Minamino Takumi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Minamino Takumi
南野 拓実
FC Admira Wacker Mödling vs. FC Red Bull Salzburg 2018-04-15 (061).jpg
Minamino với FC Red Bull Salzburg năm 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Minamino Takumi
Ngày sinh 16 tháng 1, 1995 (24 tuổi)
Nơi sinh Izumisano, Ōsaka, Nhật Bản
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Red Bull Salzburg
Số áo 18
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2004–2017 Sessel Kumatori FC
2007–2009 U-15 Cerezo Osaka
2009–2012 U-18 Cerezo Osaka
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2014 Cerezo Osaka 62 (7)
2015– Red Bull Salzburg 127 (40)
Đội tuyển quốc gia
2009–2012 U-15/16/17 Nhật Bản
2011–2014 U-18/19 Nhật Bản
2015–2016 U-21/22/23 Nhật Bản 14 (4)
2015– Nhật Bản 21 (10)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 25 tháng 8 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 15 tháng 10 năm 2019

Minamino Takumi (南野 (みなみの) 拓実 (たくみ) (Nam Dã Thác Thực)? sinh ngày 16 tháng 1 năm 1995, quê quán Izumisano, Osaka)cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Nhật Bản hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo, tiền vệ cho câu lạc bộ FC Red Bull Salzburg tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Áo (Bundesliga Áo)đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi trở thành cầu thủ chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi còn học tiểu học, anh là 1 thành viên của Sessel Kumatori FC. Đồng đội khi ấy của anh là Muroya Sei. Năm 2007, sau rất nhiều lời đề nghị từ các học viện, khi lên cấp 2, anh đã gia nhập U-15 Cerezo Osaka.

Năm 2009, đội của anh đã giành được vị trí thứ 8 tại Giải bóng đá thiếu niên Nhật Bản (U-15) lần thứ 24, tại đây anh cũng ghi được danh hiệu vua phá lưới với 13 bàn thắng[1].

Năm 2010, anh được lên đội U-18 Cerezo Osaka. Tại giải đấu Takamado Cup U-18 2010: Prince League (khu vực Kansai), trong trận đấu đầu tiên anh đã đóng góp cú hat-trick vào chiến thắng của đội trước đội bóng trường Trung học Khoa học và Công nghệ thành phố Kobe[2], sau đó đội của anh đã giành được vị trí đầu tiên mà không thua một trận nào[3].

Năm 2011, tại giải đấu Takamado Cup U-18 2011: Premier League, anh xếp vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng vua phá lưới (khu vực phía Tây) với 9 bàn thắng[4]. Ngoài ra, tại Giải vô địch bóng đá trẻ J-League (J Youth Cup) lần thứ 19, anh đã ghi được 13 bàn thắng sau 8 trận đấu và trở thành vua phá lưới[5].

Tháng 8/2012, anh cùng với Akiyama Daichi có suất trong đội 1 khi đang còn được đăng kí chơi trong đội loại 2 (Nhật Bản có 6 loại đội bóng. Đội loại 2 để chỉ đội U-18 hoặc đội bóng trường THPT[6]). Trận đấu chính thức đầu tiên của anh gặp đội Omiya Ardija tại vòng 32 J1 League. Trong trận cuối cùng tại J1 League gặp Kashikawa Frontale, anh lần đầu tiên được ra sân chính thức từ đầu và chơi suốt 90 phút. Bàn thắng chính thức đầu tiên của anh được ghi trong trận gặp Shimizu S-Pulse tại vòng 4 Cup Thiên Hoàng 2012. Cùng năm, tại giải đấu Takamado Cup U-18 2012: Premier League, anh ghi được 16 bàn thắng và xếp thứ 2 trong BXH vua phá lưới[7].

CLB Cerezo Osaka[sửa | sửa mã nguồn]

Minamino đã có 62 lần ra sân ở J1 League cho Cerezo Osaka, thi đấu cùng Diego Forlán, nhưng đội đã xuống hạng trong mùa giải cuối cùng của anh.

