Mark (rapper)
Mark | |
|---|---|
Mark vào năm 2024 | |
| Sinh | Mark Lee 2 tháng 8, 1999 Toronto, Ontario, |
| Quốc tịch | |
| Tên khác | Lee Min-hyung |
| Nghề nghiệp |
|
| Chiều cao | 1,76 m (5 ft 9 in) |
| Sự nghiệp âm nhạc | |
| Thể loại | |
| Năm hoạt động | 2013–nay |
| Hãng đĩa | |
| Cựu thành viên của | |
| Tên tiếng Triều Tiên | |
| Hangul | |
| Romaja quốc ngữ | I Minhyeong |
| McCune–Reischauer | I Minhyŏng |
| Nghệ danh | |
| Hangul | |
| Romaja quốc ngữ | Makeu |
| McCune–Reischauer | Mak'ŭ |
Mark Lee (sinh ngày 2 tháng 8 năm 1999), thường được biết đến với nghệ danh Mark, là một nam ca sĩ, rapper kiêm nhạc sĩ người Canada gốc Hàn Quốc. Anh là cựu thành viên của nhóm nhạc nam NCT bao gồm các nhóm nhỏ NCT 127, NCT Dream, và nhóm nhạc SuperM do SM Entertainment thành lập và quản lý.
Đầu đời và giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Mark có tên đầy đủ là Mark Lee, tên tiếng Hàn là Lee Min-hyung,[1] sinh ngày 2 tháng 8 năm 1999 tại Toronto, Ontario, Canada trong một gia đình gốc Hàn.[2] Sau đó, gia đình anh chuyển đến sống tại Vancouver, British Columbia. Anh từng có thời gian ngắn sinh sống tại thành phố New York khi còn nhỏ. Mark trở thành thực tập sinh của SM khi tham gia SM Global Audition tại Vancouver. Anh tốt nghiệp trường Nghệ thuật biểu diễn Seoul vào ngày 7 tháng 2 năm 2018.[3] Mark có thể nói lưu loát hai ngôn ngữ Anh và Hàn.[4][5]
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]2013–2015: Thành viên SM Rookies
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 12 năm 2013, Mark được giới thiệu là thành viên của SM Rookies, một nhóm thực tập sinh của SM Entertainment.[6]
Năm 2014, Mark xuất hiện trên chương trình giải trí EXO 90:2014, làm MV và biểu diễn lại những bài hát cũ các nghệ sĩ K-pop những năm 90.[7][8]
Năm 2015, Mark tham gia chương trình giải trí The Mickey Mouse Club của Disney Channel Korea cùng các thành viên của SM Rookies. Chương trình phát sóng từ tháng 7 đến tháng 12 và được dẫn dắt bởi Leeteuk (Super Junior).[9]
2016–nay: Ra mắt với NCT, hoạt động solo
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 9 tháng 4 năm 2016, Mark chính thức ra mắt trong nhóm nhạc nhỏ NCT U của dự án nhóm nhạc nam NCT cùng Taeyong, Jaehyun, Doyoung và Ten với đĩa đơn mang tên "The 7th Sense".[10] Anh cũng tham gia viết lời cho ca khúc này.
Đến tháng 7, SM Entertainment thông báo Mark sẽ tham gia nhóm nhỏ thứ hai, NCT 127, của dự án NCT cùng Taeyong, Jaehyun, Yuta, Winwin, Taeil và Haechan. NCT 127 chính thức ra mắt với ca khúc "Fire Truck" vào ngày 7 tháng 7.[11]
Anh tiếp tục gia nhập nhóm nhỏ thứ ba, NCT Dream, cùng Jeno, Haechan, Renjun, Chenle, Jaemin và Jisung. NCT Dream ra mắt vào ngày 25 tháng 8 với "Chewing Gum".[12]
Tháng 9 cùng năm, Mark kết hợp cùng Henry Lau phát hành "Going Through Your Heart", OST phim truyền hình The Man Living In Our House của đài KBS. Đây là hoạt động cá nhân đầu tiên của Mark sau khi ra mắt với NCT.[13]
Tháng 1 năm 2017, Mark tham gia chương trình truyền hình thực tế High School Rapper của Mnet.[14] Anh đi đến vòng cuối cùng và đạt hạng 7 chung cuộc.

