanovich Raskov (kết hôn 1929–1935) |
| Con cái | 1 |
| Cha mẹ |
|
| Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Quân chủng | |
| Năm tại ngũ | 1941-1943 |
| Cấp bậc |
|
| Chỉ huy | Trung đoàn không quân ném bom số 587 |
| Tham chiến | |
| Tặng thưởng | Nhân viên danh dự của NKVD |
Marina Mikhailovna Raskova (tiếng Nga: Марина Михайловна Раскова) (nhũ danh Malinina) (1912-1943) là một nữ phi công và hoa tiêu Liên Xô nổi tiếng. Cô từng được ví như là “Amelia Earhart người Nga”. Trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại, cô là người thành lập và chỉ huy lực lượng phi công chiến đấu nữ của Hồng quân. Raskova là một trong những phụ nữ đầu tiên được tặng thưởng danh hiệu cao quý Anh hùng Liên bang Xô viết.
Tiểu sử và sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Trước chiến tranh
[sửa | sửa mã nguồn]Marina Raskova sinh ngày 28 tháng 3 năm 1912 tại Moskva. Ban đầu cô là học viên tại Nhạc viện Moskva nổi tiếng nhưng đến năm 1932 cô bắt đầu chuyển sang học nghề hoa tiêu tại Học viện không quân Zhukovsky và năm 1933 Raskova trở thành nữ hoa tiêu đầu tiên của Không quân Xô viết. Sau khi tốt nghiệp năm 1935, Raskova tiếp tục ở lại học viện với tư cách huấn luyện viên đầu tiên là phụ nữ của Học viện Zhukovsky. Trong thời gian này cô cũng bắt đầu tham gia nhiều chuyến bay nổi tiếng trong vị trí hoa tiêu và phi công.
Chuyến bay nổi tiếng nhất của Raskova có lẽ là chuyến bay của chiếc ANT-37 mang tên Rodina (tiếng Nga có nghĩa là "Đất mẹ") vào ngày 24 và 25 tháng 9 năm 1938. Cô là hoa tiêu trong phi hành đoàn ba người, hai nữ phi công còn lại là Polina Osipenko và Valentina Grizodubova. Mục tiêu của chuyến bay là lập kỷ lục thế giới về một chuyến bay thẳng không nghỉ của nữ. Hành trình theo kế hoạch là từ thủ đô Moskva đến thành phố Komsomolsk ở vùng Viễn Đông của Liên Xô. Tổng cộng, phi hành đoàn nữ này đã bay liên tục trong 26 giờ 29 phút trên quãng đường liên tục dài 5947 km và hoàn thành mục tiêu lập kỷ lục thế giới mới. Tuy nhiên thử thách thực sự của Raskova lại là quãng thời gian 10 ngày sau đó, do tầm nhìn hạn chế phi hành đoàn đã không thể tìm được sân bay và buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống một vùng rừng Taiga. Theo thiết kế thì buồng lái của hoa tiêu tách biệt hoàn toàn với buồng lái của phi công và dễ gặp nguy hiểm khi máy bay phải hạ cánh khẩn cấp, vì vậy Marina Raskova đã phải nhảy dù trước khi máy bay chạm đất mà không kịp mang theo thức ăn, nước uống và dụng cụ thiết yếu. Khi xuống đến mặt đất cô đã phải mất đến 10 ngày để tìm thấy đoàn cứu hộ và hai người còn lại trong phi hành đoàn. Nhờ thành tích này, cả ba người đã được phong danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô viết ngày 2 tháng 11 năm 1938. Trước Chiến tranh giữ nước vĩ đại thì đây là ba người phụ nữ đầu tiên và duy nhất được tặng thưởng danh hiệu này.
