Minh Mạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Mạng
明命
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Minh Mang.gif
Chân dung Minh Mạng theo minh họa trong sách của John Crawfurd (xb 1828)
Hoàng đế Đại Nam
Trị vì 18201841
Tiền nhiệm Gia Long
Kế nhiệm Thiệu Trị
Thông tin chung
Thê thiếp Tá Thiên Nhân Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽)
Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈)
Niên hiệu Minh Mạng (明命): 1820 - 1841
Thụy hiệu Nhân Hoàng đế (仁皇帝)
Miếu hiệu Thánh Tổ (聖祖)
Triều đại Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca Đăng đàn cung
Thân phụ Gia Long
Thân mẫu Thuận Thiên Cao Hoàng hậu
Sinh 25 tháng 5 năm 1791
Gia Định, Đại Việt
Mất 20 tháng 1, 1841 (49 tuổi)
Huế, Đại Nam
An táng Hiếu Lăng, Huế, Việt Nam
Tôn giáo Nho giáo
Chân dung vua Minh Mạng.

Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25 tháng 5 năm 179120 tháng 1 năm 1841) hay Minh Mệnh, là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, vương triều cuối cùng của nền quân chủ Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1820 đến khi qua đời, được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖).

Trong 21 năm trị nước, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông đổi tên nước Việt Nam thành Đại Nam, cho lập thêm Nội cácCơ mật việnHuế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thànhGia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Ông còn tổ chức lại quân đội, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng cũng cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳNam kỳ. Ngoài ra, ông rất quan tâm đến việc duy trì nền khoa cử Nho giáo, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài.

Đại Nam thời Minh Mạng cũng liên tục đương đầu với nội loạn và chiến tranh. Trong nước liên tiếp xảy ra các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam; triều đình phải rất vất vả mới dẹp được. Minh Mạng còn lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; đánh bại Xiêm La; bảo hộ Chân Lạp, chiếm vùng Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) và đổi tên thành Trấn Tây Thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh đó cũng làm hao mòn quốc khố và sau khi Minh Mạng mất, quân Nguyễn đã phải từ bỏ Trấn Tây thành. Minh Mạng cũng khước từ mọi tiếp xúc với phương Tây và nghiêm cấm truyền bá đạo Cơ Đốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽), còn có tên khác là Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈). Ông là con trai thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5 năm 1791 tại làng Tân Lộc, gần Gia Định, trong lúc đang xảy ra Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1787-1802).[1]

Thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Con thứ nhất của Gia Longhoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh mất sớm vào năm 1801. Do thái tử Cảnh và người con chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Gia Tô từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình (con của hoàng tử Cảnh) làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình.

Mặc dù có nhiều đình thần phản đối (đặc biệt là Lê Văn Duyệt) nhưng vua Gia Long vẫn quyết chọn Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị. Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Gia Tô và không có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long. Năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước.

Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Quang, Đặng Việt Thuỷ và Đặng Thành Trung, Minh Mạng là người được Gia Long lựa chọn truyền ngôi, không chỉ vì năng lực mà còn vì hy vọng gửi gắm vào ông thực hiện chính sách thoát khỏi ảnh hưởng và âm mưu áp chế của người Pháp[2][3], bởi khi còn sống, Gia Long đã chịu ơn người Pháp và không thể ra mặt giải quyết những mâu thuẫn giữa nhằm thoát khỏi ảnh hưởng đó.[4]

Trị vì đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu tiên sau khi Gia Long mất (1820)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm Kỷ Mão (đầu năm 1820), vua Gia Long qua đời. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng (明命). Bấy giờ ông đã 30 tuổi nên rất am hiểu việc triều chính.[5] Nhiều lần sau buổi chầu, ông cùng một vài quan đại thần ở lại để bàn việc, hoặc hỏi về các sự tích xưa, hoặc hỏi về những nhân vật cùng phong tục các nước khác.[5]

Minh Mạng được xem là một vị vua siêng năng, luôn thức khuya dậy sớm để xem xét công việc, có khi thắp đèn đọc sớ chương ở các nơi gởi về đến trống canh ba mới nghỉ.[6] Ông thường bảo với các quan:

Thật vậy, trong suốt thời gian trị vì của mình, vua Minh Mạng đã thay đổi rất nhiều việc, từ nội trị, ngoại giao cho đến những cải cách xã hội cùng những việc trong dòng họ.[6]

Quốc hiệu Đại Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đại kỳ thời vua Minh Mạng trị vì.
Đồng tiền Phi Long thời vua Minh Mạng 1833.
Đại Nam nhất thống toàn đồ - bản đồ nước Đại Nam thời Minh Mạng.

