Mikoyan-Gurevich MiG-17
| MiG-17 | |
|---|---|
PZL-Mielec Lim-5, phiên bản MiG-17 của Ba Lan | |
| Thông tin chung | |
| Kiểu | Máy bay tiêm kích |
| Nguồn gốc | Liên Xô |
| Hãng sản xuất | Mikoyan-Gurevich |
| Tình trạng | Phục vụ hạn chế |
| Khách hàng chính | Không quân Liên Xô (từng sử dụng) Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (từng sử dụng) Không quân Ba Lan (từng sử dụng) Không quân Nhân dân Việt Nam (từng sử dụng) |
| Số lượng sản xuất | 10,649 bao gồm các phiên bản sản xuất ở các nước khác |
| Lịch sử | |
| Được giới thiệu | Tháng 10 năm 1952 |
| Chuyến bay đầu tiên | 14 tháng 1 năm 1950 |
| Phát triển từ | Mikoyan-Gurevich MiG-15 |
| Biến thể | PZL-Mielec Lim-6 Shenyang J-5 |
| Phát triển thành | Mikoyan-Gurevich MiG-19 |
Mikoyan-Gurevich MiG-17 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-17; Tên ký hiệu của NATO: Fresco)[1] là một máy bay tiêm kích phản lực cận âm sản xuất bởi Liên Xô, được đưa vào sử dụng từ năm 1952. MiG-17 được sản xuất theo giấy phép tại Trung Quốc với tên Shenyang J-5 và tại Ba Lan với tên PZL-Mielec Lim-6. Đến nay, Không quân Triều Tiên vẫn còn sử dụng MiG-17, và loại máy bay này từng tham chiến ở Trung Đông và châu Á.
MiG-17 là phiên bản cải tiến nâng cao từ MiG-15 mà Liên Xô sản xuất trong Chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên, MiG-17 ra đời quá muộn nên không kịp tham chiến ở đó và lần đầu được sử dụng trong Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai năm 1958. Dù được thiết kế chủ yếu để bắn hạ các máy bay ném bom Mỹ bay chậm, MiG-17 lại tỏ ra rất hiệu quả trong Kháng chiến chống Mĩ khi được bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam sử dụng để đối đầu với các tiêm kích và cường kích đế quốc Mỹ. Lý do là MiG-17 cơ động và linh hoạt hơn F-4 Phantom và F-105 Thunderchief của Mỹ (vốn thiên về tốc độ và tác chiến tầm xa), và MiG-17 vẫn dùng pháo, trong khi các phiên bản F-4 đầu tiên lại không có pháo.
Thiết kế và phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]Mặc dù MiG-15bis đã đưa thiết kế cánh cụp vào không chiến trên bầu trời Triều Tiên, nhưng ngay từ năm 1949, Cục thiết kế Mikoyan–Gurevich đã bắt đầu làm việc trên mẫu thay thế nó (ban đầu là MiG-15bis45) nhằm khắc phục những vấn đề phát sinh với MiG-15 trong chiến đấu.[2] Kết quả là một trong những tiêm kích cận siêu âm thành công nhất được giới thiệu trước khi các máy bay siêu âm thực sự như Mikoyan–Gurevich MiG-19 và North American F-100 Super Sabre ra đời. Thiết kế này rốt cuộc vẫn tỏ ra hiệu quả sang tận thập niên 1960, khi nó được đưa vào các trận không chiến cận âm trên bầu trời Việt Nam để đối đầu với những máy bay nhanh hơn nhiều nhưng không được tối ưu cho việc cơ động ở tốc độ thấp như vậy, trong các pha quần vòng cự ly ngắn.
Trong khi MiG-15 dùng cảm biến Mach để tự động mở phanh hãm vì nó không thể bay an toàn vượt quá Mach 0,92, thì MiG-17 được thiết kế để vẫn điều khiển được ở các số Mach cao hơn.[3] Những phiên bản đầu vẫn dùng bản sao động cơ Rolls-Royce Nene do Liên Xô chế tạo, Klimov VK-1, nên nặng hơn mà lực đẩy lại tương đương. Các biến thể MiG-17 về sau là những máy bay tiêm kích Liên Xô đầu tiên áp dụng buồng đốt tăng lực, đốt thêm nhiên liệu trong luồng khí xả của động cơ chính để tạo lực đẩy tăng cường, đổi lại là hiệu suất giảm mạnh.
Tuy MiG-17 trông rất giống MiG-15, nó lại có cánh và thăng bằng ngang (đuôi ngang) mới, mỏng hơn và quét nhiều hơn, để phù hợp với tốc độ tiệm cận Mach 1. Trong khi F-86 đưa vào sử dụng đuôi toàn chuyển động ("all-flying tailplane"), giúp máy bay điều khiển tốt hơn gần vận tốc âm, thì đặc điểm này không được áp dụng trên các máy bay MiG cho đến mẫu siêu âm hoàn toàn là MiG-19.[1] Góc quét cánh là 45° (giống F-100 Super Sabre của Mỹ) ở phần sát thân và 42° ở phần cánh ngoài.[4] Cánh cứng hơn này chống lại được xu hướng đầu cánh bị uốn và làm mất đối xứng khí động một cách đột ngột khi bay ở tốc độ cao và tải trọng cánh lớn.[2]
Những điểm khác dễ nhận thấy so với mẫu tiền nhiệm: bổ sung tấm chắn dòng thứ ba trên mỗi cánh, thêm vây bụng, và phần thân sau dài hơn, thuôn ít hơn, làm tổng chiều dài tăng thêm khoảng một mét. MiG-17 vẫn dùng cùng động cơ Klimov VK-1, và phần lớn kết cấu còn lại như thân trước, bộ càng đáp và hệ thống lắp đặt pháo đều được giữ lại từ mẫu trước đó.[4] Nguyên mẫu đầu tiên, được cục thiết kế ký hiệu là I-330 "SI", đã bay thử lần đầu vào ngày 14 tháng 1 năm 1950, do phi công Ivan Ivashchenko điều khiển.[6]
Trong quá trình thử nghiệm, phi công Ivan Ivashchenko đã thiệt mạng khi máy bay của ông xuất hiện hiện tượng rung, làm bật đuôi ngang, khiến máy bay rơi vào trạng thái xoáy và đâm xuống vào ngày 17 tháng 3 năm 1950. Việc cánh không đủ độ cứng cũng dẫn đến hiện tượng đảo chiều aileron, nhưng đã được phát hiện và khắc phục. Việc chế tạo và thử nghiệm các nguyên mẫu bổ sung "SI-2" và các máy bay loạt thử nghiệm "SI-02" và "SI-01" trong năm 1951 nhìn chung đã thành công. Ngày 1 tháng 9 năm 1951, máy bay được chấp nhận đưa vào sản xuất và chính thức được đặt định danh riêng là MiG-17, sau quá nhiều thay đổi từ MiG-15 ban đầu. Người ta ước tính rằng với cùng loại động cơ như của MiG-15, tốc độ tối đa của MiG-17 vẫn cao hơn 40–50 km/h, và chiếc tiêm kích này có khả năng cơ động tốt hơn ở độ cao lớn.[6]
Sản xuất loạt bắt đầu vào tháng 8 năm 1951, nhưng việc sản xuất với số lượng lớn bị hoãn để ưu tiên làm thêm MiG-15, nên nó không bao giờ được đưa vào Chiến tranh Triều Tiên. Máy bay chỉ chính thức vào biên chế từ tháng 10 năm 1952, khi MiG-19 gần như đã sẵn sàng bay thử. Trong quá trình sản xuất, máy bay được cải tiến và sửa đổi nhiều lần. MiG-17 bản cơ bản là tiêm kích ban ngày đa dụng, trang bị ba pháo: một pháo Nudelman N-37 cỡ 37 mm và hai pháo 23 mm, mỗi khẩu 80 viên, tổng 160 viên. Nó cũng có thể làm nhiệm vụ tiêm kích–ném bom, nhưng tải bom bị xem là nhẹ so với các máy bay cùng thời, và nó thường mang thêm thùng dầu phụ thay vì bom.
Mặc dù đã thiết kế một kiểu buồng lái cho phép nhìn rõ về phía sau, điều cần thiết cho không chiến, giống như F-86 nhưng các máy bay MiG-17F sản xuất thực tế lại được lắp loại tiềm vọng kính nhìn sau rẻ hơn; loại này còn xuất hiện trên tiêm kích Liên Xô muộn tới tận MiG-23. Đến năm 1953, phi công được trang bị ghế phóng an toàn hơn với màn che bảo vệ mặt và dây cố định chân giống ghế Martin–Baker của phương Tây. MiG-15 từng chịu thiệt vì không có kính ngắm radar, nhưng năm 1951, kỹ sư Liên Xô thu được một chiếc F-86 Sabre bị bắt ở Triều Tiên và sao chép kính ngắm quang học cùng radar đo xa súng SRD-3 để tạo ra kính ngắm ASP-4N và radar SRC-3. Bộ đôi này tỏ ra cực kỳ nguy hiểm trên bầu trời Việt Nam trước các máy bay như F-4 Phantom, mà phi công của chúng than phiền rằng pháo và kính ngắm radar đã bị bỏ đi vì cho là lỗi thời..[2]
Nguyên mẫu thứ hai, "SP-2" (NATO gọi là "Fresco A"), là một máy bay đánh chặn được trang bị radar. Ngay sau đó, một số chiếc tiêm kích mọi thời tiết MiG-17P ("Fresco B") được sản xuất, lắp radar RP-1 Izumrud và sửa đổi cửa hút gió phía trước.