Năm 2013, anh được thăng hạng lên đội 1 cùng với các cầu thủ Akiyama Daichi, Okada TakeruKogure Daiki. Anh đã nhận số áo 13 từ cầu thủ Kakitani Yoichiro. Anh được lựa chọn trong đội hình xuất phát ngay từ trận khai mạc gặp Albirex Niigata, lần đầu tiên trong lịch sử CLB Cerezo Osaka, có một tân binh mới tốt nghiệp trung học được chọn là cầu thủ trong đội hình xuất phát trong trận khai mạc[8]. Anh đã ghi được bàn thắng đầu tiên tại J1 League trong trận gặp Júbilo Iwata ở vòng 14 và đã phá kỉ lục cầu thủ trẻ tuổi nhất ghi bàn tại J1 League (kỉ lục của CLB Cerezo Osaka) do cầu thủ Okubo Yoshito nắm giữ (Minamino: 18 tuổi 5 tháng 20 ngày, Okubo: 18 tuổi 10 tháng 5 ngày)[9]. Ngày 26/7 cùng năm, trong trận đấu giao hữu quốc tế với Manchester United, anh đã cho thấy nỗ lực đáng kể khi đóng góp trực tiếp vào số bàn thắng[10] và cũng đã nhận được sự đánh giá cao từ các cầu thủ và HLV của Manchester United[11][12]. Dù là tân binh nhưng với tư cách là chủ lực của CLB, anh đã nhận được giải "Tân binh xuất sắc nhất J-League", khi để lại kết quả ghi được 5 bàn thắng sau 29 trận (nếu tính cả các giải đấu tranh cup, thì tổng cộng là 8 bàn/38 trận).

Năm 2014, chính vì những đột phá của năm trước, đây là mùa giải anh và CLB đã nhận được những sự kì vọng lớn[13], tuy nhiên họ đã không thể cải thiện điểm số ngay từ lúc bắt đầu. Trải qua nhiều lần thay đổi HLV, cuối mùa giải họ chỉ xếp ở vị trí 17/20 và phải xuống chơi ở J2 League. Anh đã kết thúc với một kết quả không mong muốn[13], khi chỉ ghi được 2 bàn thắng và còn phải nhận 2 thẻ đỏ (1 trong trận gặp Pohang Steelers tại AFC Champions League[14], 1 trong trận gặp Kawasaki Frontale tại J1 League[15]).

FC Red Bull Salzburg[sửa | sửa mã nguồn]

FC Red Bull Salzburg đã theo dõi Minamino trong một năm rưỡi trước khi ký hợp đồng với anh vào ngày 7/1/2015, bản hợp đồng kéo dài đến năm 2018 với tùy chọn kéo dài thêm một năm nữa.

6/1/2015, Minamino được thông báo đã hoàn tất chuyển nhượng đến FC Red Bull Salzburg tại Bundesliga Áo[16]. Anh đã được trao áo số 18[17]. Ngày 14/2, anh có màn ra mắt trong trận đấu gặp SC Wiener Neustadt tại vòng 20, với vai trò là một tiền vệ cánh phải. Anh có trận đấu đầu tiên tại đấu trường châu Âu vào ngày 26/2, đối đầu với Villarreal CF trong khuôn khổ lượt về vòng 32 đội UEFA Europa League, Salzburg đã có trận thua 1 – 3 trên sân nhà (tổng cộng 2 – 5 sau 2 lượt) và Minamino cũng chỉ chơi hiệp đầu tiên trước khi được thay bởi Felipe Pires. Ngày 4/3, anh đã ghi được 2 bàn vào lưới FC Admira Wacker Mödling tại vòng 23, đây là bàn thắng đầu tiên của anh sau khi chuyển đến.

Mùa giải 2015-2016, anh đã ghi được bàn thắng đầu tiên trong trận đấu đầu tiên của anh tại Cup bóng đá Áo vào ngày 18/7 trước đội Deutschlandsberger SC ở vòng 1. Ngày 27/8, anh góp mặt trong trận gặp FC Dinamo Minsk tại UEFA Europa League, anh ghi được 1 bàn thắng nhưng Red Bull Salzburg đã bị loại ở vòng play-off. Trong mùa giải, với tư cách là cầu thủ chủ lực, anh đã đóng góp 10 bàn thắng vào chiến thắng của đội.