Minh Mạng đã xin triều đình Mãn Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một quốc gia Phương Nam rộng lớn. Tuy nhiên triều đình Mãn Thanh không chính thức chấp thuận. Đến ngày 15 tháng 2 năm 1839, nhận thấy triều Mãn Thanh suy yếu, Minh Mạng đã chính thức công bố quốc hiệu Đại Nam. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Trong việc dùng người Minh Mạng chú trọng cả tài, đức và đặc biệt là học vấn.[6] Ông cho rằng người không học thì không rõ pháp luật, lỡ khi xử đoán sai thì pháp luật khó dung, như thế sẽ làm hại dân. Việc dùng người không ngoài mục đích muốn yên dân. Muốn yên dân thì quan phủ huyện không được phiền nhiễu dân, tham nhũng.[6] Vì vậy, nhà vua đã nghiêm trị nhiều viên quan tham nhũng.[6] Từ thời Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia làm chánh và tòng 2 bậc. Trừ khi có chiến tranh, loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa trị vì tỉnh vừa chỉ huy đội quân của tỉnh nhà.[7] Minh Mạng còn định mức lương bổng cho quan lại, định tiền gạo cho mỗi cấp cùng thời hạn lãnh lương. Ngoài ra ông còn cấp tiền dưỡng liêm để tránh sự tham nhũng của quan lại.[5][6]

Từ cuối năm 1831 Minh Mạng cho bỏ các dinh, trấn mà thành lập các tỉnh.[5], Năm 1832 cả nước có 30 tỉnh, gồm:

  • Bắc Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 13 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên.
  • Trung Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 12 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận.
  • Nam Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 06 tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi tên thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Minh Mạng đặt các quan Tổng đốc (đối với tỉnh lớn) hoặc Tuần phủ (đối với tỉnh nhỏ), riêng tỉnh Thừa Thiên là Phủ doãn; và các quan Bố Chính sứ, Án sát cùng Lãnh binh để trông coi mọi việc tại từng tỉnh. Trong triều, các cơ quan điều khiển cũng đổi mới, Thị Thư Viện được đổi thành Văn Thư Phòng vào năm 1820, rồi thành Nội Các vào năm 1829. Năm 1830, ông đặt ra Cơ Mật viện để trông coi những việc quốc quân trọng yếu.[5] Ông đã cho thành lập Tôn Nhân Phủ, điều hành các Hệ, Phòng trong việc kê khai nhân thế bộ, cấp dưỡng và từ tế cũng như kiểm soát và đàn hạch trong quốc tộc.[5]

Đại Nam dưới thời Minh Mạng, bao gồm cả các trấn ở Lào. Vùng thuộc phần đất Campuchia ngày nay là lãnh thổ Trấn Tây Thành mà nhà Nguyễn chiếm được trong 6 năm (1835-1841) trước khi bị đánh đuổi. Bản đồ bao gồm cả các các vùng đất bị cắt cho nhà Thanh năm 1887 theo công ước Pháp-Thanh, vẽ đè lên biên giới ngày nay.

Đối với vùng thượng du và các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, chủ yếu là 6 ngoại trấn của Bắc Thành cũ, Minh Mạng quyết định nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (tù trưởng dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương “…thanh liêm, tài năng, cần cán làm dân tin phục” làm Thổ tri các châu, huyện. Tiếp đó, các châu huyện miền núi cũng được phân chia lại để phù hợp với diện tíchdân số của mỗi vùng. Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ nhằm khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Ông còn nghĩ đến việc giúp lưu chuyển tiền bạc,[5] tránh cho người đi xa khỏi mang theo nhiều tiền,[5] như vào năm Bính thân (1836) đặt ra “Giao Tứ Vụ”[5]Cao Bằng để chuyển đổi tiền bạc, cơ quan này có nhiệm vụ như ngân hàng ngày nay.[5]