Đầu năm 1953, tiêm kích ban ngày MiG-17F bắt đầu được sản xuất. Chữ "F" chỉ việc nó được lắp động cơ VK-1F có buồng đốt phụ (afterburner) bằng cách cải tiến phần thân sau với ống phun hội tụ–khuếch tán mới và hệ thống nhiên liệu mới. Các động cơ VK-1F đầu tiên được chỉnh riêng cho MiG-17F gặp vấn đề khi sử dụng buồng đốt phụ bình thường trong thời gian dài, do hợp kim dùng cho vỏ ngoài ống phun và các cánh tĩnh không chịu được nhiệt đủ tốt. Vì vậy các máy bay sản xuất giai đoạn 1953–1955 có một cụm buồng đốt phụ đặc biệt dùng thùng riêng chứa 90% ethanol để đốt trong buồng đốt phụ vì nhiệt cháy thấp hơn. Biến thể động cơ này được ký hiệu VK-1F(A). Các máy bay sản xuất về sau dùng hệ thống bình thường với nhiên liệu trên máy bay. Buồng đốt phụ giúp tốc độ lên cao (tốc độ leo) tăng gấp đôi và cải thiện rất nhiều khả năng cơ động theo trục thẳng đứng. Tuy máy bay không được thiết kế để bay siêu âm, phi công giỏi vẫn có thể "lao" qua tốc độ âm trong một góc bổ nhào thoải, dù máy bay thường sẽ ngóc mũi lên ngay trước khi chạm Mach 1. Đây trở thành biến thể phổ biến nhất của MiG-17.
Biến thể sản xuất hàng loạt tiếp theo, MiG-17PF ("Fresco D"), tích hợp radar Izumrud RP-2 mạnh hơn, nhưng chúng vẫn phải dựa vào dẫn đường đánh chặn từ mặt đất (GCI) để phát hiện và được dẫn tới mục tiêu. Năm 1956, một lô nhỏ (47 chiếc) được cải tạo lên chuẩn MiG-17PM (còn gọi là PFU) với bốn tên lửa không đối không Kaliningrad K-5 thế hệ đầu (NATO gọi là AA-1 "Alkali"). Một lô nhỏ MiG-17R trinh sát cũng được chế tạo với động cơ VK-1F (sau khi trước đó thử với động cơ VK-5F).
Chế tạo theo giấy phép
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1955 Ba Lan nhận được giấy phép chế tạo MiG-17. Việc sản xuất MiG-17F diễn ra tại WSK-Mielec với tên hiệu là Lim-5. Chiếc Lim-5 hoàn thành ngày 28 tháng 11, 1956 và cho đến năm 1960 tổng cộng 477 chiếc đã được chế tạo. Một số chiếc được chế tạo ở kiểu biến thể trinh sát Lim-5R, với máy ảnh AFA-39. Từ 1959-1960, 129 chiếc MiG-17PF đánh chặn đã được sản xuất với tên hiệu Lim-5P. Sau đó, Ba Lan đã phát triển những chiếc máy bay tấn công dựa trên MiG-17: Lim-5M sản xuất từ 1960, Lim-6bis sản xuất từ 1963 và Lim-6M (đã được chuyển đổi trong thập kỷ 1970) và các biến thể trinh sát: Lim-6R (Lim-6bisR) và MR.
Tại Trung Quốc, chiếc MiG-17F đầu tiên được lắp ráp từ các bộ phận năm 1956, sau đó từ năm 1957 bắt đầu sản xuất theo giấy phép tại Shenyang. Phiên bản chế tạo của Trung Quốc được gọi là Shenyang J-5 (dùng trong nước) hay F-5 (cho xuất khẩu - không nên nhầm với loại F-5 Freedom Fighter). Theo một số nguồn tin, những chiếc MiG-17 ban đầu, do Liên Xô chuyển giao, được gọi là J-4. Từ năm 1964, các biến thể do Trung Quốc sản xuất với một radar, tương tự như MiG-17PF, được gọi là J-5A (F-5A). Người Trung Quốc cũng phát triển một phiên bản huấn luyện hai ghế ngồi JJ-5 (FT-5 cho xuất khẩu), cabin J-5 theo kiểu JJ-2 (sản xuất theo giấy phép MiG-15UTI). Nó đã được sản xuất trong giai đoạn 1966-1986, là biến thể cuối cùng và duy nhất có hai ghế ngồi của MiG-17 được sản xuất. Người Xô viết không sản xuất MiG-17 hai chỗ ngồi vì họ cho rằng biến thể huấn luyện của loại MiG-15 vẫn đáp ứng tốt yêu cầu.
Lịch sử hoạt động
[sửa | sửa mã nguồn]Mục đích thiết kế của MiG-17 cũng giống như những máy bay tiêm kích khác của Liên Xô thời đó, là bắn hạ những máy bay ném bom của Mỹ, tránh giao chiến dogfight (hỗn chiến). Máy bay tiêm kích dưới tốc độ âm thanh này (vận tốc tối đa là 0.93 Mach) được sử dụng có hiệu quả nhất trong đối đầu với các máy bay cường kích-ném bom nặng nề, bay chậm (0.6-0.8 Mach) của Mỹ, như những máy bay ném bom chiến lược trụ cột của Mỹ (như B-50 hay B-36 (cả hai loại máy bay này đều trang bị động cơ piston). Thậm chí khi mục tiêu đã có đủ thời gian cảnh báo trước và thả bớt trọng lượng nhằm tăng tốc độ để tẩu thoát, thì việc đó cũng là đủ để chúng phải từ bỏ nhiệm vụ ném bom của mình.
Theo thời gian, Không quân Hoa Kỳ đã đưa vào hoạt động những máy bay ném bom có tốc độ bay đạt mức siêu âm như B-58 Hustler và F-111 Aardvark. Đến cuối thập niên 1950, MiG-17 đã trở thành kiểu máy bay lỗi thời trong biên chế của Lực lượng phòng không Xô viết và được thay thế bởi những máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm như Sukhoi Su-7, MiG-21 và MiG-23.

Dù vậy, đã có hơn 20 quốc gia tiếp tục sử dụng MiG-17. MiG-17 đã trở thành một máy bay tiêm kích tiêu chuẩn trong không quân các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. MiG-17 cũng được nhiều nước khác mua, chủ yếu tại châu Phi và châu Á, bao gồm những nước trung lập hay đồng minh với Liên Xô.
MiG-17 không được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên, nhưng nó đã tham gia chiến đấu trong các cuộc chiến tại Eo biển Đài Loan giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), khi những chiếc MiG-17 của Trung Quốc chạm trán với F-86 của Đài Loan vào năm 1958.
MiG-17 đã giành chiến thắng đầu tiên vào ngày 29 tháng 7 năm 1953. Oanh tạc cơ trinh sát RB-50G của Mỹ đã xâm phạm không phận của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Kazakhstan. Hai chiếc máy bay tiêm kích MiG-17 đã cất cánh từ sân bay Nikolaevka để đánh chặn. Sau khi thấy MiG-17, phi cơ Mỹ đã khai hỏa súng máy Browning M2HB 12,7mm khiến một chiếc MiG-17 bị hư hại. Bị tấn công trước, các máy bay MiG-17 đã bắn hạ chiếc RB-50 bằng pháo 23mm. Trong số 17 phi công Mỹ, chỉ có một người sống sót và bị bắt giữ trên mặt đất.
Vào mùa hè năm 1954, Liên Xô đã chuyển giao cho Bulgaria một nhóm máy bay MiG-17PF để chống lại những máy bay Douglas A-26 Invader(có tên là B-26 từ năm 1948 đến năm 1965) của Mỹ gần như mỗi đêm đều xâm phạm không phận nước này. MiG-17 đã tuần tra trên bầu trời Bulgaria vào ban đêm. Trong 1 phi vụ tuần tra, phi công Anatoly Zhdanovich đã phát hiện 1 chiếc B26, đuổi kịp nó gần biên giới với Hy Lạp, khai hỏa và bắn hạ chiếc B-26.
MiG-17 cũng được Ai Cập, Syria sử dụng để chiến đấu chống lại Israel trong các cuộc Xung đột Ả Rập-Israel. Trong cuộc khủng hoảng Suez năm 1956, Không quân Ai Cập có 12 chiếc MiG-17F. Đối thủ chính là các máy bay chiến đấu MD-454 Mystere và MD-450 Ouragan của Không quân Israel. Các chiếc MiG-17 của Ai Cập đã giành được một số chiến thắng trên không mà không bị tổn thất. Trong trận không chiến trên sân bay Cabrit, ba chiếc MiG-17 đã bắn hạ ba chiếc Mystere của Israel. Tuy nhiên, trong các cuộc chiến tranh Sáu ngày năm 1967, kết quả của MiG-17 khá nghèo nàn do nhiều nguyên nhân: phi công Ả Rập có trình độ thấp hơn so với phi công Israel, chiến thuật của quân Ả Rập không hợp lý, và MiG-17 rõ ràng là đã lạc hậu so với các máy bay F-4 Phantom hiện đại nhất của Không quân Israel.
Ít nhất 24 chiếc MiG-17 đã phục vụ trong Không quân Nigeria và được một nhóm gồm các phi công của Nigeria, Đông Đức, Liên Xô, Nam Phi, Vương quốc Anh, Úc lái trong thời gian xảy ra Nội chiến Nigeria 1967-1970. 4 chiếc MiG-17 đã được Liên Xô cung cấp khẩn cấp cho Sri Lanka trong cuộc nổi dậy 1971, và chúng đã được sử dụng để ném bom và tấn công mặt đất trong cuộc xung đột.
Kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam (1954-1975)
[sửa | sửa mã nguồn]MiG-17 đã trở thành máy bay tiêm kích đánh chặn chính trong Không quân Nhân dân Việt Nam vào năm 1965. Tuy đã rất lạc hậu vào thời điểm đó, song nhờ chiến thuật hợp lý, những chiếc MiG-17 đã tham chiến và giành những thắng lợi đáng kể trước các máy bay chiến đấu hiện đại của Hoa Kỳ trong Kháng chiến chống Mỹ, khi chúng kết hợp chiến đấu cùng với các máy bay MiG-19 và MiG-21. Một số bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam thậm chí còn thích MiG-17 hơn MiG-19 và MiG-21 vì nó có khả năng bẻ ngoặt nhanh hơn hơn dù tốc độ bay thẳng không nhanh bằng MiG-19 và MiG-21.

36 chiếc MiG-17F đầu tiên của Việt Nam được biên chế cho Trung đoàn tiêm kích 921 (Đoàn Sao đỏ) vào ngày 3/2/1964. Các bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam hoàn tất huấn luyện ở Trung Quốc, trở về nước vào ngày 6/8/1964 và tiếp tục huấn luyện tại sân bay Nội Bài.
Ngày 7/8/1964, một máy bay do thám U-2 phát hiện những chiếc MiG-17 của Việt Nam đang đậu trên sân bay. Tuy nhiên, không có sỹ quan Mỹ nào nghĩ rằng MiG-17 có thể đương đầu với các máy bay kiểu mới của Mỹ. Tướng J. Paul, chỉ huy tầu sân bay USS Constellation còn tuyên bố rằng: "Cuộc chiến đấu với phi công Việt Nam chỉ là trò chơi. Các máy bay trinh sát cho phép người Mỹ nắm rõ lực lượng không quân bé nhỏ này, một dúm máy bay cổ lỗ trú trong những bức tường bằng đất đắp không mái che."[7]
Khi so sánh về thông số kỹ thuật, MiG-17 hoàn toàn không thể so sánh được với các tiêm kích đời mới như F-4 Phantom, F-8 Crusader, F-105 Thunderchief... Các loại máy bay này đều có vận tốc tối đa đạt tới trên Mach 2, trang bị radar tầm xa và tên lửa không đối không có thể bắn trúng mục tiêu ở xa hàng chục km, trong khi MiG-17 chỉ có vận tốc tối đa là Mach 0,93, cũng không có radar và tên lửa, vũ khí chỉ có pháo liên thanh với tầm bắn hiệu quả chỉ khoảng 1 km. Như vậy, nếu đối đầu trực diện thì MiG-17 sẽ dễ dàng bị radar địch phát hiện và bị bắn hạ từ xa mà không thể đáp trả. Tuy nhiên, bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam đã nghiên cứu kỹ từng loại máy bay và chiến thuật của Mỹ để tìm ra chiến thuật hợp lý, khắc phục được sự yếu thế của MiG-17. Theo đó, máy bay Mỹ tuy bay nhanh, vũ khí hiện đại nhưng khả năng bay bẻ ngoặt khá thấp, mất tốc độ nhiều khi đổi hướng, một số thiếu pháo đánh cận chiến; còn MiG-17 tuy bay chậm, vũ khí lỗi thời nhưng có ưu điểm là nhỏ gọn, khả năng bay bẻ ngoặt rất tốt, bán kính quay vòng nhỏ nên rất có lợi thế khi đánh cận chiến. Do vậy lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam đã đề ra chiến thuật: đầu tiên MiG-17 sẽ bay rất thấp, men theo địa hình với sự trợ giúp từ radar đánh chặn kiểm soát mặt đất - GCI (để tránh bị radar máy bay Mỹ phát hiện từ xa). Khi đã tới gần phi đội địch, những chiếc MiG-17 mới kéo cao đánh cận chiến, sử dụng hai chiến thuật: "bay vòng tròn cắt đường kính ở độ cao trung bình thấp" và "tiến công đối đầu ngoặt gấp", sử dụng lợi thế bẻ ngoặt nhanh để bắn hạ máy bay Mỹ. Chiến thuật này đã thể hiện hiệu quả cao, khắc chế được ưu thế đánh tầm xa của máy bay Mỹ và phát huy được lợi thế đánh tầm gần của MiG-17[8]
Các thuật ngữ của phi công Việt Nam đã thể hiện những chiến thuật rất đặc trưng: "luồn sâu đánh hiểm", "đồng loạt tấn công", "tiến công liên tục", "xé đội hình vòng tròn", "chia cắt đội hình địch", "tấn công khi địch cắt kéo"... Trong đó có thuật ngữ "Tắt máy núp mây", tất nhiên đây là thuật ngữ chiến thuật ẩn dụ chứ không phải hiểu theo nghĩa đen là "tắt động cơ rồi dừng lại nấp trong mây". Theo thuật ngữ này, lúc giao chiến, MiG bay vọt lên cao, vượt qua góc quét của radar trên máy bay Mỹ (gọi ẩn dụ là "núp mây"); sau đó bổ nhào lao nhanh đứng xuống tấn công đội hình địch, khi bổ nhào máy bay sẽ rung lắc mạnh nên thường không sử dụng đốt tăng lực ở động cơ (gọi ẩn dụ là "tắt máy"). Lúc này phi công Mỹ sẽ bị tấn công bất ngờ. Trong các hồi ký của phi công Mỹ thường kể MiG-17 áp sát tấn công một cách bất ngờ từ ngoài màn hình radar. Bên cạnh đó, còn có sự ghi nhận việc máy bay MiG bay thấp sát mặt đất (tránh radar trên máy bay Mỹ) hoặc kết hợp với việc bay thấp và leo cao bổ nhào để tạo bất ngờ.
Vào ngày 3 tháng 4 năm 1965, MiG-17 đã giành chiến thắng đầu tiên trên bầu trời Việt Nam. sáu chiếc MiG-17 cất cánh từ Căn cứ Không quân Nội Bài thành hai tốp 2 và 4 chiếc, mục tiêu là các máy bay của Hải quân Mỹ đang yểm trợ cho lực lượng 80 chiếc máy bay của Không quân Mỹ đang cố gắng tấn công cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). Chỉ huy MiG-17, Trung úy Phạm Ngọc Lan, tấn công tốp máy bay VF-211 của tàu sân bay USS Hancock, bắn hỏng nặng một chiếc F-8E Crusader của Trung úy Spence Thomas, khiến nó phải hạ cánh khẩn cấp xuống Căn cứ Không quân Đà Nẵng. Một chiếc F-8 thứ hai đã được phi công Phan Văn Túc tuyên bố bắn hạ, nhưng phía Hoa Kỳ không công nhận.
Ngày 03/3/1955 được lấy làm Ngày truyền thống Không quân Nhân dân Việt Nam. Vào ngày 4 tháng 4 năm 1965, 4 chiếc MiG-17 của Việt Nam đã tấn công tám máy bay chiến đấu F-105 Thunderchief của Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa, bắn hạ hai chiếc F-105.
Sau vụ việc, các phi công Mỹ đã cảm thấy chấn động khi những chiếc MiG-17 cũ, không có radar và tên lửa không đối không, vận tốc tối đa chỉ đạt Mach 0,93 nhưng lại bắn hạ được các máy bay tiêm kích-ném bom F-8 Crusader và F-105 Thunderchief hiện đại (tốc độ Mach 2, mang được tên lửa và radar đời mới). Tổng tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ, tướng John P. McConnell đã "phát điên" khi biết tin hai chiếc F-105 đã bị bắn hạ bởi những chiếc MiG-17 cận âm từ thời chiến tranh Triều Tiên.[9]
Tiêm kích F-4 của Mỹ ban đầu không được trang bị pháo mà chỉ có tên lửa không đối không, khiến nó gặp bất lợi khi đối đầu với chiến thuật quần vòng của MiG-17. Các tên lửa không đối không như AIM-7 Sparrow và AIM-9 Sidewinder của F-4 có góc dò tìm hạn chế và khả năng bay đổi hướng không cao, nên khó bắn trúng khi MiG-17 dùng chiến thuật cơ động bẻ ngoặt liên tục ở tầm gần. Theo phi công Nguyễn Văn Bảy (A), các phi công MiG-17 Việt Nam đã tìm ra phương pháp né tên lửa không đối không của Mỹ bằng cách quan sát bằng mắt rồi căn thời gian, khi tên lửa sắp lao đến thì bẻ ngoặt thật nhanh. Quả tên lửa sẽ không kịp đổi hướng theo chiếc MiG, nên sẽ bay vọt qua và trượt mục tiêu. Trong suốt quá trình chiến đấu, phi công Nguyễn Văn Bảy đã dùng phương pháp này để né được hàng chục tên lửa đối không của máy bay Mỹ[10]
Để khắc phục khả năng không chiến với những máy bay tiêm kích nhỏ và nhanh nhẹn như những máy bay MiG, Mỹ đã thành lập huấn luyện không chiến khác biệt (DACT) trong chương trình huấn luyện của TOPGUN, người Mỹ đã phải sử dụng những máy bay A-4 Skyhawk cận âm và F-5 Freedom Fighter siêu âm nhưng bay ở tốc độ cận âm để đóng giả làm máy bay MiG-17. Hải quân Hoa Kỳ cũng thành lập những phi đội trang bị của đối phương (tức là sử dụng máy bay đóng giả làm máy bay đối phương) với những chiếc A-4 nhanh nhẹn để thực hành tấn công những máy bay trong chương trình DACT.
