Thủy ngân(II) sunfat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mercury(II) sulfat)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thủy ngân(II) sunfat
Kwik(II)sulfaat t.png
Danh pháp IUPACThủy ngân(II) sunfat
Tên khácMercuric sulfate, Mercurypersulfate, Mercury Bisulfate[1]
Nhận dạng
Số CAS7783-35-9
PubChem24544
Thuộc tính
Công thức phân tửHgSO4
Khối lượng mol296.653 g/mol
Bề ngoàiHệ tinh thể đơn nghiêng trắng
Mùikhông mùi
Khối lượng riêng6.47 g/cm³, chất rắn
Điểm nóng chảy
Điểm sôi
Điều kiện thăng hoa450 °C (dec.)[2]
Độ hòa tan trong nướcPhân hủy trong nước thành thủy ngân sunfuric và axit sulfuric
Độ hòa tantan trong H2SO4 nóng, dung dịch NaCl
không tan trong alcohol, acetone, amoniac
MagSus−78.1·10−6 cm3/mol
Cấu trúc
Cấu trúc tinh thểcó thể hình thoi
Nhiệt hóa học
Entanpi
hình thành
ΔfHo298
−707.5 kJ mol−1[3]
Các nguy hiểm
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
3
1
 
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Thủy ngân(II) sunfat thường được gọi là thủy ngân sunfat, là hợp chất hóa học có công thức là HgSO4. Nó là một chất rắn không mùi ở dạng các hạt trắng hoặc bột tinh thể. Trong nước, nó phân tách thành một sunfat không hòa tan với màu vàng và axit sulfuric.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1932, công ty hóa chất Chisso của Nhật Bản bắt đầu sử dụng thủy ngân sunfat làm chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde từ axetilennước. Mặc dù lúc đó chưa biết, methylmercury được hình thành như là phản ứng phụ của phản ứng này. Sự tiếp xúc và tiêu thụ các sản phẩm chất thải thủy ngân, bao gồm methylmercury, đã được Chisso đổ vào vịnh Minamata được cho là nguyên nhân của bệnh Minamata ở Minamata, Nhật Bản.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy ngân sunfat có thể điều chế bằng cách cho thủy ngân tác dụng với axit sunfuric:

Hg + 2 H2SO4 → HgSO4 + SO2 + 2 H2O

Hoặc bằng cách hòa tan thủy ngân oxit rắn màu vàng trong axit sunfuric đậm đặc và nước.[4]

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc thử Denigés[sửa | sửa mã nguồn]

Một dung dịch axit của thủy ngân sunfat được gọi là thuốc thử Denigés. Nó thường được sử dụng trong suốt thế kỷ 20 như một chất phản ứng phân tích định tính. Nếu thuốc thử Denigés được thêm vào dung dịch có chứa các hợp chất có rượu bậc cao, một chất kết tủa màu vàng hoặc đỏ sẽ hình thành.[5]

Sản xuất acetaldehyde[sửa | sửa mã nguồn]

Như đã đề cập trước đó, HgSO4 đã được sử dụng làm chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde từ axetylen và nước.[6]

The use of HgSO4 as a catalyst in the production of Acetaldehyde

Oxi hóa khử anken[sửa | sửa mã nguồn]

Các hợp chất thủy ngân như thủy ngân sunfat và thủy ngân(II) axetat thường được sử dụng làm chất xúc tác trong quá trình oxi hóa - khử, một loại phản ứng điện giải. Sự hidrat hóa một anken dẫn đến một cồn theo sau sự tái chọn lọc được dự đoán bởi quy tắc Markovnikov.

Hidrat hóa ankan[sửa | sửa mã nguồn]

Phương trình phản ứng được đưa ra dưới đây. Sự chuyển đổi 2,5-dimethyhexyn-2,5-diol sang 2,2,5,5-tetrametylte-trahydrofuran sử dụng thủy ngân sunfat mà không cần thêm axit.[7]

Conversion of 2,5-dimethyhexyn-2,5-diol to 2,2,5,5-tetramethylte-trahydrofuran-3-one

Các vấn đề sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Hít phải HgSO4 có thể gây ra ngộ độc cấp tính: gây nghẹt trong ngực, khó thở, ho và đau. Tiếp xúc với HgSO4 vào mắt có thể gây loét kết mạcgiác mạc. Nếu thủy ngân sunfat bị tiếp xúc với da nó có thể gây viêm da dị ứng. Cuối cùng, nuốt phải thủy ngân sulfat sẽ gây hoại tử, đau, nôn, và tẩy nặng. Nuốt phải có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài giờ do sự sụp đổ mạch máu ngoại vi.[1]

Tuy nhiên, nó đã được sử dụng thành công vào cuối thế kỷ 19 để gây nôn cho các lý do y tế.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Chemicalbook”. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011. 
  2. ^ Wu, Shengji; Uddin, Md. Azhar; Nagano, Saori; Ozaki, Masaki; Sasaoka, Eiji (2011). “Fundamental Study on Decomposition Characteristics of Mercury Compounds over Solid Powder by Temperature-Programmed Decomposition Desorption Mass Spectrometry”. Energy & Fuels 25 (1): 144–153. doi:10.1021/ef1009499. 
  3. ^ a ă Lide, David R. (1998). Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản 87). Boca Raton, FL: CRC Press. tr. 5–19. ISBN 0-8493-0594-2. 
  4. ^ Robey, R. F.; Robertson, N. C. (tháng 5 năm 1947). “Test for tert-Butyl and Isopropyl Alcohols with Deniges Reagent”. Analytical Chemistry 19 (5): 310–311. doi:10.1021/ac60005a007. 
  5. ^ Marks, E. M.; Lipkin, D. (1939). “Reaction of Aliphatic Ethers with Denigés' Reagent”. J. Org. Chem. 3 (6): 598–602. doi:10.1021/jo01223a008. 
  6. ^ Vogt, R; Nieuwland, J (tháng 9 năm 1921). “The role of mercury salts in the catalytic transformation of acetylene into acetaldehyde, and a new commercial process for manufacture of paraaldehyde”. J. Am. Chem. Soc. 43 (9): 2071–81. doi:10.1021/ja01442a010. 
  7. ^ Wasacz, J. P.; Badding, V. G. (1982). “A hydration of an alkyne illustrating steam and vacuum distillation”. Journal of Chemical Education 59 (8): 694. doi:10.1021/ed059p694.