Theo Giáo sư Phan Huy Lê: Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và cải cách của vua Minh Mạng năm 1831 – 1832 là hai cải cách hành chính có quy mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất.[8]

Tuy nhiên, đánh giá về việc cải cách chính quyền của Minh Mạng, nhà sử học Văn Tạo cho rằng: cũng giống như vua cha Nguyễn Ánh, Minh Mạng đi theo con đường Nho giáo của trường phái Tống Nho (đạo Nho thời Tống) mà nhà Lê trung hưng áp dụng - chứ không theo trường phái Minh Nho (đạo Nho thời Minh) tiến bộ hơn - mà các chúa Nguyễn trước kia từng áp dụng. Mục tiêu của Gia Long cũng như Minh Mạng chủ yếu nhằm củng cố vương quyền chứ không chăm lo phát triển kinh tế - xã hội theo xu hướng thời đại[9].

Văn Tạo cho rằng:

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Mạng rất quan tâm đến mặt quân sự. Nhiều lần, ông thân hành ra thao trường để chứng kiến việc luyện tập của quân đội. Ông lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng tới việc quân cốt tinh nhuệ, không cốt đông, giảm bớt số lượng người cầm cờ từ 40 xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người).[11]

Theo Việt Nam sử lược, quân đội thời Minh Mạng gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Bộ binh gồm kinh binh và cơ binh. Kị binh được chia làm doanh, vệ đội, đóng ở Kinh thành hoặc đóng ở các tỉnh. Mỗi doanh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người, có đội trưởng và suất đội cai quản. Vũ khí của mỗi vệ gồm 2 khẩu thần công, 200 khẩu điểu thương và 21 ngọn cờ. Cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia làm cơ và đội. Cơ có các quản cơ, đội có các suất đội cai quản. Tượng binh chia làm đội, mỗi đội có 40 con voi. Ở Kinh thành có 150 con, ở Bắc Hà có 110 con, ở Gia Định có 70 con, ở Quảng Nam có 35 con, ở Bình Định có 30 con, ở Nghệ An có 21 con, ở Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa mỗi nơi có 15 con, ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình ThuậnNinh Bình mỗi nơi có bảy con.

Ông còn cho lập đồn ải ở những nơi hiểm yếu trong nước, còn ngoài biển thì lập pháo đài. Ông rất chú trọng đến thuỷ quân, các vùng hải đảo đều được đánh mốc giúp cho sự lưu thông dễ dàng.[5] Thuỷ binh có 15 vệ, chia làm 3 doanh do quan đô thống cai quản, mỗi doanh được quan chương vê cai quản.

Đinh điền và thuế khóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thuế đinhthuế điền cơ bản cũng theo như vua Gia Long đã định. Theo Việt Nam sử lược, chỉ có năm Bính thân (1836), đất Nam Hà đạc điền xong, tính ra được hơn 630.075 mẫu và định lại các thứ thuế điền thổ ở đó. Còn như số dân đinh và điền thổ trong nước, thì theo số bộ tổng cộng lại được 970.516 suất đinh và 4.063.892 mẫu ruộng và đất.

Đối với những người Hoa sang lập ấp ở Đại Nam (gọi là Minh Hương), triều đình có lệnh rằng mỗi người 1 năm phải nộp 2 lạng bạc và được miễn giao dịch. Những người già yếu và khuyết tật phải chịu 1 nửa.

Đối với những người nhà Thanh sang Đại Nam buôn bán, người nào có vật lực thì 1 năm phải đóng 6 quan tiền; ai không có vật lực thì phải nộp một nửa, hạn cho 3 năm, thì chiếu lệ thu cả thuế.

Tiền Minh Mạng thông bảo.