Tháng 7 cùng năm, Mark kết hợp cùng Xiumin của Exo phát hành bài hát "Young & Free" thông qua dự án âm nhạc SM Station mùa 2.[15] Trong tháng này, Mark xuất hiện trong chương trình thực tế về âm nhạc Snowball Project mùa đầu tiên. Anh kết hợp cùng Park Jae-jung phát hành ca khúc "Lemonade Love" vào ngày 21 tháng 7 trên SM Station.[16]
Tháng 2 năm 2018, Mark trở thành MC của chương trình âm nhạc hằng tuần Show! Music Core. Anh rời chương trình vào tháng 1 năm 2019 để tập trung vào hoạt động của NCT.[17]
Vào tháng 5, anh trở thành thành viên chính của chương trình truyền hình thực tế do MBC sản xuất, Ngoài chăn là bão tố.[18]
Tháng 10 năm 2018, Mark phát hành ca khúc "Dream Me" cùng Joy của nhóm Red Velvet, nhạc phim The Ghost Detective của KBS.[19]
Ngày 31 tháng 12 năm 2018, Mark là thành viên đầu tiên chính thức tốt nghiệp NCT Dream.[20]
2019–nay: Hoạt động với SuperM, trở lại NCT Dream và ra mắt album đầu tay
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 8 năm 2019, Mark được xác nhận là thành viên của SuperM do SM Entertainment thành lập, hoạt động chủ yếu ở thị trường Hoa Kỳ.[21] Ngày 4 tháng 10 cùng năm, Mark cùng SuperM ra mắt với ca khúc chủ đề "Jopping".[22]

Vào ngày 14 tháng 4 năm 2020, SM Entertainment thông báo Mark sẽ tái gia nhập NCT Dream và hủy bỏ hệ thống tốt nghiệp dựa trên độ tuổi của nhóm nhỏ này.[23][24][25] Anh đánh dấu sự trở lại bằng việc góp giọng trong ca khúc "Déjà Vu" của NCT Dream trong album phòng thu chung NCT 2020 Resonance Pt. 1.
Mark ra mắt đĩa đơn đầu tay "Child" vào ngày 4 tháng 2 năm 2022.[26] Anh phát hành đĩa đơn thứ hai "Golden Hour" vào ngày 7 tháng 4 năm 2023.[27]
Vào ngày 16 tháng 12 năm 2024, Mark phát hành ca khúc "Fraktsiya", hợp tác với nữ rapper Lee Young-ji.[28] "Fraktsiya" là một bản nhạc hip-hop nổi bật với tiếng 808 bass mạnh mẽ và âm thanh synthesizer lặp đi lặp lại trên nền hợp âm mang phong cách house. Trong tiếng Nga, "fraktsiya" có nghĩa là "điệp viên", được nhắc đến trong ca từ như một cách mô tả trải nghiệm của Mark và Young-ji khi hoạt động giữa K-pop và hip-hop. Cách so sánh này nhấn mạnh sự linh hoạt của hai nghệ sĩ trong việc chuyển đổi giữa hai thể loại như những "điệp viên", qua đó thể hiện sự tự tin và kỹ năng điêu luyện nhằm mang đến những màn trình diễn ấn tượng ở cả hai lĩnh vực.[29][30]
Album phòng thu đầu tay của Mark mang tên The Firstfruit, được phát hành vào ngày 7 tháng 4 năm 2025 với ca khúc chủ đề "1999".[31]
Ngày 8 tháng 4 năm 2025, Mark kết thúc hợp đồng độc quyền với SM Entertainment, đồng thời rời NCT và các nhóm nhỏ.[32]
Danh sách đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Album phòng thu
[sửa | sửa mã nguồn]- The Firstfruit (2025)
Đĩa đơn
[sửa | sửa mã nguồn]| Tựa đề | Năm | Vị trí xếp hạng | Doanh số | Album | |
|---|---|---|---|---|---|
| HQ
GAON |
Mỹ
Thế giới | ||||
| Nghệ sĩ chính | |||||
| "Drop" (두고가)
(với Seulgi) |
2017 | 93 | — | HQ:46,443[33] | School Rapper FINAL |
| Hợp tác | |||||
| "Young & Free"
(với Xiumin) |
2017 | 31 | 6 | HQ: 72,133[34] | SM Station Season 2 |
| "Lemonade Love"
(với Park Jae-jung) |
197 | 17 | SM Station Season 2 | ||
| OST | |||||
| "Going Through Your Heart"
(với Henry) |
2016 | — | — | Sweet Stranger and Me OST | |
| "Dream Me" (나라는 꿈)
(với Joy) |
2018 | — | — | The Ghost Detective OST | |
Danh sách phim
[sửa | sửa mã nguồn]Chương trình truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tên chương trình | Kênh | Vai trò |
|---|---|---|---|
| 2014 | EXO 90:2014 | Mnet | |
| 2015 | Mickey Mouse Club | Disney Chanel Korea | Thành viên |
| 2017 | High School Rapper | Mnet | Thí sinh[14] |