Chiến tranh vệ quốc vĩ đại
[sửa | sửa mã nguồn]Khi Chiến tranh Xô–Đức bùng nổ, có rất nhiều phụ nữ có khả năng lái máy bay đã tình nguyện nhập ngũ. Tuy không có điều luật nào cấm phụ nữ tham gia chiến đấu trong lực lượng không quân nhưng họ thường không được khuyến khích và ít khi được giao nhiệm vụ. Marina Raskova đã dùng uy tín của mình với tư cách là một Anh hùng và giảng viên tại Học viện không quân để thuyết phục các lãnh đạo Liên xô cho thành lập các đơn vị không quân chiến đấu nữ. Trong các đơn vị này, nữ giới không chỉ đảm nhiệm vị trí phi công mà còn cả vị trí thợ máy và đội ngũ hỗ trợ bay. Nhờ sự vận động tích cực của Marina Raskova, ngày 8 tháng 10 năm 1941, Stalin đã ký quyết định số 0099 của Ủy ban Nhân dân Quốc phòng, thành lập các trung đoàn hàng không nữ. Nhân sự cho các trung đoàn được tuyển chọn từ các đơn vị thuộc Không quân Hồng quân, Hàng không Dân sự và OSOAVIAKhIM.[Chú thích 1]
Các quân nhân nữ tình nguyện được tập trung huấn luyện tại Đoàn Hàng không nữ số 122 (tiếng Nga: женская авиационная группа № 122), sau đó được phân bổ đưa về thành lập bộ khung 3 trung đoàn không quân chiến đấu nữ, với các phiên hiệu như sau:
- Trung đoàn không quân tiêm kích số 586 (tiếng Nga: 586-й истребительный авиационный полк), biên chế máy bay Yak-1, đóng căn cứ ở Engels
- Trung đoàn không quân ném bom số 587 (tiếng Nga: 587-й бомбардировочный авиационный полк), biên chế máy bay Su-2, đóng căn cứ ở Kamenka
- Trung đoàn không quân ném bom đêm số 588 (tiếng Nga: 588-й ночной легкобомбардировочный авиационный полк), biên chế máy bay U-2, đóng căn cứ ở Engels.
Trung đoàn 586 chính thức tham chiến đầu tiên ngày 16 tháng 4 năm 1942, sớm nhất trong số ba trung đoàn. Tổng cộng các phi công trong trung đoàn đã tham gia 4.419 phi vụ bay, 125 trận không chiến và tiêu diệt 38 máy bay địch. Chỉ huy trung đoàn là Tamara Kazarinova và Aleksandr Gridnev.
Trung đoàn 588 là đơn vị nổi tiếng nhất trong số ba trung đoàn bay nữ và được lãnh đạo bởi Yevdokiya Bershanskaya. Trung đoàn đã thực hiện tổng cộng hơn 24.000 phi vụ ném bom tính cho đến cuối cuộc chiến bằng những chiếc máy bay hai tầng cánh cổ lỗ Polikarpov Po-2.
Đích thân Marina Raskova chỉ huy Trung đoàn 587. Sau khi cô hy sinh năm 1943, người thay thế vị trí chỉ huy là Valentin Markov. Trung đoàn tuy được dự định trang bị máy bay Su-2, nhưng về sau lại được trang bị bằng máy bay Pe-2 mạnh hơn và tốt hơn. Đơn vị đã thực hiện tổng cộng 1.134 phi vụ và ném tổng cộng hơn 980.000 tấn bom xuống các vị trí của quân đội Đức Quốc xã.
Ngày 4 tháng 1 năm 1943, máy bay của Raskova gặp tai nạn do thời tiết xấu và toàn bộ phi hành đoàn đã hy sinh. Raskova được tổ chức lễ tang theo nghi thức nhà nước và được an táng tại Quảng trường Đỏ.
Nguyên nhân vụ tai nạn
[sửa | sửa mã nguồn]Viện Kiểm sát Quân sự Tối cao của Hồng quân đã tiến hành điều tra về vụ hoàn cảnh cái chết của Raskova. Một ủy ban giám định đã được thành lập do Boris Alexandrovich Smirnov đứng đầu, bao gồm các sĩ quan từ Bộ Tham mưu Không quân và các chuyên gia khí tượng quân sự.
