Michael Jai White

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Michael Jai White
Michael Jai White 2016.jpg
Michael Jai White tại MagicCity ComicConvafo vào tháng 1 năm 2016
SinhMichael Richard Jai White
10 tháng 11, 1967 (53 tuổi)
Brooklyn, New York City, New York, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpDiễn viên, Võ sĩ, Đạo diễn, Diễn viên lồng tiếng
Năm hoạt động1989–nay
Phối ngẫuCourtney Chatham (2005–2011)
Gillian Iliana Waters (2015–nay)
Con cái6[cần dẫn nguồn]

Michael Jai White tên đầy đủ là Michael Richard Jai White (sinh ngày 10 tháng 11 năm 1967) là một diễn viên kiêm võ sĩ và đạo diễn người Mỹ. Anh được mọi người biết đến và chú ý nhiều khi liên tục đảm nhiệm vai chính trong một số bộ phim hành động đình đám như: Undisputed 2, Never Back Down phần 2 và 3, Blood And Bone, Chim Ưng Trỗi Dậy... Ngoài đóng phim, anh cũng tham gia lồng tiếng cho các nhân vật trong trò chơi điện tử như: Jax Briggs trong game Mortal Kombat: Legacy và Cyborg Seth trong Universal Soldier: The Return.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

White sinh ra ở Brooklyn, New York và chuyển đến Bridgeport, Connecticut khi còn là một thiếu niên, anh tốt nghiệp trường Trung học Central năm 1985. Sau đó, anh tốt nghiệp Đại học Bang Southern Connecticut ở New Haven, CT.

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

White tại Comic Con vào tháng 7 năm 2011
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1989 The Toxic Avenger Part II Apocalypse Inc. Executive
The Toxic Avenger Part III: The Last Temptation of Toxie Apocalypse, Inc. Executive
1991 Teenage Mutant Ninja Turtles II: The Secret of the Ooze Audience Man Uncredited
True Identity Alley Guy #1
1992 Prototype Stunts
Universal Soldier Soldier
1993 Full Contact Low-Ball
1994 On Deadly Ground Stunts
Lion Strike Silvio
1995 Ballistic Quint
Tyson Mike Tyson
1996 2 Days in the Valley Buck
1997 City of Industry Odell Williams
Spawn Albert "Al" Simmons / Spawn
1998 Ringmaster Demond
Thick as Thieves Pointy
1999 Breakfast of Champions Howell
Mutiny Ben Cooper
Universal Soldier: The Return SETH
2000 The Bus Stop Short film
2001 Exit Wounds Lewis Strutt
2002 Trois 2: Pandora's Box Hampton Hines
2003 Justice Tre Direct-to-video
2004 Silver Hawk Morris
Kill Bill: Volume 2 Da Moe Deleted scene
2006 Undisputed II: Last Man Standing George Chambers Direct-to-video
2007 Why Did I Get Married Marcus
PVC-1 Executive producer
2008 The Dark Knight Gambol
2009 Black Dynamite Black Dynamite Also writer
Blood and Bone Isaiah Bone Direct-to-video; also producer
Three Bullets The Man Short film; also writer, producer and stunt choreographer
2010 Why Did I Get Married Too? Marcus
Mortal Kombat: Rebirth Jackson "Jax" Briggs Short film[1]
2011 Never Back Down 2: The Beatdown Case Walker Direct-to-video; also director
Tactical Force Hunt Direct-to-video
2012 We the Party Officer Davis
Freaky Deaky Donnell Lewis
The Philly Kid Arthur Letts
2013 Fedz Big D
2014 Android Cop Hammond
Falcon Rising John 'Falcon' Chapman
Skin Trade FBI Agent Reed
2015 Chocolate City Princeton
Chain of Command James Webster
2016 Beyond the Game
The Asian Connection Greedy Greg
Never Back Down: No Surrender Case Walker Direct-to-video; also director
Vigilante Diaries Barrington Direct-to-video[2][3]
Chocolate City: Vegas Strip Princeton Direct-to-video
2017 Cops and Robbers Michael
S.W.A.T.: Under Siege Scorpion
2018 Accident Man Mick
Making a Killing Orlando Hudson
Dragged Across Concrete Biscuit
2019 The Hard Way Payne Direct-to-video
Triple Threat Devereaux
Undercover Brother 2 Undercover Brother
2020 HeadShop Reverend Carter Direct-to-video; filming
The Outlaw Johnny Black Johnny Black Direct-to-video, also director

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ George 'El Guapo' Roush (ngày 8 tháng 6 năm 2010). “Mortal Kombat Fans, This Is The Hard 'R' MK Movie You've Been Waiting For”. latinoreview.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ Vigilante Diaries 
  3. ^ Taylor, Kelly. “Michael Jai White on new film 'Vigilante Diaries' and finding his soul mate”. Fox (bằng tiếng en-US). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]