Martín Cáceres

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Martín Cáceres
Martín Cáceres against Chile.jpg
Cáceres trong màu áo đội tuyển quốc gia năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ José Martín Cáceres Silva
Ngày sinh 7 tháng 4, 1987 (32 tuổi)
Nơi sinh Montevideo, Uruguay
Chiều cao 1,78 m[1]
Vị trí Trung vệ
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Fiorentina
Số áo 22
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Defensor
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2007 Defensor 26 (4)
2007–2008 Villarreal 0 (0)
2007–2008Recreativo (mượn) 34 (2)
2008–2011 Barcelona 13 (0)
2009–2010Juventus (mượn) 15 (1)
2010–2011Sevilla (mượn) 25 (1)
2011–2012 Sevilla 14 (1)
2012Juventus (mượn) 11 (1)
2012–2016 Juventus 51 (2)
2017 Southampton 1 (0)
2017–2018 Hellas Verona 14 (3)
2018– Lazio 10 (1)
2019Juventus (mượn) 9 (0)
2019– Fiorentina 5 (0)
Đội tuyển quốc gia
2007 U20 Uruguay 4 (0)
2007– Uruguay 98 (4)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 6 tháng 10 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 18 tháng 11 năm 2019

José Martín Cáceres Silva (sinh ngày 7 tháng 4 năm 1987 tại Montevideo) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Uruguay, hiện đang là thành viên của Đội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay và thi đấu tại câu lạc bộ Fiorentina. Anh chơi ở vị trí trung vệ nhưng cũng có thể chơi tốt ở cả hai cánh, nhất là ở vị trí hậu vệ cánh phải.

Sự nghiệp của anh bắt đầu từ câu lạc bộ Defensor sau đó được Villarrea mua vào năm 2007. Trong khoảng thời gian tiếp theo, anh thi đấu tại các giải vô địch Tây Ban Nha và Ý. Đáng chú ý nhất trong số đó là năm danh hiệu Serie A cùng với Juventus và một lần đăng quang UEFA Champions League 2009 cùng Barcelona. Sau đó anh có khoảng thời gian ngắn thi đấu cho Southampton trước khi trở lại Ý vào năm 2017, mặc dù tài năng của anh đã bị hạn chế bởi chấn thương.[2]

Anh có trận thi đấu quốc tế cho đội tuyển quốc gia Urugoay khi mới chỉ 20 tuổi. Anh cùng đội bóng quê nhà tham dự ba kỳ World Cup (2010, 2014, 2018), Cúp Liên đoàn các châu lục 2013 và đặc biệt là Cúp bóng đá Nam Mỹ 2011, giải đấu mà anh cùng với đội tuyển đã vô địch.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở Montevideo, sự nghiệp của anh bắt đầu tại câu lạc bộ quê nhà Defensor. Đầu tháng 2 năm 2007, anh ký hợp đồng với câu lạc bộ Villarreal của Tây Ban Nha, với thỏa thuận chuyển đến câu lạc bộ thi đấu vào đầu tháng 7.[3][4]

Khi đến Villarreal, anh được đem đi cho mượn tại câu lạc bộ Recreativo de Huelva lúc đó cũng đang thi đấu tại La Liga,[5] và là một trong những cầu thủ thường xuyên được ra sân nhất trong mùa giải. Anh cùng với Beto là cặp đôi trung tâm hàng phòng ngự của đội bóng xứ Andalusia. Kết thúc mùa giải, đội bóng của anh đã giành vị trí thứ 16. Ngày 9 tháng 1 năm 2008, anh có bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ tại Cúp Nhà vua Tây Ban Nha.[6]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Cáceres gia nhập Barcelona vào ngày 4 tháng 6 năm 2008, với khoản phí chuyển nhượng được báo cáo là 16,5 triệu euro trả cho Villarreal. Một điều khoản mua lại trị giá 50 triệu Euro đã được cài trong bản hợp đồng kéo dài đến tháng 6 năm 2012 này.[7] Trong mùa giải duy nhất của anh tại Nou Camp, anh xuất hiện không thường xuyên bởi cả từ cả quyết định kỹ thuật và chấn thương.[8]