Carl O. Schuster, cựu sĩ quan hải quân Mỹ, nhận xét "Không quân Việt Nam đã đề ra những chiến thuật hiệu quả để tận dụng tối đa ưu điểm của MiG-17, hạn chế điểm yếu như tăng tốc chậm hoặc khó duy trì vòng lượn ở độ cao nhỏ. Việt Nam đã áp dụng chiến thuật 'đánh du kích trên trời' nhằm vào các biên đội cường kích Mỹ. Tính năng bay của MiG-17 hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận này... MiG-17 có tác động lớn với Mỹ cả về mặt công nghệ và tác chiến. Nó buộc các chỉ huy phải thay đổi chiến thuật, tới mức vượt xa kỳ vọng với một nhóm nhỏ tiêm kích cổ lỗ như vậy. Mọi tiêm kích Mỹ ra đời sau năm 1965 đều trang bị pháo để cận chiến. MiG-17 có thể coi là tiêm kích gây tác động lớn nhất với thiết kế chiến đấu cơ Mỹ sau cuộc chiến tại Việt Nam"[11]
Đến năm 1965, Liên Xô chuyển cho Việt Nam phiên bản MiG-17PF mới hơn, có thể hoạt động trong mọi thời tiết nhờ radar RP-2 Izumrud, radar đo xa SRD-3 cho pháo và kính hồng ngoại SIV-52. Cấu hình vũ khí cũng thay đổi với ba pháo NR-23 23mm, thay cho một pháo N-37D 37mm và hai pháo NR-23 như phiên bản MiG-17F.
Không quân Nhân dân Việt Nam cũng khai thác tối đa sự phối hợp hoạt động đồng bộ của MiG-21 với MiG-17 trong không chiến. Những chiếc tiêm kích MiG-17 bay ở tầm thấp dưới 3.000m đã đẩy những chiếc F-4 và F-105 của Mỹ từ độ cao thấp lên độ cao trung bình khoảng 5.000 đến 6.000m, nơi những chiếc MiG-21 đang phục kích tấn công đối phương.[12]
Trong các cuộc không chiến giữa MiG-17 và máy bay Mỹ, đã xảy ra một tình huống trớ trêu với uy danh Không lực Hoa Kỳ. Đó là việc "chuyên gia chống MiG", đại tá phi công Norman C. Gaddis, bị bắn hạ ngay trong lần đầu tiên thực chiến đối mặt với loại máy bay "cổ lỗ" MiG-17. Khi đó, Norman được phi công Mỹ tôn vinh là "chuyên gia chống MiG" với 20 năm kinh nghiệm với gần 4.200 giờ bay. Năm 1960, ông trở thành Hiệu trưởng trường Cao đẳng sĩ quan tham mưu không quân cao cấp. Tại các buổi huấn luyện phi công, Norman thường xuyên chỉ trích các phi công Mỹ tại Việt Nam là "không biết cách khai thác tính năng của các máy bay hiện đại như F-4, F-105 trước các máy bay MiG dưới cơ". Tháng 11/1966, Norman trực tiếp đến Việt Nam để nghiên cứu chiến thuật đối phó với MiG. Sau nhiều tháng nghiên cứu, Norman đã hoàn thiện một tập báo cáo về chiến thuật hạ MiG, chỉ cần thêm chuyến bay thực tế để hoàn tất. Ngày 12/5/1967, Norman cùng với hoa tiêu là Trung úy James M. Jefferson lái chiếc tiêm kích F-4C chỉ huy tốp phi cơ bay từ Lào theo hướng Ba Vì (Hà Nội). 4 chiếc MiG-17 do các phi công Cao Thanh Tịnh, Lê Hải, Hoàng Văn Kỷ, Ngô Đức Mai bay lên đánh chặn. Sau 1 hồi quần vòng, Ngô Đức Mai đã bắn hai loạt đạn ở cự ly 300 mét, bắn rơi chiếc F-4C mang số hiệu BN-63-7614 do Norman điều khiển. Norman kịp nhảy dù và bị bắt, còn hoa tiêu Jefferson tử trận. Không tin nổi mình lại bị bắn hạ ngay lần đầu xuất trận, Norman đòi gặp bằng được phi công lái chiếc MiG-17 đã bắn hạ chiếc F-4C của mình, ông ta càng kinh ngạc hơn khi biết Ngô Đức Mai là một phi công mới chỉ có 300 giờ bay (sau này, phi công Ngô Đức Mai đã hy sinh ngày 3/6/1967 trên vùng trời tỉnh Hà Bắc, ông đã bắn rơi 3 máy bay địch trong đó có chiếc F-4 của Đại tá Gaddis).[13][14]
Từ năm 1965 tới 1972, MiG-17 thuộc các Trung đoàn 921 và 923 được tuyên bố đã bắn rơi 71 máy bay Mỹ: 11 chiếc F-8 Crusader, 16 chiếc F-105 Thunderchief, 32 chiếc F-4 Phantom II, 2 chiếc A-4 Skyhawk, 7 chiếc A-1 Skyraider, 1 chiếc C-47, 1 chiếc trực thăng Sikorsky CH-3C và 1 chiếc máy bay không người lái Ryan Firebee.[15] Tổng cộng, những chiếc MiG-17 của Việt Nam được tuyên bố đã bắn rơi 143 máy bay và trực thăng các loại của đối phương. Đổi lại, phía Việt Nam bị tổn thất 75 chiếc MiG-17 (trong đó có một vài chiếc bị rơi do trục trặc kĩ thuật hoặc do pháo phòng không mặt đất bắn nhầm), 49 phi công MiG-17 đã hy sinh.[16]
3 phi công MiG-17 của Việt Nam đã đạt cấp Ace (bắn hạ từ 5 máy bay địch trở lên) là Nguyễn Văn Bảy (A) (hạ 7 chiếc), Lưu Huy Chao và Lê Hải (mỗi người hạ 6 chiếc).
Thậm chí, phía Việt Nam còn dùng MiG-17 tập kích thành công vào các tàu chiến của Hải quân Mỹ. Ngày 19 tháng 4 năm 1972, hai chiếc MiG-17 mang bom 250kg, do Nguyễn Văn Bảy (B) và Lê Xuân Dị xuất phát từ sân bay dã chiến tại Gát (đường băng bàng đất) đã dùng bom tấn công khu trục hạm USS Higbee (DD-806) khiến nó bốc cháy hư hại nặng, phải kéo về Philippines để sửa chữa, còn tuần dương hạm USS Oklahoma City (CL-91) bị hư hại nhẹ. Đây cũng là lần đầu tiên - rất hy hữu trong lịch sử thế giới, khi chiếc MiG-17 vốn là tiêm kích đối không, lại được cải tiến mang bom và ném theo phương pháp "thia lia" để tập kích vào tàu hải quân.