Theo Việt Nam sử lược, Minh Mạng còn đặt lệ đánh thuế muối. Mỗi ruộng muối 1 năm phải nộp bằng muối từ 6 phương đến 10 phương. Mỗi phương nộp bằng tiền thì phải nộp từ 3 tiền đến 4 tiền 30 đồng. Còn các thuế mỏ, thuế sản vật,… thì cơ bản cũng theo lệ Gia Long đã định, chứ không thay đổi gì mấy.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bản thân vua Minh Mạng cũng là một học giả, đã từng làm thơ, soạn sách văn học, khuyến khích biên soạn các loại sách sử, nhất là các sách sử, địa. Nhiều người soạn sách mới, dâng sách cũ đều được nhà vua ban thưởng và khuyến khích. Các bộ sách quý như: Gia Định thành thông chí, Lịch Triều Hiến Chương loại chí,… đều ra đời dưới thời Minh Mạng. Các con của ông, điển hình như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Miên Trinh và Tương An Quận Vương Miên Bửu,…, đều là những nhà văn, nhà thơ xuất sắc, và đều nổi tiếng dưới các triều vua Thiệu Trị, Tự Đức sau này.

Để xã hội có qui củ cùng nề nếp, nhà vua cho thống nhất việc đo lường và thống nhất y phục.[5] Năm Bính thân (1836) phủ huyện được cấp các cân mẫu, rồi năm Kỷ hợi (1839) được cấp các loại thước mộc, thước may, thước đo ruộng.[5] Về y phục ông từng bảo: “Ngày nay nước nhà cương thổ đã hiệp nhất thì chính trị, phong tục lẽ nào khác biệt”.[5] Bởi thế, nên nhiều đạo dụ được ban bố để y phục ở miền Bắc và miền Nam giống nhau.[5]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Là người tinh thông Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến nền khoa cử, học vấn. Nhà vua thường nói:

Năm 1821, ông đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp, năm 1822 mở lại thi Hội, thi Đình.[6] Ông còn cho đặt đốc học ở thành Gia Định, ông giao trọng trách cho nhà giáo Nguyễn Trọng Vũ người Nghệ An, giữ chức Phó Đốc học chăm lo việc học hành ở Nam Bộ. Bấy giờ, ở Gia Định có Trịnh Hoài Đức là người có học vấn cao nên được nhà vua tin dùng, phong làm Hiệp Biện Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Lại kiêm Thượng thư Bộ Binh.[6]

Minh Mạng còn đặt ra lệ rằng ai được thăng quan, bổ nhiệm đều phải lên kinh gặp vua trước khi nhậm chức.[6] Đây là cơ sơ để nhà vua kiểm tra đức độ, năng lực và khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho lợi ích nước nhà.[6]

Năm 1836, ông cho thành lập “Tứ dịch quán” để dạy ngoại ngữ (tiếng Pháp, Xiêm).

Vua Minh Mạng muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông chỉ toàn là những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua trong một kế hoạch nào làm cho quốc phú, dân cường.[12] Ông đã nói rằng:

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Minh Mạng, việc khẩn hoang rất được khuyến khích. Nhà vua cho quan lại mộ dân lập những ấp mới ở trong Nam cũng như ngoài Bắc, khiến cho việc phân phối ruộng đất được hợp lý. Ngoài ra, ông còn hoàn chỉnh hệ thống đê điềuBắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc Bộ, lập các huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Ở Nam Bộ, công cuộc khai hoangthuỷ lợi cũng được đẩy mạnh. Minh Mạng còn thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía nam Hà Nội, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)[5][6]

Năm 1832, vua Minh Mạng khai mở ngành tơ tằm Đại Nam.[13]

Ông còn ban dụ cho lập nhà dưỡng tế ở các tỉnh để giúp đỡ những người tàn tật, nghèo khổ, già cả và hoặc không nơi nương tựa.[5] Triều đình cũng bắt quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm cho nông nghiệp không bị đình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng trong các năm sau.[14]

Kỹ thuật công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo bao gồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu.[15] Cụ thể là năm 1834, với sự đồng ý của Minh Mạng, Nguyễn Văn Túy chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng nước mang tên Thuỷ hoả ký tế.

Trong các năm 18371838, theo kiểu mẫu phương Tây, thợ thủ công Nhà nước đã chế tạo được máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,… và còn có cả xe cứu hỏa.

