Maxwell Montes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản mẫu:Infobox feature on celestial object Maxwell Montes /ˈmækswɛl ˈmɒntz/ là một khối núi trên hành tinh sao Kim, trong đó một đỉnh (Skadi Mons) là điểm cao nhất trên bề mặt hành tinh.

Mô tả chung[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trên Ishtar Terra, phía bắc của hai cao nguyên lớn của hành tinh, Maxwell Montes cao khoảng 11 kilômét (36.000 ft).[1] Nó có vị trí cách khoảng 6,4 km trên và về phía đông (21.000 ft ở trên, và 4 dặm về phía đông) của Lakshmi Planum, và dài khoảng 853 kilômét (530 mi), rộng 700 kilômét (435 mi).[1] Các sườn phía tây rất dốc, trong khi các sườn phía đông giảm dần xuống Fortuna Tessera.[2] Do độ cao của nó, nó là khu vực mát nhất (khoảng 380 °C hoặc 716 °F) và ít áp lực nhất (khoảng 45 bar hoặc 44 atm) trên bề mặt sao Kim.[3][4]

Nguồn gốc và địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của Lakshmi Planum và vành đai núi như Maxwell Montes đang gây tranh cãi. Một giả thuyết cho rằng chúng hình thành từ một khối vật chất nóng bốc lên từ bên trong hành tinh, trong khi một giả thuyết khác cho rằng khu vực này đang bị nén (đẩy vào nhau) từ mọi phía, dẫn đến vật chất rơi xuống bên trong hành tinh.[5] Các rặng núi và thung lũng rộng tạo nên Maxwell Montes và Fortuna Tessera cho thấy địa hình là kết quả của việc nén.[2] Các đường gờ và thung lũng song song bị cắt bởi các đứt gãy mở rộng sau này.[1] Chiều cao của Maxwell Montes so với các dãy núi nén khác xung quanh Lakshmi Planum cho thấy nguồn gốc của nó phức tạp hơn.[1]

Hầu hết Maxwell Montes có sự quay lại của radar sáng thường thấy trên Sao Kim ở độ cao lớn. Hiện tượng này được cho là kết quả từ sự hiện diện của một khoáng chất, có thể là tuyết sao Kim. Gợi ý ban đầu bao gồm pyrite [2]Tellurium; gần đây, chì sunfua và bismuth sulfide đã được đề xuất.[6]

Lập bản đồ và đặt tên radar[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng cách sử dụng radar để thăm dò các đám mây dày và vĩnh cửu trong bầu khí quyển sao Kim và quan sát bề mặt, các nhà khoa học tại Kính viễn vọng vô tuyến Arecibo của Mỹ ở Puerto Rico đã phát hiện ra vùng cao nguyên rộng lớn trên sao Kim được gọi là Maxwell Montes vào năm 1967.[7] Năm 1978, tàu thăm dò vũ trụ Pioneer Venus 1 đã đi vào quỹ đạo quanh Sao Kim với mục đích thực hiện các quan sát radar trên bề mặt Sao Kim. Những quan sát này có thể tạo ra bản đồ địa hình đầu tiên của bề mặt Sao Kim và xác nhận rằng một điểm trong Maxwell Montes là điểm cao nhất trên mức trung bình của bề mặt hành tinh.[8]

Maxwell Montes được đặt theo tên của James Clerk Maxwell, người làm việc trong ngành vật lý toán học dự đoán sự tồn tại của sóng vô tuyến, tạo ra radar, và do đó có thể quan sát bề mặt của Sao Kim.[9] Maxwell Montes, Alpha RegioBeta Regio là ba trường hợp ngoại lệ cho quy tắc rằng các đặc điểm bề mặt của Sao Kim được đặt theo danh xưng của nữ giới. Cái tên ban đầu được Ray Jurgens đưa ra vào năm 1970 về sự thúc giục của Tommy Gold, đã được phê duyệt bởi Nhóm nghiên cứu của Liên minh thiên văn quốc tế về danh pháp hệ thống hành tinh (IAU / WGPSN) từ năm 1976 đến 1979.[10]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh sách monte trên sao Kim
  • Danh sách những ngọn núi cao nhất trong Hệ Mặt Trời

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Jones, Tom; Stofan, Ellen (2008). Planetology: Unlocking the secrets of the solar system. Washington, D.C.: National Geographic Society. tr. 74. ISBN 978-1-4262-0121-9. 
  2. ^ a ă â “PIA00149: Venus - Maxwell Montes and Cleopatra Crater”. NASA Planetary Photojournal. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ Basilevsky A. T., Head J. W. (2003). "The surface of Venus". Reports on Progress in Physics. 66 (10): 1699–1734. Bibcode:2003RPPh...66.1699B. doi:10.1088/0034-4885/66/10/R04. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Basilevsky_2003” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Basilevsky_2003” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ McGill G. E.; Stofan E. R.; Smrekar S. E. (2010). "Venus tectonics". In T. R. Watters; R. A. Schultz (eds.). Planetary Tectonics. Cambridge University Press. pp. 81–120. ISBN 978-0-521-76573-2. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “McGill_2010” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “McGill_2010” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  5. ^ “The Magellan Venus Explorer's Guide - The Geology of Venus”. NASA JPL. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  6. ^ Otten, Carolyn Jones (10 tháng 2 năm 2004). 'Heavy metal' snow on Venus is lead sulfide”. Newsroom (Washington University in Saint Louis). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2012. 
  7. ^ Butrica, Andrew J., SP-4218 To See the Unseen, Chapter 5: Normal Science, NASA, 1996
  8. ^ “Pioneer Venus 1, Orbiter and Multiprobe spacecraft”. NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  9. ^ “EXTREME Space Venus”. NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ Butrica, Andrew J., SP-4218 To See the Unseen, Chapter 6: Pioneering on Venus and Mars, NASA, 1996