Các biến thể
[sửa | sửa mã nguồn]Tên định danh nguyên mẫu
[sửa | sửa mã nguồn]- I-330
- (tiếng Nga: И-330) Tên định danh của các nguyên mẫu Samolyot SI.[17]
- I-340
- (tiếng Nga: И-340) Nguyên mẫu SI-02 được sửa đổi để làm nền tảng bay thử nghiệm cho động cơ Mikulin AM-5.[18] Động cơ VK-1 nguyên bản được thay thế bằng hai động cơ AM-5A; mỗi chiếc cung cấp lực đẩy 2.000 kg (4.400 lb). Mặc dù AM-5A không có buồng đốt sau, hai động cơ AM-5A lại tạo ra tổng lực đẩy lớn hơn so với động cơ VK-1F có đốt sau trang bị trên MiG-17F, trong khi trọng lượng nhẹ hơn 88 kg (194 lb). Dẫu vậy, mức lực đẩy này vẫn chưa đáp ứng đủ các thông số thiết kế do Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đề ra. Điều này đã thúc đẩy Aleksandr Mikulin phát triển biến thể AM-5F có buồng đốt sau, sau đó được đưa lên thử nghiệm trên chiếc I-340. Động cơ mới này vẫn chưa đạt kỳ vọng, dẫn tới việc phát triển dòng AM-9 (về sau đổi tên thành Tumansky RD-9B).[19] Các nghiên cứu thực hiện trên chiếc I-340 đã đặt nền móng cho sự ra đời của dòng Mikoyan-Gurevich MiG-19.[18]
Tên định danh quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]- MiG-17
- (tiếng Nga: МиГ-17) Biến thể tiêm kích sản xuất hàng loạt đầu tiên dựa trên nguyên mẫu SI-02, ban đầu trang bị động cơ Klimov VK-1 cung cấp lực đẩy 2.700 kg (6.000 lb).[20][21] Nhiều cải tiến đã được áp dụng dần trên dây chuyền sản xuất:
- MiG-17A
- (tiếng Nga: МиГ-17А) Phiên bản MiG-17 cải tiến trang bị động cơ VK-1A, mang lại công suất tương đương VK-1 nhưng có tuổi thọ vận hành cao hơn.[20][21][22]
- MiG-17SA
- (tiếng Nga: МиГ-17СА) Biến thể nâng cấp nhẹ từ MiG-17A.[22]
- MiG-17P
- (tiếng Nga: МиГ-17П) Biến thể tiêm kích mọi thời tiết trang bị động cơ VK-1A, radar RP-1 Izumrud gắn ở cửa hút khí, trang bị ba hoặc (phổ biến hơn) hai khẩu pháo tự động Nudelman-Rikhter NR-23, cùng tấm phanh gió mở rộng thêm 0,97 m2 (10,4 foot vuông). MiG-17P là dòng tiêm kích đánh chặn trang bị radar đầu tiên của Liên Xô đi vào biên chế, song do tầm nhìn phía trước hạn chế khi hạ cánh, nó chỉ được giao cho các phi công có trình độ trên mức trung bình điều khiển.[23][24]
- MiG-17F
- (tiếng Nga: МиГ-17Ф) Biến thể tiêm kích nâng cấp trang bị động cơ có buồng đốt sau VK-1F, cung cấp lực đẩy khô 2.600 kg (5.700 lb) hoặc 3.380 kg (7.450 lb) khi bật buồng đốt sau. Khối động cơ mới đòi hỏi nhiều sửa đổi trên khung thân gốc của MiG-17, bao gồm việc tái thiết kế phần thân sau và các tấm phanh gió. Cấu hình vũ khí tương tự như trên MiG-17, trong khi MiG-17F được bổ sung kính ngắm ASP-4NM, camera theo dõi FKP-2 và đài vô tuyến VHF RSIU-4V.[25] Nhiều thay đổi kỹ thuật tiếp tục được áp dụng xuyên suốt đợt sản xuất:
- Từ các lô máy bay khoảng giữa số thứ tự 10–96 trở đi, MiG-17F được lắp thêm thùng gom nhiên liệu dự phòng chịu quá tải âm (negative-G).[25]
- Từ khoảng chiếc thứ 50 trở đi, một cụm điều hòa không khí lạnh có kiểm soát nhiệt độ tự động được lắp vào buồng lái và bộ đồ kháng áp PPK-1 trở thành trang bị tiêu chuẩn. Máy bay cũng được bổ sung cơ cấu càng trước cải tiến có hệ thống mở khẩn cấp, van điều khiển thủy lực tự động GA-13M/3 trên vòi phun buồng đốt sau, và ghế phóng ổn định tốt hơn có màn chắn mặt.[25]
- Từ số seri 414351 trở đi, máy bay tích hợp thêm máy đo xa radar SRD-1 liên kết trực tiếp với kính ngắm cùng thiết bị cảnh báo radar Sirena-2.[25]
- MiG-17R
- (tiếng Nga: МиГ-17Р) Đề xuất phiên bản sản xuất hàng loạt từ nguyên mẫu SR-2. Không được chế tạo.[26]
- MiG-17F (Trinh sát)
- (tiếng Nga: МиГ-17Ф) Viết tắt của Foto (Ảnh) hoặc Fotografia (Nhiếp ảnh), là biến thể trinh sát hình ảnh của dòng tiêm kích MiG-17F, sử dụng phần mũi của nguyên mẫu SR-2 với camera gắn dưới buồng lái và vũ khí gồm hai khẩu pháo tự động NR-23 bố trí ở hai bên sườn mũi.[26][27]

- MiG-17PF
- (tiếng Nga: МиГ-17ПФ) Phiên bản cải tiến từ MiG-17P trang bị động cơ VK-1F và phần thân sau của MiG-17F, máy phát điện GSR-6000 nâng cấp, máy đo xa radar SRD-1M liên kết với kính ngắm, máy thu cảnh báo radar Sirena-2 và đồng hồ chỉ thị vị trí mặt đất NI-50B. Bắt đầu từ chiếc máy bay thứ 25 của loạt sản xuất thứ sáu, radar RP-1 Izumrud được thay thế bằng loại RP-5 Izumrud.[28]
- MiG-17PFU
- (tiếng Nga: МиГ-17ПФУ) Biến thể tiêm kích mang tên lửa của MiG-17PF phát triển từ nguyên mẫu SP-6, trang bị radar RP-1U Izumrud cùng bốn giá phóng APU-4 mang tên lửa không đối không K-5. Ngoài K-5, các giá phóng này cũng tương thích với rocket không điều khiển ARS-190 và ARS-212M. Khác với nguyên mẫu, MiG-17PFU sản xuất hàng loạt trang bị động cơ VK-1F và tháo bỏ hoàn toàn pháo gắn trong thân. Ngoài các máy bay đóng mới, một số chiếc MiG-17PF đã được nâng cấp lên chuẩn MiG-17PFU. Đến năm 1957, MiG-17PFU được hiện đại hóa với radar RP-2U Izumrud-2 và tên lửa K-5M.[29] Phiên bản này còn được biết đến với định danh thay thế là MiG-17PM.[30]
- MiG-17NBU
- (tiếng Nga: МиГ-17НБУ) Nền tảng bay thử nghiệm hệ thống điều khiển bay trợ lực toàn phần "bất khả nghịch".[31]
- MiG-17GU
- (tiếng Nga: МиГ-17ГУ) Hoặc là nền tảng bay thử nghiệm tương tự MiG-17NBU, hoặc là định danh gọi khác của phiên bản này.[31]
- MiG-17M
- (tiếng Nga: МиГ-17М) Bản hoán cải từ tiêm kích MiG-17 thành máy bay thử nghiệm mục tiêu bay không người lái (máy bay bia).[31]
- MiG-17MM
- (tiếng Nga: МиГ-17ММ) Hoặc là nền tảng thử nghiệm tương tự MiG-17M, hoặc là định danh gọi khác của phiên bản này.[31]
Tên định danh OKB
[sửa | sửa mã nguồn]- Samolyot SI-1
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-1) Nguyên mẫu đầu tiên được hoán cải từ một chiếc MiG-15bis. Máy bay này không bao giờ cất cánh mà chỉ dùng làm khung thân thử nghiệm độ bền tĩnh.[32]
- Samolyot SI-2
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-2) Nguyên mẫu thứ hai hoán cải từ MiG-15bis.[32] Những cải tiến so với MiG-15 gồm có đôi cánh hoàn toàn mới với góc quét mép trước 45° ở phần gốc trong, 42° ở phần cánh ngoài, mở rộng diện tích cánh và tăng độ chúc của cánh, sáu gờ chắn khí động trên cánh, biên dạng cánh mỏng hơn (dùng mẫu TsAGI S-12 ở gốc cánh và TsAGI SR-11 ở đầu mút cánh), kéo dài thân máy bay, và tăng diện tích phanh gió lên mức 1,76 m2 (18,9 foot vuông). Trang bị vũ khí giữ nguyên gồm một khẩu pháo tự động N-37D với 42 viên đạn và hai pháo tự động NR-23 với 80 viên đạn mỗi khẩu. Thiết bị điện tử hàng không gồm có đài vô tuyến VHF RSIU-3 Klen, máy phát đáp nhận dạng bạn–thù SRO-1 Bariy-M, hệ thống hạ cánh bằng thiết bị OSP-48 đi cùng máy định hướng ARK-5 Amur, máy thu mốc đánh dấu MRP-48 Khrizantema và máy đo cao vô tuyến RV-2 Kristall.[21]
- Samolyot SI-3
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-3) Đề án nguyên mẫu chưa từng được chế tạo.[33]
- Samolyot SI-02
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-02) Nguyên mẫu thứ ba được hoán cải từ MiG-15bis. Nguyên mẫu này khác với SI-2 chủ yếu ở chỗ khắc phục lỗi mạch điều khiển cánh lái độ cao—nguyên nhân trực tiếp dẫn tới vụ tai nạn của SI-2.[33] Các đợt bay thử nghiệm của SI-02 đạt kết quả khả quan, và máy bay được chấp thuận đưa vào sản xuất hàng loạt với định danh MiG-17.[21] Chiếc phi cơ này về sau tiếp tục được sửa đổi thành nguyên mẫu I-340 (Samolyot SM-1).[18] Cần tránh nhầm lẫn với chiếc SI-2.
- Samolyot SI-01
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-01) Nguyên mẫu thứ tư hoán cải từ MiG-15bis.[33] Mặc dù việc chế tạo nguyên mẫu này bắt đầu trước SI-02, các trục trặc trong khâu sản xuất đã khiến việc hoàn thiện SI-01 bị chậm trễ so với SI-02.[21] Cần tránh nhầm lẫn với chiếc SI-1.
- Samolyot SI
- (tiếng Nga: Самолёт СИ) Tên định danh phòng thiết kế (OKB) của mẫu MiG-17 sản xuất loạt, dựa trên các nguyên mẫu SI-02 và SI-01.[20]
- Samolyot SI-05
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-05) Nền tảng bay thử nghiệm các hệ thống vũ khí.[34]
- Samolyot SI-07
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-07) Nền tảng bay thử nghiệm các hệ thống vũ khí.[34]
- Samolyot SI-10
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-10) Một chiếc MiG-17A duy nhất được sửa đổi với cánh tà kiểu Fowler mới, cánh tà kheo mép trước, cùng nhiều cải tiến khác nhằm nâng cao khả năng cơ động điều khiển.[35]
- Samolyot SI-16
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-16) Nền tảng bay thử nghiệm pháo tự động 57 mm N-57, lắp thay thế vị trí khẩu N-37D ở bên phải mũi.[36] Chiếc SI-16 cũng được sử dụng để thử nghiệm phóng rocket từ các ống phóng ngắn.[34]
- Samolyot SI-19
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-19) Nền tảng bay thử nghiệm loại rocket TRS-190 trên các giá treo APU-4 cải tiến.[36] Chiếc SI-19 cũng dùng để đánh giá việc bắn rocket từ các ống phóng ngắn.[34]
- Samolyot SI-21
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-21) Nền tảng bay thử nghiệm các hệ thống vũ khí.[34]
- Samolyot SI-21m
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-21м) Nền tảng bay thử nghiệm các hệ thống vũ khí.[34]
- Samolyot SI-91
- (tiếng Nga: Самолёт СИ-91) Nền tảng bay thử nghiệm các hệ thống vũ khí.[34]
- Samolyot SP-2
- (tiếng Nga: Самолёт СП-2) Biến thể thử nghiệm trang bị động cơ đốt sau VK-1F và radar đánh chặn Korshun. Chiếc SP-2 cũng được gắn camera S-13 ở mạn phải mũi. Khẩu pháo N-37D được tháo dỡ, trong khi cơ số đạn cho các khẩu pháo tự động NR-23 được tăng lên 120 viên mỗi súng. Dung tích thùng nhiên liệu dưới ống phụt đuôi được mở rộng lên 195 L (52 gal Mỹ) nhằm cân bằng trọng lượng tăng thêm ở phần đầu máy bay.[37] Các đợt bay thử nghiệm cho thấy dù SP-2 đạt được các chỉ tiêu hiệu năng do Hội đồng Bộ trưởng đề ra, nó không mang lại cải thiện đáng kể so với dòng MiG-17F hiện hữu. Các phi công cũng gặp khó khăn khi đọc dữ liệu từ màn hình radar Korshun, vốn còn có độ tin cậy thấp. Một phần vì các lý do này, chương trình SP-2 đã bị hủy bỏ.[38] Tránh nhầm lẫn với biến thể MiG-15 cùng tên.