Đặc biệt là vào năm 1839, dựa trên các kiểu mẫu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Năm sau (1840), Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến và sửa chữa một chiếc bị hỏng. Điều đáng tiếc là mọi việc dường như bị đình lại sau đó.[16]

Xét xử công thần quá cố[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lê Văn DuyệtLê Chất

Vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) vốn có nhiều hiềm khíchtư thù. Dù không ưa Lê Văn Duyệt nhưng ông không dám[17] làm gì, do công lao và uy quyền quá lớn của Lê Văn Duyệt với triều đình.

Năm 1833, Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi (? – 1834) nổi loạn chiếm thành Phiên An (tức thành Gia Định), Minh Mạng trong khi đánh dẹp cuộc nổi dậy này vẫn thường ban trách Lê Văn Duyệt.

Năm 1835, sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, Minh Mạng bèn làm án Tả quân, giao cho nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Tả quân có sáu điều, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ, một tội phải sung quân. Bản án quyết định truy đoạt quan chức, phá bỏ quan quách giết thây. Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng và bị xiềng xích, phía trên khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: Đây chỗ tên lại cái lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước[18]; các ngôi mộ cha mẹ của Lê Văn Duyệt bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia.

Sang năm sau (1836), Minh Mạng lại sai đình thần làm án Lê Chất (1769 – 1826), một công thần từ thời Gia Long, đã qua đời năm 1826. Bài dụ về tội trạng của Lê Chất như sau:

Nhà sử học Trần Trọng Kim bình luận về việc làm án các công thần đã chết này trong sách Việt Nam sử lược như sau:

Trấn áp nổi dậy[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Nguyễn nói chung và thời Minh Mạng nói riêng cho thấy các cuộc nổi dậy của nông dân và các tầng lớp khác bùng nổ dữ dội. Theo sử gia Phạm Văn Sơn, các cuộc nổi dậy ở suốt Trung, Nam, Bắc dưới triều Minh Mạng (kể từ 1822) có nhiều nguyên nhân:[20]

A) Về phía ngoại bang, nước Xiêm La vẫn giữ thái độ về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhưng bên trong Xiêm La vẫn tìm cơ hội để quấy rối Việt Nam.
B) Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống triều Nguyễn và khôi phục lại dòng họ Lê.
C) Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần, nhiều người trung lương đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, nước tất nhiên phải sinh loạn do đó ngoại quốc mới dám dòm ngó vào.

Tại Bắc Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1822, Minh Mạng thứ 2, tại Bắc Hà có tới 254 cuộc nổi dậy của nhân dân diễn ra. Tiêu biểu là các cuộc nổi dậy của Phan Bá VànhNam Định, Lê Duy LươngNinh BìnhNông Văn VânTuyên Quang. Quân nhà Nguyễn phải vất vả lắm mới dẹp được các cuộc nổi loạn này.

Phan Bá Vành[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Việt Nam sử lược, năm 1826Nam ĐịnhPhan Bá Vành cùng với Võ Đức Cát và Nguyễn Hạnh khởi binh đánh phủ Trà Lý và Lân Hải, giết quan thủ ngự Đặng Đình Miễn và Nguyễn Trung Diễn. Quan trấn thủ Nam Định là Lê Mậu Cúc đem quân xuống đánh, nhưng cũng bại trận tử vong. Quan quân ở các trấn phải về tiễu trừ, bắt được Võ Đức Cát. Còn Phan Bá Vành và quân của mình thì chạy tan cả. Nhưng đến tháng 12 năm ấy, Phan Bá Vành và Nguyễn Hạnh liên kết với giặc Khách đi cướp ở ngoài biển, rồi lại đem quân về đánh phá ở huyện Tiên Minh và huyện Nghi Dương ở Hải Dương.

Thấy vậy, Minh Mạng bèn sai quan Tham biện Thanh HóaNguyễn Công Trứ, quan Tham biện Nghệ AnNguyễn Đức Nhuận đem binh thuyền ở Thanh Hóa, Nghệ An ra cùng với Hiệp trấn Bắc thànhNguyễn Hữu Thận đi dẹp loạn.