Mùa giải 2016-2017, trong trận gặp SV Ried tại vòng 22 diễn ra vào ngày 19/2/2017, anh đã ghi được 3 bàn thắng và 1 pha kiến tạo, đó là cú hat-trick đầu tiên kể từ khi anh thi đấu chuyên nghiệp. Và trong 2 mùa giải liền, anh đã ghi được số bàn thắng có 2 chữ số.

Mùa giải 2017-2018, anh ghi bàn thắng đầu tiên ở trận gặp Hibernians FC trong khuôn khổ vòng loại thứ 2 UEFA Champions League. Ngày 22/7, anh có bàn thắng trong trận mở màn tại Bundesliga Áo gặp đội Wolfsberger AC. Ngày 5/11, trong trận gặp SKN St. Pölten tại vòng 14, anh phải rời sân vì chấn thương nhưng đã ghi được 2 bàn. Vào ngày 14/2/2018, anh đã ghi 1 bàn thắng khi đối đầu với Real Sociedad ở trận lượt đi vòng 32 đội UEFA Europa League.

Mùa giải 2018-2019, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong trận gặp FC Admira Wacker Mödling tại vòng 6 diễn ra vào ngày 2/9/2018[18]. Vào ngày 8/11, anh đã thi đấu thành công khi lập được cú hat-trick chỉ trong hiệp 1 khi đối đầu với Rosenborg BK ở khuôn khổ lượt trận thứ 4 vòng bảng UEFA Europa League[19].

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, anh được chọn vào Đội tuyển U-15 quốc gia Nhật Bản và tham dự vòng loại AFC U-16 Championship 2010. Anh đã có cú hat-trick trong trận đấu với Philippines. Tại vòng chung kết, U-15 Nhật Bản lọt đến top 4, còn Minamino đã ghi 5 bàn và trở thành vua phá lưới của giải đấu.

Năm 2011, trước thềm FIFA U-17 World Cup 2011, một bài báo có nhan đề “Takumi Minamino, Japan's lethal weapon (Minamino Takumi, vũ khí tối thượng của Nhật Bản) được đăng lên trang chủ chính thức của FIFA, anh được kì vọng là con át chủ bài của U-17 Nhật Bản[20]. Tuy nhiên, trước giải đấu anh ấy đã không có trạng thái tốt nhất và chỉ ghi được 1 bàn thắng, nhưng U-17 Nhật Bản đã lọt vào top 8 đội mạnh nhất sau 18 năm kể từ giải đấu họ làm đội chủ nhà vào năm 1993.

Năm 2014, tại giải U19 Quốc tế 2014 – Nutifood Cup được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 1, anh đã nhận được danh hiệu MVP – cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu[21][22]. Tháng 4, anh tham gia trại huấn luyện cho ứng cử viên đội tuyển Nhật Bản[23]. Anh đã không được chọn làm thành viên của đội tuyển quốc gia Nhật Bản tham dự FIFA World Cup 2014, không có cầu thủ nào của đội tuyển Nhật Bản dự World Cup ở độ tuổi thanh thiếu niên kể từ sau cầu thủ Ono Shinji, tuy nhiên anh cũng đã được điền tên trong danh sách đăng kí sơ bộ[24]. Tại giải AFC U-19 Championship 2014 được tổ chức tại Myanmar, anh đã có màn thể hiện xuất sắc khi ghi được 4 bàn sau 4 trận, tuy nhiên cuối cùng U-19 Nhật Bản đã phải dừng lại ở vòng tứ kết chỉ vì quả penalty hỏng của chính anh[25][26].

Năm 2015, anh được chọn trong trận gặp đội tuyển quốc gia Syria tại vòng loại FIFA World Cup 2018 khu vực châu Á (Vòng 2) diễn ra vào tháng 10, đây là lần đầu tiên anh được chọn vào đội tuyển quốc gia[27]. Ngày 13/10, anh đã chơi trận đầu tiên trong màu áo đội tuyển quốc gia trong trận giao hữu quốc tế gặp đội tuyển Iran.

