Methicillin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Methicillin
Methicillin.svg
Dữ liệu lâm sàng
Dược đồ sử dụngIV
Mã ATC code
Dữ liệu dược động học
Sinh khả dụngNot orally absorbed
Chuyển hóa dược phẩmhepatic, 20–40%
Chu kỳ bán rã sinh học25–60 minutes
Bài tiếtrenal
Các định danh
Số đăng ký CAS
PubChem CID
DrugBank
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
ChEMBL
ECHA InfoCard100.000.460
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa họcC17H20N2O6S
Khối lượng phân tử380.42 g/mol g·mol−1
Mẫu 3D (Jmol)
  (kiểm chứng)

Methicillin, còn được gọi meticillin, là một loại kháng sinh-lactam phổ hẹp thuộc nhóm penicillin.

Meticillin được phát hiện vào năm 1960.[1]

Sử dụng trong y tế[sửa | sửa mã nguồn]

So với các penicillin khác phải đối mặt với tình trạng kháng kháng sinh do beta-lactamase, nó ít hoạt động hơn, chỉ có thể được tiêm tĩnh mạch và có tần suất cao hơn viêm thận kẽ, một tác dụng phụ hiếm gặp khác của penicillin. Tuy nhiên, việc lựa chọn methicillin phụ thuộc vào kết quả xét nghiệm độ mẫn cảm của nhiễm trùng được lấy mẫu, và vì nó không còn được sản xuất nữa, nên nó cũng không được kiểm tra thường xuyên nữa. Nó cũng phục vụ một mục đích trong phòng thí nghiệm để xác định độ nhạy cảm với kháng sinh của Staphylococcus aureus với các penicillin khác đang đối mặt với tình trạng kháng-lactam; vai trò này hiện đã được truyền cho các penicillin khác, cụ thể là cloxacillin, cũng như xét nghiệm di truyền cho sự hiện diện của gen mecA bằng PCR.

Phổ hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tại một thời điểm, methicillin được sử dụng để điều trị nhiễm trùng gây ra bởi một số vi khuẩn gram dương bao gồm Staphylococcus aureus, Staphylococcus cholermidis, Streptococcus pyogenesStreptococcus pneumoniae. Methicillin không còn hiệu quả đối với các sinh vật này do sức đề kháng.

Kháng với methicillin được trao bằng cách kích hoạt gen mecA gắn protein penicillin (PBP) của vi khuẩn mới. Điều này mã hóa protein PBP2a. PBP2a hoạt động theo cách tương tự như các PBP khác, nhưng nó liên kết với-lactam với ái lực rất thấp, nghĩa là chúng không cạnh tranh hiệu quả với cơ chất tự nhiên của enzyme và sẽ không ức chế sinh tổng hợp thành tế bào. Biểu hiện của PBPA2 cho thấy khả năng kháng tất cả các-lactam.

Những dữ liệu về tính nhạy cảm này được đưa ra trên một số vi khuẩn có ý nghĩa về mặt y tế:

Cơ chế tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như các kháng sinh beta-lactam khác, methicillin hoạt động bằng cách ức chế sự tổng hợp của thành tế bào vi khuẩn. Nó ức chế liên kết chéo giữa các chuỗi polymer peptidoglycan tuyến tính tạo nên thành phần chính của thành tế bào của vi khuẩn gram dương. Nó thực hiện điều này bằng cách liên kết và ức chế cạnh tranh enzyme transpeptidase (còn được gọi là protein gắn penicillin (PBPs)). Các PBP này liên kết chéo glycopeptide (D -alanyl-alanine), tạo thành vách tế bào peptidoglycan. Methicillin và các kháng sinh-lactam khác là các chất tương tự cấu trúc của D -alanyl-alanine và các enzyme transpeptidase liên kết với chúng đôi khi được gọi là protein gắn penicillin (PBPs).[2]

Methicillin thực sự là một penicillinase -resistant B-lactam kháng sinh. Penicillinase là một loại enzyme vi khuẩn được sản xuất bởi vi khuẩn kháng các loại kháng sinh B-lactam khác giúp thủy phân kháng sinh, khiến nó không hoạt động. Methicillin không bị ràng buộc và thủy phân bởi penicillinase, có nghĩa là nó có thể tiêu diệt vi khuẩn, ngay cả khi enzyme này có mặt.

Hóa dược[sửa | sửa mã nguồn]

Methicillin không nhạy cảm với các enzyme beta-lactamase (còn được gọi là penicillinase) do nhiều vi khuẩn kháng penicillin tiết ra. Sự hiện diện của nhóm ortho -dimethoxyphenyl gắn trực tiếp với nhóm carbonyl chuỗi bên của nhân penicillin tạo điều kiện cho sự kháng-lactamase, vì các enzyme này tương đối không dung nạp được sự cản trở của steric chuỗi bên. Do đó, nó có thể liên kết với PBP và ức chế liên kết ngang peptidoglycan, nhưng nó không bị ràng buộc bởi hoặc bị bất hoạt bởi-lactamase.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Methicillin được Beecham phát triển vào năm 1959.[3] Trước đây, nó được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gram dương nhạy cảm, đặc biệt là các sinh vật sản xuất penicillinase như Staphylococcus aureus có khả năng kháng với hầu hết các penicillin.

Vai trò của nó trong trị liệu đã được thay thế phần lớn bằng flucloxacillindicloxacillin, nhưng thuật ngữ Staphylococcus aureus (MRSA) kháng methicillin tiếp tục được sử dụng để mô tả các chủng S. aureus kháng tất cả các loại penicillin.[4]

Methicillin không còn được sản xuất vì các penicillin tương tự và ổn định hơn như oxacillin (được sử dụng để kiểm tra độ nhạy cảm với kháng sinh lâm sàng), flucloxacillin và dicloxacillin được sử dụng trong y tế.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Walker, S. R. (2012). Trends and Changes in Drug Research and Development (bằng tiếng Anh). Springer Science & Business Media. tr. 109. ISBN 9789400926592. 
  2. ^ Gladwin M., Trattler B. Clinical Microbiology made ridiculously simple. 3rd edition. Miami: MedMaster, Inc.; 2004.
  3. ^ Graham Dutfield (30 tháng 7 năm 2009). Intellectual property rights and the life science industries: past, present and future. World Scientific. tr. 140–. ISBN 978-981-283-227-6. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ Newsom, SW. “MRSA--past, present, future”. J R Soc Med 97: 509–10. PMC 1079642. PMID 15520143. doi:10.1258/jrsm.97.11.509.