Tháng giêng năm Đinh Hợi (1827), Phan Bá Vành quay về đánh chiếm phủ Thiên Trường và phủ Kiến Xương, sau lại về vây quan quân ở chợ Quán. Phạm Văn LýNguyễn Công Trứ cho quân tới giải vây, Phan Bá Vành bại trận chạy về căn cứ ở Trà Lũ. Quân nhà Nguyễn vây đánh, bắt được Phan Bá Vành và 765 thủ hạ[21].

Lê Duy Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm Quý Tỵ (1833), ở Ninh BìnhLê Duy Lương, một hậu duệ của triều đại nhà Lê nổi lên, xưng làm Đại Lê Hoàng Tôn, cùng với các thổ ti Quách Tất Công, Quách Tất Tế, Đinh Thế Đức, Đinh Công Trịnh đem quân đi đánh phá các phủ huyện và chiếm giữ 3 châu huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa và Yên Hóa. Sau đó, Lê Duy Lương cho quân đánh thành Hưng Hóa.

Hay tin, vua Minh Mạng cử quan Tổng đốc Nghệ TĩnhTạ Quang Cự cùng với Tổng đốc Thanh Hóa là Nguyễn Văn Trọng đem quân ra Ninh Bình để đàn áp quân nổi loạn. Lê Duy Lương ở Ninh Bình lâm vào thế cô, không chống nổi mấy đạo quân nhà Nguyễn, chỉ đương được vài ba tháng thì bị bắt, đóng cũi giải về kinh trị tội. Còn nhóm Quách Tất Công, Quách Tất Tế thì cũng tan rã.

Sau đó, Minh Mạng truyền đem dòng dõi nhà Lê đi đày vào Quảng Nam, Quảng Bình, cứ chia cho 15 người ở 1 huyện và phát cho 10 quan tiền và 2 mẫu ruộng để làm ăn[21].

Nông Văn Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quân Nguyễn đang dẹp loạn Lê Duy Lương ở miền Bắc, thì ở miền Nam Lê Văn Khôi nổi lên và chiếm giữ thành Gia Định. Theo Việt Nam sử lược, Lê Văn Khôi vốn là người Bắc, có họ hàng bà con ở mạn Tuyên Quang, Cao Bằng, bởi vậy Minh Mạng sai tìm bắt họ hàng của Khôi đem về Kinh xử tội. Tri châu Bảo Lạc (Tuyên Quang) Nông Văn Vân là anh vợ Khôi, bị quan quân bắt bớ, bèn nổi lên xưng “Tiết Chế Thượng tướng Quân”. Nông Văn Vân bắt viên tỉnh phái thích chữ vào mặt rằng “Quan tỉnh hay ăn tiền của dân”, rồi đuổi về[22].

Cuộc nổi loạn diễn ra từ ngày 2 tháng 7 năm 1833. Nông Văn Vân lập căn cứ ở Bảo Lạc, được nhiều tù trưởng và người dân tộc trong vùng hưởng ứng. Quân nổi loạn nhanh chóng mở rộng hoạt động ra các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên và chiếm các tỉnh thành. Hay tin, Minh Mạng cử Tổng đốc Nghệ Tĩnh là Tạ Quang Cự làm Tổng đốc đại thần, cùng với Lê Văn Đức, Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ thống lĩnh hàng chục vạn quân, hàng trăm voi chiến, ngựa chiến đàn áp. Cuối năm 1834, hoạt động của quân nổi loạn bị thu hẹp dần.

Ngày 11 tháng 3 năm 1835, Phạm Văn Điển cho quân phóng hoả đốt rừng Thẩm Bát, nơi Nông Văn Vân và quân nổi loạn ẩn náu. Theo Việt Nam sử lược, Nông Văn Vân chết cháy và đầu bị quân Nguyễn chém lấy rồi đem về kinh báo tin thắng trận[22].