| Snowball Project | V-app | Thành viên | |
| 2018 | Show! Music Core | MBC | MC |
| Hello Counsellor | KBS2 | Khách mời | |
| Life Bar | TvN | Khách mời [35] | |
| Ngoài chăn là bão tố | MBC | Thành viên chính thức | |
| NCT's Night Night! | SBS Power FM | DJ đặc biệt | |
| 2019 | Let's Eat Dinner Together | JTBC | Khách mời |
Giải thưởng và đề cử
[sửa | sửa mã nguồn]| Giải thưởng | Năm | Hạng mục | Đề cử | Kết quả | TK |
|---|---|---|---|---|---|
| Asian Pop Music Awards | 2022 | Top 20 Songs of the Year (Overseas) | "Child" | Đoạt giải | [36] |
| 2025 | Top 20 Albums of the Year | The Firstfruit | Đoạt giải | ||
| Best Collaboration | "Fraktsiya" (với Lee Young-ji) | Đề cử | [37] | ||
| Best Male Artist | Mark | Đề cử | |||
| Jupiter Music Awards | 2025 | Album of the Year | The Firstfruit | Đoạt giải | [38] |
| Korea Grand Music Awards | 2025 | Best Music 10 | Đoạt giải | [39] | |
| Korean Music Awards | 2026 | Best K-Pop Album | Đề cử | ||
| MAMA | 2025 | Artist of the Year | Mark | Đề cử | [40] |
| Song of the Year | "1999" | Đề cử | |||
| "Fraktsiya" (với Lee Young-ji) | Đề cử | ||||
| Best Male Artist | Mark | Đề cử | |||
| Best Dance Performance Male Solo | "1999" | Đề cử | |||
| Best Collaboration | "Fraktsiya" (với Lee Young-ji) | Đề cử | |||
| MBC Entertainment Awards | 2018 | Rookie Award in Music / Talk Show – Male | Show! Music Core | Đề cử | [41][42] |
| Melon Music Awards | 2025 | Millions Top 10 | The Firstfruit | Đề cử | |
| Music Awards Japan | 2026 | Album of the Year | Đề cử | [43] | |
| Best K-Pop Artist | Mark | Đề cử | |||
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Park Seo-hyun. NCT 마크 첫 솔로 데뷔, 앨범 TMI - STYLE 읽을거리 | 에스콰이어 코리아 | 패션 매거진, 패션 잡지, 남성지. Esquire (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "MEET: NCT 127, the boy group of the future". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Idols Say Goodbye To High School at SOPA Graduation Today". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Mark Lee speak English".
- ↑ "LA TV host is surprised that a Canadian K-pop star speaks ENGLISH". Daily Mail (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Jeon Won (ngày 17 tháng 12 năm 2013). "'SM루키즈' 마크·지성·한솔 전격공개, 안무가 토니테스타 극찬" ['SM Rookies' Mark, Jisung và Hansol được công bố; biên đạo múa Tony Testa dành nhiều lời khen ngợi]. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "SM Rookies on Exo 90:2014". Soompi (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Kim Sa-ra (ngày 4 tháng 10 năm 2014). [어저께TV] '엑소902014' K팝 시험, 90 반갑고 2014 새롭고. Osen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "SM Rookies to Star In Variety Show "The Mickey Mouse Club"; Hosted by Super Junior's Leeteuk". Soompi (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "NCT U confirms lineup, set to unveil singles 'The 7th Sense,' 'Without You'" [NCT U xác nhận đội hình, chuẩn bị ra mắt các đĩa đơn 'The 7th Sense' và 'Without You']. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "NCT 127 전곡 음원 공개, 보너스트랙까지 총 7곡 수록" [NCT 127 phát hành album bao gồm 7 bài hát, trong đó có một bài tặng thêm]. Herald Muse (bằng tiếng Hàn). ngày 10 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "NCT Dream releases new music video" [NCT Dream phát hành MV mới]. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Henry And NCT's Mark Plus Kim Jong Kook To Sing OST For "The Man Living In Our House"". Soompi.
- 1 2 "NCT's Mark To Audition For Mnet's New Hip Hop Show "High School Rapper"".
- ↑ "엑소 시우민·NCT 마크, 'SM스테이션'으로 스페셜 듀오 결성".
- ↑ ""눈덩이 출격"...박재정X마크, '레모네이드 러브' 오늘(21일) 발표".
