Miếng thịt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một miếng thịt bò tiêu chuẩn có độ chín tới

Một miếng thịt (Steak) là một loại thịt thông thường được cắt lát qua các thớ , có thể giắt một chút xương. Miếng thịt này thông thường dùng để nướng do đó còn gọi là miếng thịt nướng. Miếng thịt nướng thường được dùng để nướng, nhưng chúng có thể được chiên, hoặc quay. Món bò xào thường được nướng để lan tỏa hương vị của món bít tết nấu chín qua than hồng. Steak cũng có thể được nấu bằng nước sốt, hoặc băm nhỏ và nhồi nhét vào bánh, chẳng hạn như bánh hamburger.

Trong tiếng Anh, Steak có nghĩa là miếng thịt để nướng, miếng thịt bò ở cổ và vai, cắt để hầm hoặc om. Trong đó thịt được cắt lát song song với các sợi, bao gồm các miếng thịt bò được cắt từ tấm thịt, thịt bò bít tết từ thịt bụng, và các món nổi tiếng là Silverfinger steak được cắt từ thắt lưng và bao gồm sườn xương ba chấu. Khi từ "steak" được sử dụng mà không có chỉ cụ thể thì nó nói chung là một beefsteak, tức là thịt bò. Trong một nghĩa rộng hơn, còn có các món cá bít tết, thịt bò nướng, thịt heo nướng và nhiều loại bít tết khác.

Nguyên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt ướp tiêu

Miếng thịt nướng thường được lấy từ các loại gia súc chăn thả trên đồng (mục súc), nhưng cũng có thể không phải là gia súc, bao gồm cả bò rừng bizon, lạc đà, , ngựa, chuột túi kangaroo, cừu, đà điểu, heo, tuần lộc, gà tây, naibò u (Zebu) cũng như các loại , đặc biệt là cá hồicá biển lớn như cá kiếm, cá mập và và cá cờ. Đối với một số loại thịt, như thịt lợn, thịt cừu, thịt ngựathịt bê, những miếng cắt này thường được gọi là nhát (chop). Một số loại thịt đã được ướp muối và nướng, chẳng hạn như thịt nướng hun khói (BBQ), thường được dùng là thịt bò.

Bít tết là một sản phẩm thực phẩm được hình thành thành một hình dạng từ các miếng thịt khác nhau. Các loại trái cây nướng như dưa hấu đã được sử dụng làm thực phẩm thay thế. Việc lựa chọn phần thịt ngon nhất để chế biến món beef steak, cần tìm hiểu một vài đặc điểm cơ bản của thịt để làm một miếng thịt nướng. Đó phải là phần thịt có thể chế biến nhanh chóng, không cần phải tốn nhiều thời gian để nấu. Những phần thịt lý tưởng nhất để chế biến beef steak nằm ở phần thịt lưng (longissimus dorsi) và thăn nội (psoas major). Thịt ở hai phần này lại được chia thành nhiều loại khác nhau để chế biến thành món steak hảo hạng. Khi thưởng thức thịt bò nói chung, hầu như thấy thịt bò Úc hoặc Mỹ thường mềm và có hương vị thơm ngon hơn.

Phương pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt bò nhập từ nước ngoài phải trải qua một quá trình ủ (aging) để gia tăng hương vị và tạo độ mềm. Quá trình “ủ” kéo dài từ 8–10 ngày và thậm chí có thể lên đến 8 tuần. Hiện có hai phương pháp ủ gồm dry age tức là ủ khô (treo thịt trong tủ làm mát ở mức nhiệt độ nhất định) và wet age tức là ủ ẩm (trữ đông thịt trong túi hút chân không). Phương pháp ủ khô dry age giúp thịt có hương vị đậm đà và đặc trưng nhưng đòi hỏi phải có không gian trữ thịt rộng rãi và sẽ bị teo vì nước bốc hơi trong quá trình ủ, thịt dry age thường có giá thành cao. Phương pháp ủ ẩm wet age không làm mất nước cũng không yêu cầu không gian trữ thịt rộng nên có giá thành thấp hơn thịt dry age. Tuy nhiên, việc chứa trong túi nhựa hút chân không khiến cho vị thịt có mùi kém hấp dẫn và không được thơm ngon.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fussell, Betty Harper (2008). Raising Steaks: The Life and Times of American Beef. Houghton Mifflin Harcourt. ISBN 0151012024. 
  • Carrier, Robert (ngày 1 tháng 1 năm 1981). Robert Carrier's Kitchen. 1. London, UK: Marshall Cavendish. p. 1456.
  • "The Compact Edition". Oxford English Dictionary. 2. England,UK: Oxford University Press. 1933. p. 883.
  • Ayto, John (1990). The Diner's Dictionary: Word Origins of Food and Drink. Oxford University Press. pp. 351–2. ISBN 978-0-19-964024-9.
  • Yogerst, Joe; Mellin, Maribeth (2001). Argentina. Globe Pequot. p. 39. ISBN 0762703547.