Mars 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mars 3
Mars3 iki.jpg
Mars 3 Orbiter
Dạng nhiệm vụorbiter and lander
Nhà đầu tư Liên Xô
COSPAR IDOrbiter:1971-049A
Lander:1971-049C
SATCAT №Orbiter:5252
Lander:5667
Thời gian nhiệm vụOrbiter:452
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Trọng lượng phóngOrbiter:2.265 kg (4.993 lb)
Lander:358 kg (789 lb)
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng15:26:30, 28 tháng 5, 1971 (1971-05-28T15:26:30)
Tên lửaProton-K with Blok D upper stage
Kết thúc nhiệm vụ
Cách loại bỏDecommissioned
Dừng hoạt động22 tháng 8, 1972 (1972-08-22) (orbiter)
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuAreocentric
Mars phi thuyền quỹ đạo
Vào quỹ đạoDecember 2, 1971
Orbit parameters
Củngapsis1.500 km (930 mi)
Viễnapsis211.400 km (131.400 mi)
Độ nghiêng quỹ đạo60°
Mars xe tự hành
Thành phần phi thuyềnMars 3 Lander
Thời điểm hạ cánhDecember 2, 1971 (11 Libra 192 Darian)
13:52 UTC SCET (MSD 34809 03:06 AMT)
Địa điểm hạ cánh45°N 202°Đ / 45°N 202°Đ / -45; 202 (Mars 3) (predicted)[1]

Mars 3 là một tàu vũ trụ thăm dò không gian không người lái của chương trình sao Hỏa của Liên Xô mà kéo dài nhiều năm từ 1960 đến năm 1973. Mars 3 đã được đưa ra ngày 28 tháng năm 1971, chín ngày sau khi tàu vũ trụ song sinh của nó Mars 2 được phóng đi. Các tàu thám hiểm này được thiết kế giống hệt phi thuyền robot được tên lửa Proton-K phóng lên với một giai đoạn Blok D tầng trên, mỗi tàu bao gồm một thiết bị quay quanh quỹ đạo và một tàu đổ bộ kèm theo. Sau khi tàu vũ trụ Mars 2 rơi xuống bề mặt sao Hỏa, tàu vũ trụ Mars 3 trở thành phi thuyền đầu tiên đạt được hạ cánh mềm trên sao Hỏa vào ngày 2 tháng 12 năm 1971. Tàu vũ trụ này bị hỏng ngay sau khi hạ cánh.

Modul quanh quỹ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Loại modul quanh quỹ đạo là biến thể M-71 của modul Bus/Obiter 4M-V. Mục đích chính của modul quanh quỹ đạo này là nghiên cứu địa hình của bề mặt; phân tích thành phần đất đá của nó; đo tính chất khác nhau của khí quyển; theo dõi "bức xạ mặt trời, gió mặt trời, và các từ trường liên hành tinh và từ trường sao Hỏa".[2] Ngoài ra, nó còn phục vụ như một "trung gian truyền thông để gửi tín hiệu từ thiết bị hạ cánh đến Trái Đất".

Modul quỹ đạo bị mất một phần nhiên liệu và không có đủ nhiên liệu để đưa nó vào một quỹ đạo có thời gian quỹ đạo 25 giờ. Động cơ thay vào đó thực hiện một lực đẩy ngắn để đưa tàu vũ trụ vào một quỹ đạo hình elip dài (12 ngày, 19 giờ) quay quanh sao Hỏa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên NASA-20130411
  2. ^ "Mars 3". Nasa. Nasa, n.d. Web. 14 August 2012. http://nssdc.gsfc.nasa.gov/nmc/spacecraftDisplay.do?id=1971-049A