Năm 2016, anh được gọi tham dự giải đấu AFC U-23 Championship 2016, đây cũng là vòng loại cho giải bóng đá nam tại Thế vận hội Mùa hè 2016. Trong lượt trận thứ 3 vòng bảng gặp U-23 Ả Rập Xê Út, từ phía cánh phải, anh đã rê bóng thành công và kiến tạo Ideguchi Yosuke ghi bàn. Tại Thế Vận hội Mùa hè 2016, trong trận đầu tiên gặp đội tuyển U-23 Nigeria vào ngày 4/8, anh đã ghi bàn gỡ hòa, nhưng U-23 Nhật Bản đã thua với tỉ số 4 – 5. Anh đã chơi cả 3 trận đấu vòng bảng, tuy nhiên U-23 Nhật Bản đã bị loại tại đây.

Ngày 11/9/2018, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Nhật Bản tại Kirin Challenge Cup trước đội tuyển Costa Rica[28]. Ngày 12/10, trong trận gặp đội tuyển Panama, anh đã ghi bàn thắng dẫn trước ở phút 42[29]. Ngày 16/10, với việc ghi bàn dẫn trước đội tuyển Uruguay, và sau đó ghi thêm bàn thắng thứ 4 vào phút 66, anh đã ghi bàn trong 3 trận liên tiếp[30]. Việc ghi bàn trong 3 trận liên tiếp kể từ trận đấu đầu tiên sau khi thay đổi HLV đội tuyển quốc gia, nếu trong phạm vi sau khi thành lập J-League, thì trong lịch sử chỉ mới có 3 người làm được, đó là Lopes Wagner vào năm 1997, Okazaki Shinji vào năm 2015 và tiếp theo là anh[31].

Tháng 1/2019, anh tham dự giải đấu AFC Asian Cup 2019. Trong trận bán kết với Iran, vào phút 56, khi Minamino đón đường chọc khe của đồng đội, anh đã bị ngã sau pha va chạm với hậu vệ đối phương. Các cầu thủ Iran ngay lập tức đứng lại và chạy đến phân bua với trọng tài rằng đã không có lỗi xảy ra và Minamino chỉ giả vờ ngã. Tuy nhiên, vốn dĩ trọng tài đã không thổi phạt, trận đấu vẫn tiếp tục diễn ra, Minamino nhanh chóng đứng dậy đuổi theo bóng trước khi có đường chuyền chính xác để Osako Yuya mở tỷ số[32]. Ngoài pha kiến tạo nói trên, anh còn kiếm thêm một quả penalty và kiến tạo một bàn nữa, anh đã góp công vào tất cả các bàn thắng của trận đấu. Trong trận chung kết đối đầu với đội tuyển Qatar, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên của mình tại giải đấu, dẫu vậy đội tuyển Nhật Bản đã bị đánh bại với tỉ số 1 – 3[33][34].

Chuyện ngoài lề[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 13/1/2014, Minamino Takumi đã tham dự “Lễ Thành Nhân của quận Higashisumiyoshi” được tổ chức tại phố mua sắm Komagawa thuộc quận Higashisumiyoshi, Osaka, và đã thử thách kỉ lục Guinness “1 phút high-five (đập tay) liên tục”. Anh đã thực hiện high-five với 182 người, vượt qua kỉ lục thế giới 171 người do Danchou Yasuda – thành viên của bộ ba diễn viên hài “Yasuda Dai Circus” – đang nắm giữ, và đã được chứng nhận là kỉ lục thế giới[35]. Tuy nhiên, sau đó ít lâu kỉ lục của Minamino đã bị phá vỡ.

Thống kê câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

CLB Trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2004 - 2007 Sessel Kumatori FC
  • 2007 - 2009 Cerezo Osaka U-15 (泉佐野市立第三中学校 - Trường THCS Izumisano số 3)
  • 2010 - 2012 Cerezo Osaka U-18 (興國高等学校 - Trường THPT Kokoku)
    • 2012 - Cerezo Osaka (Cầu thủ đăng kí trong đội loại 2)

CLB Chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật lần cuối: 2 tháng 10 năm 2019

Thành tích câu lạc bộ Giải đấu Cúp Cúp Liên đoàn Châu lục Tổng cộng
Mùa giải Câu lạc bộ Giải đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
2012 Cerezo Osaka J1 League 3 0 2 1 0 0 - - 5 1
2013 29 5 1 0 8 3 - - 38 8
2014 30 2 3 2 2 2 7 2 42 8
Tổng cộng 62 7 6 3 10 5 7 2 85 17
2014-15 FC Red Bull Salzburg Austrian Bundesliga 14 3 2 0 - - 1 0 17 3
2015-16 32 10 6 2 - - 2 1 40 13
2016-17 21 11 5 3 - - 5 0 31 14
2017-18 28 7 4 1 - - 12 3 44 11
2018-19 24 6 4 3 - - 13 5 41 14
2019–20 7 3 2 2 - - 2 1 12 6
Tổng cộng 126 40 22 11 - - 35 10 184 61
Tổng cộng sự nghiệp 188 47 28 14 10 5 42 12 267 78

