Masanhappo-gu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Masanhappo-gu
마산합포구
—  Quận không tự trị  —
Chuyển tự Tiếng Hàn
 • Hangul마산합포구
 • Hanja馬山合浦區
 • Romaja quốc ngữMasanhappo-gu
 • McCune–ReischauerMasanhapp'o-gu
Văn phòng hành chính Masanhappo-gu
Văn phòng hành chính Masanhappo-gu
Vị trí của Masanhappo-gu
Masanhappo-gu trên bản đồ Thế giới
Masanhappo-gu
Masanhappo-gu
Quốc gia Hàn Quốc
VùngYeongnam
TỉnhGyeongsang Nam
Thành phốChangwon
Phân cấp hành chính4 myeon, 15 dong
Diện tích
 • Tổng cộng239,93 km2 (9,264 mi2)
Dân số (2010)
 • Tổng cộng184.000
 • Mật độ766,89/km2 (198,620/mi2)
 • Tiếng địa phươngGyeongsang
Trang webmasanhp.go.kr

Masanhappo-gu (tiếng Hàn: 마산합포구; Hanja: 馬山合浦區; Quận Masanhappo), trước đây được gọi là Happo, là một quận của thành phố Changwon, Hàn Quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối thế kỷ mười chín, thị trấn này là "một trong những bến cảng đẹp nhất ở khu vực Đông Á, mặc dù nó vẫn chỉ là một làng chài."[1]

Tháng 10 năm 1898, người Nhật nhắm vào sự kiểm soát của Triều Tiên và đang có kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt với điểm xuất phát ở gần Busan, họ bắt đầu mua đất trong thị trấn; Đại tá Tamura Iyozo là người có liên quan chính về vấn đề này nói rằng vào tháng 6 năm sau  "nếu Nga giành được Masampo, Nhật Bản sẽ trở nên vô dụng."[2] Tháng 5 năm 1899 thị trấn trở thành một cảng hiệp ước,[3] và hải quân Nga đã cố mua đất để sử dụng chỉ để khám phá ra rằng người Nhật đã mua được một số bưu kiện mà họ cần. Tháng mười một năm sau, một cuộc đối đầu xảy ra giữa thủy thủ Nga và Nhật Bản, và đến tháng 2 năm 1900, có tin đồn rằng người Nga yêu cầu được thuê đất cho hải quân sử dụng: "Một hạm đội lớn của Nga bao gồm các thiết giáp hạm Rossiya, Donskoi, Rurik khởi hành từ Port Arthur và thả neo tại Masampo một cách đầy đe dọa."[2] Nội các Nhật nhấn mạnh rằng Nga không có bất kỳ địa điểm nào để chỉ huy các bến cảng trên đảo Koje, và Nhật Bản đã đặt đội tàu của mình vào tình trạng chiến tranh. Căng thẳng đã giảm bớt bởi một thỏa thuận bí mật giữa Nga và Nhật Bản vào cuối năm đó, sự sợ hãi chiến tranh cuối cùng cũng kết thúc với sự xuất hiện những vụ xáo trộn của Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn vào tháng Sáu.[4]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ian Nish, The Origins of the Russo-Japanese War (Longman, 1985; ISBN 0582491142), p. 60.
  2. ^ a ă Nish, The Origins of the Russo-Japanese War, p. 61.
  3. ^ Arthur Judson Brown, The Mastery of the Far East (C. Scribner's Sons, 1919), p. 143.
  4. ^ Nish, The Origins of the Russo-Japanese War, p. 62.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]