- Samolyot SP-7
- (tiếng Nga: Самолёт СП-7) Nguyên mẫu của dòng MiG-17P được hoán cải từ một chiếc MiG-17 lắp động cơ VK-1A, tích hợp cấu hình radar RP-1 Izumrud tương tự chiếc Samolyot SP-5, và trang bị ba khẩu pháo tự động NR-23 với 100 viên đạn mỗi khẩu. Khác với MiG-17P thương mại sau này, SP-7 chưa có tấm phanh gió cỡ lớn.[23]
- Samolyot SP-7F
- (tiếng Nga: Самолёт СП-7Ф) Nguyên mẫu của biến thể MiG-17PF mang động cơ VK-1F và phần thân sau của MiG-17F, máy phát điện GSR-6000 cải tiến, máy đo xa radar SRD-1M liên kết với kính ngắm và hệ thống cảnh báo radar Sirena-2. Nguyên mẫu này chưa được lắp đồng hồ chỉ thị vị trí mặt đất NI-50B vốn trở thành trang bị tiêu chuẩn trên máy bay sản xuất loạt.[28]
- Samolyot SP-6
- (tiếng Nga: Самолёт СП-6) Nguyên mẫu của dòng MiG-17PFU trang bị radar RP-1U Izumrud và bốn giá phóng APU-4 cho tên lửa không đối không K-5. Khác với MiG-17PFU sản xuất loạt, chiếc SP-6 lắp động cơ VK-1A và giữ lại một khẩu pháo tự động NR-23 đơn bố trí bên phải mũi.[29]
- Samolyot SP-8
- (tiếng Nga: Самолёт СП-8) Nền tảng thử nghiệm cho máy đo xa radar SRD-3 Grad và màn hình HUD Sneg. Dù các hệ thống Grad và Sneg không được lắp trên máy bay sản xuất hàng loạt, các đợt thử nghiệm đã dẫn tới việc nâng cấp kính ngắm ASP-4NM tích hợp radar đo xa Kvant trên nhiều chiếc MiG-17.[36]
- Samolyot SP-9
- (tiếng Nga: Самолёт СП-9) Nền tảng thử nghiệm cho radar RP-2U Izumrud-2 và tên lửa K-5M.[36] Chiếc SP-9 cũng được dùng để thử nghiệm các thùng rocket gắn dưới giá treo dài, tích hợp hệ thống ZP-6-Sh để tự động phóng rocket tuần tự. Chiếc phi cơ này không trang bị pháo.[34]
- Samolyot SP-10
- (tiếng Nga: Самолёт СП-10) Một chiếc MiG-17PF hoán cải thành nền tảng bay thử nghiệm cho một cặp pháo nòng đôi 23 mm (chưa rõ định danh) cùng rocket ARS-57.[36][39]
- Samolyot SR-2
- (tiếng Nga: Самолёт СР-2) Nguyên mẫu của phiên bản trinh sát dựa trên MiG-17F với phần thân trước được thiết kế lại, gắn máy ảnh AFA-BA-21S hoặc AFA-BA-40R dưới buồng lái và mang vũ khí gồm hai khẩu pháo tự động NR-23 bố trí hai bên thân. Phi công được trang bị máy ghi âm giọng nói MAG-9, và hệ thống điều khiển cánh lái độ cao thủy lực được thay thế bằng động cơ servo. Máy bay còn được gắn động cơ thử nghiệm Klimov VK-5F đạt lực đẩy khô 3.000 kg (6.600 lb) và lực đẩy đốt sau 3.850 kg (8.490 lb). Mặc dù Không quân Liên Xô hài lòng với tính năng của nguyên mẫu, họ vẫn khuyến nghị phiên bản sản xuất đại trà nên giữ lại động cơ gốc VK-1F vì mức tăng hiệu năng của VK-5F không quá vượt trội.[26][27]
- Samolyot SR-2s
- (tiếng Nga: Самолёт СР-2с) Tên định danh phòng thiết kế của phiên bản trinh sát MiG-17F. Về bản chất là một tiêm kích MiG-17F ghép phần mũi của nguyên mẫu SR-2.[26]
- Samolyot SF
- (tiếng Nga: Самолёт СФ) Tên định danh phòng thiết kế của biến thể tiêm kích MiG-17F.[25]
- Samolyot SM-1
- (tiếng Nga: Самолёт СМ-1) Tên định danh phòng thiết kế của nguyên mẫu I-340.[18]
- Samolyot SN
- (tiếng Nga: Самолёт СН) Biến thể thử nghiệm lắp động cơ VK-1A với phần mũi cải tiến gồm hai cửa hút khí đặt ở hai bên thân và cụm vũ khí SV-25, cho phép ba khẩu pháo tự động 23 mm TKB-495 có thể chỉnh góc chúc ngẩng để bắn phá mục tiêu mặt đất. Nắp buồng lái cũng được chỉnh sửa để mở rộng tầm nhìn của phi công. Quá trình bay thử cho thấy hiệu năng bay kém, và cụm bệ pháo bị đánh giá là "vô dụng" do việc khai hỏa khi đang lượn vòng gắt sẽ làm máy bay bị rung lắc chệch khỏi mục tiêu.[40]
- Samolyot SDK-5
- (tiếng Nga: Самолёт СДК-5) Nền tảng bay thử nghiệm bổ trợ cho MiG-9L trong việc phát triển hệ thống dẫn đường cho tên lửa hành trình KS-1 Komet và sau này là Kh-20.[31] Tránh nhầm lẫn với biến thể MiG-15 cùng tên.
Các biến thể của Trung Quốc
[sửa | sửa mã nguồn]Các biến thể của Ba Lan
[sửa | sửa mã nguồn]- Lim-5
- Phiên bản sản xuất theo giấy phép nhượng quyền của MiG-17F do hãng PZL Mielec chế tạo tại Ba Lan, trang bị động cơ Lis-5 (phiên bản VK-1F do Ba Lan sản xuất theo nhượng quyền). Hai nguyên mẫu cùng 222 máy bay sản xuất loạt đã được chế tạo.[43]
- CM-I
- Phiên bản phát triển từ Lim-5 nhằm tối ưu khả năng cất hạ cánh đường băng ngắn (STOL). Máy bay được lắp động cơ rocket hỗ trợ cất cánh (JATO) Type SR và dù hãm đà Type SH-19.[43]
- CM-II
- Biến thể phát triển song song với CM-I nhằm vận hành từ các sân bay dã chiến không trải nhựa. Các điểm thay đổi so với Lim-5 gồm có cụm càng đáp chính cải tiến trang bị lốp áp suất thấp. Phần gốc cánh trong được kéo dài về phía trước để chứa được khoang càng đáp sâu hơn khi thu càng trong khi vẫn duy trì được tỷ số độ dày/dây cung cánh, đồng thời bổ sung một cánh chắn khí động cỡ lớn ngăn cách giữa mặt cánh trong và ngoài. Các thùng nhiên liệu ở phần thân sau được mở rộng để tái cân bằng trọng tâm, và hệ thống đường ống cho thùng dầu phụ được tháo bỏ khỏi các giá treo cánh ngoài (các giá treo này từ đó chỉ có thể mang vũ khí). Hai nguyên mẫu đã được lắp ráp.[44]
- Lim-5M
- Biến thể sản xuất hàng loạt từ mẫu CM-II với 60 chiếc được chế tạo. Dòng phi cơ này gặp phải nhược điểm điều khiển kém ở tốc độ cao, và toàn bộ những chiếc còn lại sau này đều được nâng cấp chuyển đổi lên chuẩn Lim-6bis.[44]
- Lim-5P
- Phiên bản sản xuất theo nhượng quyền của dòng MiG-17P không có thay đổi kết cấu; 129 chiếc đã xuất xưởng.[45]
- Lim-5MR
- Đề xuất biến thể trinh sát với sải cánh nới rộng và gắn các cụm thùng khí tài ở đầu mút cánh mang máy ảnh AFA-39, AFA-BA/40R, AFA-BA/21S hoặc AFP-21. Không được chế tạo.[45]
Các biến thể của Tiệp Khắc
[sửa | sửa mã nguồn]- S-104
- Tên định danh của các máy bay MiG-17 được chế tạo theo giấy phép nhượng quyền tại Tiệp Khắc.[46]
Các biến thể của Đông Đức
[sửa | sửa mã nguồn]
Tên định danh của Hoa Kỳ
[sửa | sửa mã nguồn]- YF-113B
- Định danh bí mật của một chiếc MiG-17F thu giữ được, sử dụng cho chương trình bay thử nghiệm và đánh giá bí mật mang mật danh Have Drill.[48]

- YF-114C
- Định danh bí mật của một chiếc MiG-17F thu giữ được, phục vụ cho chương trình thử nghiệm bay đánh giá mang mật danh Have Ferry.[48]
- YF-114D
- Định danh bí mật dành cho một chiếc MiG-17PF thu giữ được.[48]
Tên mã định danh của phương Tây
[sửa | sửa mã nguồn]- Fresco-A
- Tên ký hiệu của NATO dành cho dòng MiG-17 nguyên bản.[49]
- Fresco-B
- Tên ký hiệu của NATO dành cho biến thể MiG-17P.[50]
- Fresco-C
- Tên ký hiệu của NATO dành cho tiêm kích MiG-17F.[25]
- Fresco-D
- Tên ký hiệu của NATO dành cho MiG-17P và MiG-17PF.[28]
- Fresco-E
- Tên ký hiệu của NATO dành cho biến thể mang tên lửa MiG-17PFU.[29]
Nước sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]Các nước sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]- Không quân Nhân dân Triều Tiên – 106 chiếc Shenyang J-5 và 135 chiếc Shenyang J-5 đang phục vụ.[52][53]
Các nước từng sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]- Không quân Afghanistan nhận những chiếc MiG-17 đầu tiên vào năm 1957 và vận hành ít nhất 90 chiếc.[54] Đến cuối năm 1980 thì phần lớn đã phải nằm đất.[55]
- Không quân Albania – vận hành cả MiG-17F do Liên Xô chế tạo và F-5 (J-5) do Trung Quốc chế tạo.[56]
- Không quân Algeria – vận hành 60 chiếc MiG-17F từ thập niên 1960. Một số vẫn dùng làm máy bay huấn luyện vào cuối thập niên 1980.[56]
- Không quân Angola.[57]
- Không quân Bulgaria – vận hành MiG-17F, MiG-17PF và MiG-17R.[57]
- Không quân Burkina Faso.[58]
- Không quân Hoàng gia Campuchia – nhận 16 máy bay (5 MiG-17 và 11 Shenyang J-5) từ Liên Xô và Trung Quốc giai đoạn 1967–1968, sau đó toàn bộ bị phá hủy trên mặt đất năm 1971.[59]
Cộng hòa Khmer
- Không quân Cộng hòa Khmer
Campuchia Dân chủ
- Lực lượng không quân của Quân đội Cách mạng Campuchia.
- Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc[60] - vận hành dưới định danh 'J-4 đối với các chiếc MiG-17 do Liên Xô cung cấp, cho đến khi được thay thế bằng J-5 (bản sản xuất theo giấy phép của MiG-17), lúc đó J-4 bị loại.
- Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
- Không quân Congo.[61]
- Không quân và Phòng không Cách mạng Cuba[62] - dùng cho đến khi được Liên Xô cung cấp MiG-23, lúc đó MiG-17AS và MiG-17F bị thay thế.
- Không quân Tiệp Khắc.[63]

- Không quân Quân đội Nhân dân Quốc gia (Luftstreitkräfte / LSK) – vận hành MiG-17.[64]>
- Không quân Ai Cập.[65]
- Không quân Ethiopia.[65]
- Không quân Guinea-Bissau – vận hành 2 chiếc MiG-17F.[67]
- Không quân Quân đội Nhân dân Hungary.[68]
- Không quân Indonesia.[68]
- Không quân Iraq.[68]

- Không quân Mali.[68]
- Không quân Quân đội Nhân dân Mông Cổ.[70]
- Không quân Hoàng gia Maroc.[70]
- Không quân Mozambique.[70]
- Không quân Nigeria.[70]
- Không quân Cộng hòa Ả Rập Yemen – 13 chiếc MiG-17 do Liên Xô viện trợ tháng 11/1967.[71]
- Không quân Romania.[73]
- Quân chủng Hàng không Somalia – năm 1967 Liên Xô bàn giao 30 máy bay MiG-17 và MiG-17F.[51][74][75] Năm 1991 không quân này bị giải thể.[76]
- Không quân Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen – 10 MiG-17F đầu tiên nhận từ Liên Xô tháng 1/1969; 8 chiếc nữa bàn giao năm 1971.[77]
- Không quân Sri Lanka – rút khỏi biên chế sau nổi dậy JVP 1971; nay trưng bày tại bảo tàng SLAF Ratmalana.[78]
- Không quân Syria.[79]
- Không quân Uganda – Không quân Uganda – một số chiếc từ Tiệp; tình trạng khai thác không chắc chắn.[80]

- Không quân Hoa Kỳ từng dùng để thử nghiệm/đánh giá; năm 2014 còn thấy một chiếc sơn ngụy trang bay gần Edwards AFB, có thể dùng huấn luyện tại USAF Test Pilot School.
Đặc điểm kỹ thuật (MiG-17A)
[sửa | sửa mã nguồn]
Dữ liệu lấy từ Combat Aircraft since 1945,[82] MiG: Fifty Years of Secret Aircraft Design[83]
Đặc tính tổng quan
- Kíp lái: 1
- Chiều dài: 11,264 m (36 ft 11 in)
- Sải cánh: 9,628 m (31 ft 7 in)
- Chiều cao: 3,8 m (12 ft 6 in)
- Diện tích cánh: 22,6 m2 (243 foot vuông)
- Biên dạng cánh : root: TsAGI S-12; tip: TsAGI SR-11[84]
- Trọng lượng rỗng: 3.919 kg (8.640 lb) [85]
- Trọng lượng có tải: 5.340 kg (11.773 lb)
- Trọng lượng cất cánh tối đa: 6.069 kg (13.380 lb)
- Động cơ: 1 × động cơ tuabin phản lực dòng ly tâm có buồng đốt tăng lực Klimov VK-1F, lực đẩy 26,5 kN (6.000 lbf) thô, 33,8 kN (7.600 lbf) với buồng đốt tăng lực
Hiệu suất bay
- Vận tốc cực đại: 1.100 km/h (684 mph; 594 kn) Mach 0,89 tại mực nước biển
- 1.145 km/h (711 mph; 618 kn) / M0,93 at 3.000 m (9.800 ft) với gia nhiệt
- Tầm bay: 2.020 km (1.255 mi; 1.091 nmi) tại độ cao 12.000 m (39.000 ft) với 2 × thùng dầu phụ 400 L (110 gal Mỹ; 88 gal Anh)
- Trần bay: 16.600 m (54.462 ft)
- Số G giới hạn: +8
- Vận tốc lên cao: 65 m/s (12.800 ft/min)
- Tải trên cánh: 268,5 kg/m2 (55,0 lb/foot vuông)
- Lực đẩy/trọng lượng: 0.63
Vũ khí trang bị
- Súng:
- 2 × pháo tự động Nudelman–Rikhter NR-23 cỡ 23 mm (mỗi khẩu 80 viên, tổng 160 viên)
- 1 × pháo tự động Nudelman N-37 cỡ 37 mm (40 viên)
- Giá treo: 2 giá treo mang được lên đến 500 kg (1.100 lb)kết hợp mang được:
- Rocket: 2 × cụm UB-16-57 bắn rocket S-5
- Bom: 2 × bom 250 kg (550 lb)
- (trang bị 3 × NR-23 và 2 × tên lửa không-đối-không K-5.[6][86]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Parsch, Andreas; Martynov, Aleksey V. (ngày 18 tháng 1 năm 2008). "Designations of Soviet and Russian Military Aircraft and Missiles". Non-U.S. Military Aircraft and Missile Designations. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
- 1 2 3 Davies, Peter. USN F-4 Phantom II Vs VPAF MiG-17: Vietnam 1965-72. London: Osprey, 2009. ISBN 978-1-84603-475-6.
- ↑ Sweetman 1984, p. 11.
- 1 2 Crosby 2002, p. 212.
- ↑ Toperczer 2001, tr. 48.
- 1 2 3 Goebel, Greg. "The Mikoyan MiG-17." Lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2022 tại Wayback Machine Air Vectors, 1 September 2011. Retrieved: 15 September 2012.
- ↑ "'Song kiếm' MiG hộ vệ bầu trời Việt Nam". ZingNews.vn. ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "MiG-17 từng gây ấn tượng mạnh cho không quân Mỹ như thế nào". An ninh thủ đô. ngày 29 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Armed Forces: How It Happened." Lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2013 tại Wayback Machine Time, ngày 16 tháng 4 năm 1965.
- ↑ "Người phi công biết né ... tên lửa". Dân Việt. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Mẫu tiêm kích từng hạ gục Thần sấm, Con ma Mỹ
- ↑ http://kienthuc.net.vn/vu-khi/nga-noi-gi-ve-cuoc-dau-mig21-va-f4-o-viet-nam2-287379.html
- ↑ https://vnexpress.net/tiem-kich-tung-ban-ha-chuyen-gia-diet-mig-cua-khong-quan-my-3986375.html
- ↑ https://kienthuc.net.vn/quan-su/chuyen-gia-diet-mig-va-bai-thuc-hanh-do-te-cua-ong-hieu-truong-1481752.html
- ↑ Toperczer 2001, pp. 88, 89, 90.
- ↑ https://web.archive.org/web/20140203010754/http://old.vko.ru/pictures/2006_26/42_01.jpg
- ↑ Gunston & Gordon 1998, tr. 79.