- ↑ 옹성우·미나·마크, '음악중심' 新 MC 발탁 [공식] [Ong Seong-wu, Mina và Mark được chọn làm MC mới của 'Music Core' [Chính thức]]. Herald Corporation (bằng tiếng Hàn). ngày 26 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019 – qua Naver.
- ↑ MBC 측 "NCT 마크 '이불밖은 위험해' 출연 논의중" [Phía MBC: "Đang thảo luận về việc Mark của NCT xuất hiện trên chương trình 'Ngoài chăn là bão tố']. Newsen. ngày 3 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "REDVELVET JOY and NCT MARK's Collaboration is Soon To Come Out". joongang.co.kr (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "[공식입장] NCT 마크, 올해 마지막으로 NCT DREAM 졸업...졸업송 수록".
- ↑ "Super M, 'The Avengers Of K-Pop,' Unveiled By SM Entertainment And Capitol Music Group".
- ↑ "Brand New K-Pop Act SuperM Debut Their First Release At No. 1".
- ↑ "NCT DREAM, 졸업無→'마크 포함' 7명 'NCT U'로 활동..29일 컴백 [공식]". entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "NCT Dream Set New Album 'Reload', Scrap Age-Based System With Return of Mark". Billboard. ngày 13 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Halliwell, Kate (ngày 8 tháng 5 năm 2020). "How K-Pop's NCT Dream Became Too Big to Deny". The Ringer. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Lee Deok-haeng (ngày 28 tháng 2 năm 2022). "SM 'STATION', NCT 음악 아카이빙 프로젝트 'NCT LAB' 스타트". StarNews (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Kim, Min-ji (ngày 30 tháng 3 năm 2023). "NCT 마크, 4월7일 두 번째 솔로곡 '골든 아워' 공개" [NCT MARK's second solo song "Golden Hour" will be released on April 7.]. News1 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Paddy Murphy (ngày 19 tháng 12 năm 2024). "NCT's MARK drops hard-hitting single Fraktsiya featuring Lee Young Ji". United By Pop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
- ↑ 드디어 온다! NCT 마크, 신곡 '프락치' 오늘(16일) 오후 6시 음원+MV 공개 [Cuối cùng cũng đến! Mark của NCT phát hành bản nhạc số và MV bài hát mới 'Fraktsiya' lúc 6 giờ chiều hôm nay] (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Yoon Seung-jin (ngày 12 tháng 12 năm 2024). "NCT's Mark teams up with rapper Lee Young-ji for upcoming single". Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Nicole Fell (ngày 7 tháng 4 năm 2025). "NCT's Mark Lee Is Reborn on Vulnerable Solo Debut 'The Firstfruit': "This Album Helped Me Find Myself"". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Mark leaves SM Entertainment after 10 years with NCT" [Mark rời SM Entertainment sau 10 năm hoạt động cùng NCT]. Yonhap (bằng tiếng Anh). The Korea Times. ngày 3 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "2017년 13주차 Download Chart".
- ↑ "2017년 28주차 Download Chart".
- ↑ "TVXQ's Changmin, EXO's Xiumin, And NCT's Mark To Appear On "Life Bar" Together".
- ↑ "【APMA 2022】亚洲流行音乐大奖2022年度获奖名单" [[APMA 2022] Asian Pop Music Awards 2022 Winners List]. Weibo (bằng tiếng Trung). ngày 28 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "【#APMAAWARDS】ASIAN POP MUSIC AWARDS「APMA 2025」 NOMINATIONS". ngày 2 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Winners of the 2nd Jupiter Music Awards". Jupiter Music Awards (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 9 năm 2025.
- ↑ 마크·세븐틴·에스파·엔하이픈, 뮤직 10 등극...투표 '픽'은 BTS 뷔·지민 [2025 KGMA]. Naver (bằng tiếng Hàn). ngày 15 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Fung, Raine (ngày 16 tháng 10 năm 2025). "2025 MAMA AWARDS nominations announced". The Standard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- ↑ [MBC 연예대상] 이영자, KBS 이어 MBC 대상 수상···여성 최초 2관왕. Busan Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019 – qua Naver.
- ↑ [MBC연예대상] 대상 이영자, 송성호와 뜨거운 포옹 '역대 최초 女 2관왕'. Naver (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
- ↑ "「MUSIC AWARDS JAPAN」ノミネート発表 最優秀アーティスト賞はCreepy Nuts、ミセス 、Vaundy、YOASOBI、藤井風" (bằng tiếng Nhật). Natalie.mu. ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2025.