Ngay sau khi hồi phục chấn thương, Cáceres cũng chỉ là lựa chọn thứ tư sau Rafael Márquez, Gerard PiquéCarles Puyol.[9] Anh có mặt trong ba trận đấu tại vòng loại lượt về UEFA Champions League thi đấu 217 phút. Tại trận chung kết, anh đăng ký trên băng ghế dự bị nhưng không được ra sân nhưng Barcelona đã giành chiến thắng trước Manchester United để giành cú ăn ba.

Cho Juventus mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 6 tháng 8 năm 2009, Barcelona đã cho Juventus mượn Cáceres, kèm theo điều khoản mua đứt vào cuối mùa giải với giá 11 triệu euro, cộng thêm 1 triệu euro tùy vào thành tích.[10] Anh ra mắt trong trận giao hữu trước mùa giải với đội bóng cũ Villarreal vào ngày hôm sau, thay thế Jonathan Zebina ở vị trí hậu vệ phải ngay khi kết thúc hiệp một.[11]

Mùa giải bắt đầu rất thuận lợi cho Cáceres khi anh có trận ra mắt và ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 2 - 0 trên sân khách trước Lazio.[12] Dưới thời huấn luyện viên Ciro Ferrara, anh thường xuyên được ra sân nhưng bị gián đoạn bởi một số chấn thương, bao gồm cả chấn thương vào tháng 1 năm 2010 khiến anh không thể thi đấu trong vài tháng.[13]

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 8 năm 2010, Cáceres trở lại Tây Ban Nha và tiếp tục được cho Sevilla mượn trong một mùa, với một điều khoản có thể mua đứt.[14] Anh sau đó là sự lựa chọn của huấn luyện viên Gregorio Manzano, nhất là sau sự Abdoulay Konko trở lại Genoa vào tháng 1 năm 2011.

Vào ngày 1 tháng 5 năm 2011, anh bị chấn thương nặng sau va chạm với Michael Jakobsen của UD Almería khiến thận bị tổn thương. Cầu thủ người Đan Mạch đã phải nhận một thẻ đỏ trực tiếp nhưng Cáceres chẩn đoán sẽ phải nghỉ thi đấu cho đến cuối mùa giải,[15] nhưng mọi việc tiến triển thuận lợi và trong hai trận đấu cuối mùa giải, anh đã thi đấu trở lại. Sevilla kết thúc ở vị trí thứ năm và đủ điều kiện tham dự UEFA Europa League vào mùa giải năm sau.

Vào ngày 31 tháng 5 năm 2011, Sevilla đã đồng ý một hợp đồng trị giá 3 triệu Euro cộng với 1,5 triệu euro tùy thành tích với Barcelona về việc mua đứt Cáceres về với sân vận động Ramón Sánchez Pizjuán.[16] Tuy nhiên vào cuối tháng 1 năm 2012, anh đã trở lại Juventus theo dạng cho mượn.[17]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 5 năm 2019[18][19]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia1 Châu lục2 Khác3 Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Defensor 2005–06 2 0 0 0 0 0 2 0
2006–07 24 4 0 0 0 0 24 4
Tổng cộng 26 4 0 0 0 0 26 4
Recreativo 2007–08 34 2 2 1 36 3
Barcelona 2008–09 13 0 7 0 3 0 23 0
Juventus 2009–10 15 1 1 0 5 0 21 1
Sevilla 2010–11 25 1 5 0 7 0 37 1
2011–12 14 1 4 0 0 0 18 1
Tổng cộng 39 2 9 0 7 0 55 2
Juventus 2011–12 11 1 3 2 14 3
2012–13 18 1 2 0 2 0 0 0 22 1
2013–14 17 0 1 1 11 0 1 0 30 1
2014–15 10 1 2 0 2 0 0 0 14 1
2015–16 6 0 2 0 0 0 1 0 9 0
Tổng cộng 62 3 10 3 15 0 2 0 89 6
Southampton 2016–17 1 0 0 0 0 0 0 0 1 0
Verona 2017–18 14 3 1 0 15 3
Lazio 2017–18 6 1 2 0 2 0 10 1
2018–19 4 0 0 0 4 0 8 0
Tổng cộng 10 1 2 0 6 0 18 1
Juventus 2018–19 9 0 0 0 0 0 9 0
Tổng cộng sự nghiệp 223 15 32 4 36 0 2 0 293 19