- 1 2 3 4 Gunston & Gordon 1998, tr. 92–93.
- ↑ Belyakov & Marmain 1994, tr. 180–183.
- 1 2 3 Gunston & Gordon 1998, tr. 81–83.
- 1 2 3 4 5 6 7 Belyakov & Marmain 1994, tr. 164–172.
- 1 2 Butowski & Miller 1991, tr. 70.
- 1 2 Gunston & Gordon 1998, tr. 84.
- ↑ Belyakov & Marmain 1994, tr. 183–184.
- 1 2 3 4 5 6 Gunston & Gordon 1998, tr. 84–86.
- 1 2 3 4 Belyakov & Marmain 1994, tr. 185–187.
- 1 2 Gunston & Gordon 1998, tr. 86.
- 1 2 3 Gunston & Gordon 1998, tr. 86–87.
- 1 2 3 Gunston & Gordon 1998, tr. 87–88.
- ↑ Stapfer 1992, tr. 48–50.
- 1 2 3 4 5 Gunston & Gordon 1998, tr. 92.
- 1 2 Gunston & Gordon 1998, tr. 81.
- 1 2 3 Gunston & Gordon 1998, tr. 81–82.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Belyakov & Marmain 1994, tr. 199–201.
- ↑ Gunston & Gordon 1998, tr. 90–91.
- 1 2 3 4 5 Gunston & Gordon 1998, tr. 90.
- ↑ Gunston & Gordon 1998, tr. 83–84.
- ↑ Belyakov & Marmain 1994, tr. 176–179.
- ↑ Belyakov & Marmain 1994, tr. 196–197.
- ↑ Gunston & Gordon 1998, tr. 89.
- ↑ Mahnken, Thomas G. (Summer 1987). "Current Sino-Soviet Military Relations". Asian Affairs: An American Review. 14 (2): 99 – qua JSTOR.
- ↑ Gunston & Gordon 1998, tr. 82.
- 1 2 Gunston & Gordon 1998, tr. 93.
- 1 2 Gunston & Gordon 1998, tr. 93–94.
- 1 2 Gunston & Gordon 1998, tr. 94.
- ↑ "On January 14, the MiG-17 fighter celebrated its 75th anniversary. - Авіамузей". aviamuseum.com.ua. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Stapfer 1992, tr. 29–30.
- 1 2 3 "Cover Designations for Classified USAF Aircraft". www.designation-systems.net. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2024.
- ↑ Stapfer 1992, tr. 7–12.
- ↑ Stapfer 1992, tr. 43.
- 1 2 3 "Trade Registers". Stockholm International Peace Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "World Air Forces 2021". Flight Global. flightglobal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "The AMR Regional Air Force Directory 2012" (PDF). Asian Military Review. tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ Flight Magazine 1990 or The Encyclopaedia of World Air Forces
- ↑ Müller, Lukas (2020). Wings over the Hindu Kush: Air Forces, Aircraft and Air Warfare of Afghanistan, 1989-2001. Helion and Company. tr. 8. ISBN 978-1913118662.
- 1 2 Gordon 2002, tr. 74.
- 1 2 Gordon 2002, tr. 75.
- ↑ Wragg 2011, tr. 78−79.
- ↑ Conboy 1989, p. 20.
- ↑ Wragg 2011, tr. 92.
- ↑ Gordon 2002, tr. 79.
- ↑ Gordon 2002, tr. 79, 81.
- ↑ Gordon 2002, tr. 81-82.
- ↑ Gordon 2002, tr. 82.
- 1 2 3 Gordon 2002, tr. 86.
- ↑ Wragg 2011, tr. 141.
- ↑ Wragg 2011, tr. 142.
- 1 2 3 4 Gordon 2002, tr. 87.
- ↑ "African Aerospace – Aircraft boost for Madagascar". www.africanaerospace.aero. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- 1 2 3 4 Gordon 2002, tr. 89.
- ↑ Cooper 2017, tr. 27
- 1 2 Gordon 2002, tr. 90.
- ↑ Wragg 2011, tr. 235.
- ↑ Manuele Serventi Merlo (ngày 3 tháng 5 năm 2017). "The Ogaden war between Ethiopia and Somalia (1977–1978): the historical and political premises of the conflict – Online Defense" (bằng tiếng Ý). En.difesaonline.it. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Jan J. Safarik: Air Aces Home Page". Aces.safarikovi.org. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Arab Air Power > Somalia". arabairpower.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- ↑ Cooper 2017, tr. 35
- ↑ Wragg 2011, tr. 264−265.
- ↑ Wragg 2011, tr. 273−274.
- ↑ "Trade Registers". Armstrade.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Wragg 2011, tr. 330−331.
- ↑ Wilson 2000, p. 98.
- ↑ Belyakov and Marmain, pp. 172–176.
- ↑ Lednicer, David. "The Incomplete Guide to Airfoil Usage". m-selig.ae.illinois.edu. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2019.
- ↑ Gunston 1995, p. 193.
- ↑ Marriott, Leo (ngày 30 tháng 3 năm 2020). Early Jet Fighters 1944-1954: The Soviet Union and Europe (bằng tiếng Anh). Pen and Sword Aviation. tr. 58-64. ISBN 978-1-5267-5396-0. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2023.
Tài liệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Anderton, David A. (1987). North American F-100 Super Sabre. Oxford, UK: Osprey Publishing Limited. ISBN 0-85045-662-2.
- Belyakov, R. A.; Marmain, J. (1994). MiG: Fifty Years of Secret Aircraft Design. Shrewsbury, UK: Airlife Publishing. ISBN 1-85310-488-4.
- Butowski, Piotr; Jay Miller (1991). OKB MiG: A History of the Design Bureau and its Aircraft. Leicester, UK: Midland Counties Publications. ISBN 0-904597-80-6.
- Conboy, Kenneth (1989). The War in Cambodia 1970–75. Men-at-Arms. Oxford, UK: Osprey Publishing Ltd. ISBN 0-85045-851-X.
- Cooper, Tom (2017). Hot Skies Over Yemen, Volume 1: Aerial Warfare Over the South Arabian Peninsula, 1962–1994. Solihull, UK: Helion & Company Publishing. ISBN 978-1-912174-23-2.
- Crosby, Francis (2002). Fighter Aircraft. London: Lorenz Books. ISBN 0-7548-0990-0.
- Davies, Peter E. (2003). North American F-100 Super Sabre. Ramsbury, Wiltshire, UK: The Crowood Press. ISBN 1-86126-577-8.
- Gordon, Yefim (2002). Mikoyan-Gurevich MiG-17: The Soviet Union's Jet Fighter of the Fifties. Hinckley, UK: Midland Publishing. ISBN 1-85780-107-5.
- Gunston, Bill (1995). The Osprey Encyclopedia of Russian Aircraft 1875–1995. London: Osprey. ISBN 1-85532-405-9.
- Hobson, Chris (2001). Vietnam Air Losses: United States Air Force, Navy and Marine Corps Fixed-Wing Aircraft Losses in Southeast Asia 1961–1973. England: Midland Publishing. ISBN 978-1-85780-115-6.
- Koenig, William; Peter Scofield (1983). Soviet Military Power. Greenwich, Connecticut: Bison Books. ISBN 0-86124-127-4.
- Michel, Marshall L. III (2007). Clashes: Air Combat Over North Vietnam 1965–1972 (ấn bản thứ 1). Annapolis, Maryland, USA: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-519-8.
- Nicolle, David (November–December 1995). "Bearing the Brunt: Thirty Years of MiG-17 Service with the Egyptian and Syrian Air Forces". Air Enthusiast. Số 60. tr. 12–27. ISSN 0143-5450.
- Olynyk, Frank (1999). US Post World War 2 Victory Credits. Self-published.
- Olds, Christina; Rasimus, Ed (2010). Fighter Pilot: Robin Olds, Memoirs of Legendary Ace Robin Olds. New York: St. Martin's Griffin. ISBN 978-0-312-56023-2.
- "Pentagon Over the Islands: The Thirty-Year History of Indonesian Military Aviation". Air Enthusiast Quarterly (2): 154–162. ISSN 0143-5450.
- Robinson, Anthony (1985). Soviet Air Power. London: Bison Books. ISBN 0-86124-180-0.
- Sweetman, Bill (1984). Modern Fighting Aircraft: Volume 9: MiGs. New York: Arco Publishing. ISBN 978-0-668-06493-4.
- Sweetman, Bill; Gunston, Bill (1978). Soviet Air Power: An Illustrated Encyclopedia of the Warsaw Pact Air Forces Today. London: Salamander Books. ISBN 0-517-24948-0.
- Toperczer, István (2001). MiG-17 and MiG-19 Units of the Vietnam War. Osprey Combat Aircraft. Oxford, UK: Osprey Publishing Limited. ISBN 978-1-84176-162-6.
- Wilson, Stewart (2000). Combat Aircraft since 1945. Fyshwick, Australia: Aerospace Publications. ISBN 1-875671-50-1.
- Wragg, David (2011). The World Air Power Guide. Havertown, PA: Casemate Publishers. ISBN 978-1-84468-784-8. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2023.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]Chủ đề liên quan
[sửa | sửa mã nguồn]Máy bay có cùng sự phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]Máy bay có tính năng tương tự
[sửa | sửa mã nguồn]Trình tự thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]MiG-9 (I-210)/MiG-9 (I-301) - MiG-13 (I-250) - MiG-15 - MiG-17 - MiG-19 - MiG-21 - MiG-23