Thống kê đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải đấu đã tham dự:[sửa | sửa mã nguồn]

Số trận ra sân cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật lần cuối: 10 tháng 10 năm 2019 [36]

Đội tuyển quốc gia Nhật Bản
Năm Số trận Bàn thắng
2015 2 0
2016 0 0
2017 0 0
2018 5 4
2019 13 4
Tổng cộng 20 8

Bàn thắng quốc tế cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách bàn thắng và kết quả của Nhật Bản xếp trước.[37]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1. 11 tháng 9 năm 2018 Sân vận động Panasonic Suita, Suita, Nhật Bản  Costa Rica 2–0 3–0 Cúp Kirin 2018
2. 12 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Denka Big Swan, Niigata, Nhật Bản  Panama 1–0 3–0
3. 16 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Uruguay 1–0 4–3
4. 4–2
5. 1 tháng 2 năm 2019 Sân vận động Thành phố Thể thao Zayed, Abu Dhabi, UAE  Qatar 1–2 1–3 Chung kết Asian Cup 2019
6. 5 tháng 9 năm 2019 Sân vận động bóng đá Kashima, Kashima, Nhật Bản  Paraguay 2–0 2–0 Cúp Kirin 2019
7. 10 tháng 9 năm 2019 Sân vận động Thuwunna, Yangon, Myanmar  Myanmar 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2022
8. 10 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Saitama, Saitama, Nhật Bản  Mông Cổ 1–0 6–0
9. 15 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Pamir, Dushanbe, Tajikistan  Tajikistan 1–0 3–0
10. 2–0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cerezo Osaka U-18[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hạng 1 Takamado Cup U-18: Prince League (khu vực Kansai): 2010

Red Bull Salzburg[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

U-23 Nhật Bản
Nhật Bản

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải thưởng Thể thao chuyên nghiệp Nhật Bản - hạng mục Gương mặt mới : 2013