Trong quá trình điều tra, ủy ban xác định rằng tổng thời gian bay của Marina Raskova chỉ là 30 giờ bay trên máy bay U-2 và SB tại trường bay và 30 giờ bay trên máy bay Pe-2 trong trung đoàn. Do đó, bà là một phi công ít kinh nghiệm. Cần lưu ý rằng Raskova thường bay với tư cách là hoa tiêu.
Vào ngày 15 tháng 2 năm 1943, ủy ban hoàn thành công việc. Trong kết luận cuối cùng, ủy ban xác định nguyên nhân của vụ tai nạn là do tổ chức bay không đạt yêu cầu của Phòng điều phối chuyến bay của Bộ Tham mưu Không quân và sự vô kỷ luật cá nhân của Thiếu tá Raskova. Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện chuyến bay, Raskova đã vi phạm một số văn bản quy định.[1]
Giải thưởng
[sửa | sửa mã nguồn]- Anh hùng Liên Xô, Huân chương Sao vàng số 106 (02-01-1938)[2]
- 2 Huân chương Lenin (15-07-1938;[3] 02-11-1938)
- Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng Nhất (03-09-1944, truy tặng)[4]
- Danh hiệu "Nhân viên danh dự của NKVD" (1940)[4]
Tác phẩm
[sửa | sửa mã nguồn]
- Raskova, M. M. (1939). Записки штурмана [Ghi chú của một hoa tiêu] (bằng tiếng Nga). Moskva: Molodaya gvardiya.
Các tác phẩm viết về Raskova
[sửa | sửa mã nguồn]Dưới đây là một số tác phẩm đáng chú ý viết về Raskova:
- A. S. Malinina, Con đường cuộc đời của Marina (tiếng Nga: Жизненный путь Марины), Nhà xuất bản Nhà nước Văn học Thiếu nhi, Bộ Giáo dục RSFSR, Moskva, 1951.
- E. A. Migunova, Tiếp nối chiến công (tiếng Nga: Записки штурмана), trong sách Ghi chép của một hoa tiêu / Tiếp nối chiến công (tiếng Nga: Жизненный путь Марины / Записки штурмана), Nhà xuất bản DOSAAF, Moskva, 1976.
- G. I. Markova, Cất cánh: Giới thiệu về Anh hùng Liên Xô M. M. Raskova. (tiếng Nga: Взлет: О Герое Советского Союза М. М. Расковой), Nhà xuất bản Chính trị của Liên Xô (tiếng Nga: Политиздат), Moskva, 1986.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ OSOAVIAKhIM (tiếng Nga: Общество содействия обороне, авиационному и химическому строительству, viết tắt ОСОАВИАХИМ hoặc ОАХ, Hiệp hội Hỗ trợ Quốc phòng, Hàng không và Hóa chất, một tổ chức bán quân sự nhằm phát hiện và huấn luyện nhân lực tiềm năng cho quốc phòng của Liên Xô, tiền thân của tổ chức DOSAAF.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ V. N. Pryamitsyn (2016). "Chuyến bay cuối cùng của "Chim én của Stalin". Cuộc điều tra vụ tai nạn máy bay của M. M. Raskova (tiếng Nga: Последний полёт «Сталинской ласточки». Расследование катастрофы с самолётом М. М. Расковой)". Tạp chí Lịch sử Quân sự (tiếng Nga: Военно-исторический журнал). Quyển Số 1. tr. 40.
- ↑ "Раскова Марина Михайловна, 28.03.1912. Документы участника войны". Память народа. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Раскова Марина Михайловна, 28.03.1912. Документы участника войны". Память народа. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 "Раскова Марина Михайловна". www.warheroes.ru. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2025.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Reina Pennington, Wings, Women & War: Soviet Airwomen in World War II Combat, University Press of Kansas, 2002.
- Lyuba Vinogradova, Defending the Motherland: The Soviet women who fought Hitler's Ace, MacLehose Press, 2015.