1Bao gồm Liguilla Pre-Libertadores, Copa del ReyCoppa Italia.

2Bao gồm Copa Libertadores, UEFA Cup, UEFA Europa LeagueUEFA Champions League.

3Bao gồm Supercoppa Italiana.

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 23 tháng 6 năm 2011 Sân vận động Atilio Paiva Olivera, Rivera, Uruguay  Estonia 1–0 3–0 Giao hữu
2. 8 tháng 10 năm 2015 Sân vận động Hernando Siles, La Paz, Bolivia  Bolivia 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2018
3. 17 tháng 11 năm 2015 Sân vận động Centenario, Montevideo, Uruguay  Chile 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2018
4. 10 tháng 10 năm 2017 Sân vận động Centenario, Montevideo, Uruguay  Bolivia 1–1 4–2 Vòng loại World Cup 2018

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “2018 FIFA World Cup Russia – List of Players” (PDF). FIFA. 4 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018. 
  2. ^ “Martín Cáceres on Antonio Conte’s Chelsea radar”. Diario AS. 5 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  3. ^ “El Villarreal ficha a Martín Cáceres” [Villarreal sign Martín Cáceres] (bằng tiếng Spanish). Merca Fútbol. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  4. ^ Granel, Vicent (4 tháng 6 năm 2007). “Juventud, calidad y futuro para el nuevo Submarino” [Youth, talent and future for new Submarine]. Diario AS (bằng tiếng Spanish). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ “El Recreativo presenta al lateral Pampa Calvo y al central Cáceres” [Recreativo present full-back Pampa Calvo and centre-back Cáceres] (bằng tiếng Spanish). Cadena SER. 27 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ “Otro chasco” [Another letdown] (bằng tiếng Spanish). Submarino Amarillo. 9 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  7. ^ “Agreement for Cáceres with Villarreal”. FC Barcelona. 4 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  8. ^ Barba, Borja (6 tháng 5 năm 2009). “¿Martín Cáceres o Sylvinho?” [Martín Cáceres or Sylvinho?] (bằng tiếng Spanish). Diarios de Fútbol. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2017. 
  9. ^ Ortiz, Fabián (31 tháng 1 năm 2009). “Puyol y Márquez dejan la defensa en emergencia” [Puyol and Márquez leave the defence on red alert]. Diario AS (bằng tiếng Spanish). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  10. ^ “Cáceres goes to Juventus on loan”. FC Barcelona. 6 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  11. ^ “Friendly: Submarine sink Juve”. Football Italia. 7 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  12. ^ “Lazio 0–2 Juventus”. ESPN Soccernet. 12 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  13. ^ Bhattacharjee, Saura (6 tháng 4 năm 2010). “Martin Caceres to replace William Gallas as Arsenal's newbie?”. Bleacher Report. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  14. ^ “Cáceres loaned to Sevilla”. FC Barcelona. 30 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  15. ^ McKnight, Gareth (4 tháng 5 năm 2011). “Sevilla's Martin Caceres ruled out for rest of season”. Goal. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011. 
  16. ^ “Sevilla exercise option to purchase Cáceres”. FC Barcelona. 31 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  17. ^ “El Sevilla cede a Cáceres a la Juve” [Sevilla loan Cáceres to Juve]. Marca (bằng tiếng Spanish). 24 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. 
  18. ^ Bản mẫu:ESPNsoccernet
  19. ^ “M. Cáceres”. Soccerway. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]