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Giải bóng đá thiếu niên Nhật Bản (U-15) lần thứ 24”. Wikipedia tiếng Nhật (bằng tiếng Nhật). 
  2. ^ “Match No.2 JFAプリンスリーグ2010 関西1部”. JFA (bằng tiếng Nhật). 11 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ “2010 Takamado Cup U-18: Prince League (Kansai 1) - Ranking”. Wikipedia tiếng Nhật (bằng tiếng Nhật). 
  4. ^ “2011 Takamado Cup U-18: Premier League - Score ranking (West)”. Gekisaka (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 12 năm 2011. 
  5. ^ “2011 J Youth Cup - Score Ranking”. Wikipedia tiếng Nhật (bằng tiếng Nhật). 
  6. ^ “Phân loại đội bóng ở Nhật Bản - Đội loại 2”. Wikipedia tiếng Nhật (bằng tiếng Nhật). 
  7. ^ “2012 Takamado Cup U-18: Premier League - Score ranking (West)”. Gekisaka (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ “南野、C大阪初の高卒新人開幕スタメン”. Daily Sports (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 3 năm 2013. 
  9. ^ “セレッソ南野 チーム史上最年少弾も…ドローで3連勝逃す”. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 7 tháng 7 năm 2013. 
  10. ^ “1G1AのC大阪MF南野「ゲームで使っているような選手と対戦できた」”. Gekisaka (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 7 năm 2013. 
  11. ^ “18歳南野鮮烈ゴール!若きC大阪戦士世界と互角”. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 7 năm 2013. 
  12. ^ “マンUモイーズ監督「世界ツアーの中で最もいいパフォーマンス」”. Soccer King (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ a ă “背負うものが多すぎた南野拓実。セレッソ大阪、3度目のJ2降格が決定”. Sports Navi (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 11 năm 2014. 
  14. ^ “C大阪が窮地!南野レッド、監督も退席処分…最終戦不在も/ACL”. Sanpo Sports (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 4 năm 2014. 
  15. ^ “柿谷がゴール裏で南野に叱責込めたエール「こんな大事な試合に退場するアホもいますけど…」”. Gekisaka (bằng tiếng Nhật). 15 tháng 7 năm 2014. 
  16. ^ “南野 拓実選手の移籍について”. Cerezo Osaka Official Site (bằng tiếng Nhật). 6 tháng 1 năm 2015. 
  17. ^ “ザルツブルク入団のFW南野拓実、背番号は「18」に決定”. Soccer King (bằng tiếng Nhật). 11 tháng 1 năm 2015. 
  18. ^ “南野が見事なゴールで日本代表戦へ向けコンディションの良さをアピールした。”. Goal.com (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 9 năm 2018. 
  19. ^ “南野拓実が今季7ゴール目! 開始6分に先制弾を叩き込む”. Soccer King (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 11 năm 2018. 
  20. ^ “Takumi Minamino, Japan's lethal weapon”. FIFA.com (bằng tiếng Anh). 29 tháng 4 năm 2011. 
  21. ^ “U19日本V、南野MVP/国際親善大会”. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). 11 tháng 1 năm 2014. 
  22. ^ “U-19日本代表 U-19国際フットボールトーナメントNutifood Cup 2014 第3戦結果”. JFA.jp (bằng tiếng Nhật). 12 tháng 1 năm 2014. 
  23. ^ “山下 達也選手、南野 拓実選手、長谷川 アーリアジャスール選手 日本代表候補トレーニングキャンプ メンバー選出のお知らせ”. Cerezo Osaka Official Site. 3 tháng 4 năm 2014. 
  24. ^ “南野拓実選手2014FIFAワールドカップブラジル大会 日本代表予備登録メンバー選出のお知らせ”. Cerezo Official Site (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 2 năm 2014. 
  25. ^ “南野PK止められた…U19準々決勝敗退、U20W杯切符逃す”. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 10 năm 2014. 
  26. ^ “U19 châu Á 2014: Myanmar vào bán kết, Nhật Bản bị loại trên chấm 11m”. VTV - Đài truyền hình Việt Nam. 17 tháng 10 năm 2014. 
  27. ^ “SAMURAI BLUE(日本代表)メンバー・スケジュール 2018FIFAワールドカップロシア アジア2次予選 兼 AFCアジアカップUAE2019 予選 シリア代表 対 SAMURAI BLUE(日本代表) 【10/8@マスカット/シーブスタジアム】 国際親善試合 イラン代表 対 SAMURAI BLUE(日本代表) 【10/13@テヘラン/アザディスタジアム】”. JFA.jp (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 10 năm 2015. 
  28. ^ “代表初ゴールを挙げた南野。「アジアカップまでのサバイバルに勝ち残りたい」”. Football Channel (bằng tiếng Nhật). 11 tháng 9 năm 2018. 
  29. ^ “TOP > NEWS > 記事詳細 南野拓実が2戦連発で新エースへ名乗り!「わかりやすい結果を意識していた」”. Gekisaki (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 10 năm 2018. 
  30. ^ “3戦連発&2ゴールの南野が明かす先制弾の舞台裏。「翔哉からパスが来るタイミングとか…」”. SOCCERDIGESTWeb (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 10 năm 2018. 
  31. ^ “南野3戦連発!森保ジャパン“不動”のトップ下「またイチからアピール」”. Daily Sports (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 10 năm 2018. 
  32. ^ “「森保さんが伝えたかったこと」を体現した南野のファインプレー”. Gekisaka (bằng tiếng Nhật). 29 tháng 1 năm 2019. 
  33. ^ “南野拓実、一時は1点差となるゴールも…「優勝しないと意味がない」”. Daily Sports (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 2 năm 2019. 
  34. ^ “Asian Cup 2019 - Japan vs Qatar”. 1 tháng 2 năm 2019. 
  35. ^ “C大阪・南野 1分間連続ハイタッチでギネス記録認定”. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 14 tháng 1 năm 2014. 
  36. ^ Japan National Football Team Database(tiếng Nhật)
  37. ^ “Minamino, Takumi”. National Football Teams. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]