Tại Nam Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1833 - 1835) là một cuộc nổi dậy xảy ra vào thời vua Minh Mạng ở các tỉnh miền Nam Đại Nam.[23] Năm 1833, Lê Văn Khôi (vốn là con nuôi của Tả quân Lê Văn Duyệt) chiếm thành Phiên An và toàn bộ 6 tỉnh miền Nam,[24] giết tổng đốc Nguyễn Văn Quế và bố chính Bạch Xuân Nguyên rồi xưng làm “Bình Nam Đại Nguyên Soái”. Trong dịp này Lê Văn Khôi lấy danh nghĩa tôn phù một người con của Hoàng tử Cảnh là An Hòa.[24] Bấy giờ, An Hòa đang ở Huế.[25]

Hay tin, vua Minh Mạng cho giết ngay vợ con Hoàng tử Cảnh ở Huế để Lê Văn Khôi hết đường lợi dụng.[26][27]

Triều đình cử các tướng Tống Phúc Lương, Nguyễn Xuân, Phan Văn Thúy, Trương Minh GiảngTrần Văn Năng đem thuỷ bộ binh tượng vào đánh quân nổi dậy. Tháng 8 năm 1833, quân Nguyễn bắt đầu phản công và lấy lại các tỉnh Nam Bộ. Một viên tướng của Lê Văn Khôi là Thái Công Triều đầu hàng triều đình. Quân nổi dậy thất thế, phải cầu cứu Xiêm La.

Không bỏ lỡ cơ hội, vua Xiêm là Rama III lập tức sai tướng Chất TriPhật Lăng dẫn quân sang Chân Lạp và tiến công Hà Tiên, Gia Định. Năm 1834, quân Đại Nam đánh tan quân Xiêm ở Thuận Cảng, buộc quân Xiêm lui về Chân Lạp. Quân Đại Nam sau đó chiếm lại toàn bộ các tỉnh miền Nam và bao vây quân nổi dậy tại thành Bát Quái. Lê Văn Khôi bị cô lập, lâm bệnh rồi mất tại thành Phiên An. Con trai Lê Văn Khôi là Lê Văn Cù mới 8 tuổi[28] được cử lên thay. Tháng 9 năm 1835, quân Nguyễn hạ thành Phiên An.[29] Trong 6 người “chủ mưu” bị bắt giải về Kinh đô Phú Xuân, có giáo sĩ người Pháp tên Joseph Marchand (Cố Du), một người khách (Hoa kiều) tên Mạch Tấn Giai và Lê Văn Cù, con Lê Văn Khôi.[29]

Đến Huế thì giáo sĩ Joseph Marchand và năm người kia phải tội lăng trì[30]. Điều này khiến cho Minh Mạng ngày cấm đạo Cơ Đốc một cách dữ dội hơn.[29]

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Với Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như vua cha, Minh Mạng chủ trương tiếp tục triều cống và giữ quan hệ ngoại giao hữu hảo với nhà Thanh. Khi lên ngôi, ông đã nhận sự phong vương của vua nhà Thanh. Tuy nhiên, triều Nguyễn duy trì đường lối đối nội tự chủ. Theo nhận xét của giáo sư Yu Insun, các vua nhà Nguyễn chỉ xưng thần với nhà Thanh một cách hình thức, còn thực chất họ cho rằng họ bình đẳng với nhà Thanh.[31] Các phái đoàn đi cống của ĐạiNam ngoài việc đưa đồ tiến cống còn thực hiện việc trao đổi mua bán sản phẩm không có trong nước, vì Trung Quốc không cho phép thương nhân Đại Nam sang Trung Quốc, còn Đại Nam duy trì lệnh cấm dân chúng xuất cảnh để ngăn chặn việc xuất lậu vật phẩm sang Trung Quốc như gạo, muối, vàng bạc, đồng, sừng trâu, ngà voi, v.v...

Việc duy trì quan hệ triều cống chỉ có ý nghĩa tượng trưng, vì đến cuối đời Minh Mạng, cứ bốn năm một lần nhà Nguyễn mới phải cử sứ sang cống, đồng thời nhà Thanh cắt giảm yêu cầu vật phẩm triều cống cho triều Tây Sơn và nhà Nguyễn chỉ còn phân nửa so với nhà Lê, nên giá trị vật chất không đáng kể.[32] Tuy nhiên các đoàn đi sứ đều được lệnh ghi chép cẩn thận tình hình bên Trung Quốc để báo cáo lại cho nhà vua. Các sứ thần không hoàn thành nhiệm vụ này đều bị trách phạt. Đây có lẽ là một phần lý do khiến vua Minh Mạng có thể nhận định đúng việc nhà Thanh ngày càng suy yếu, và dự đoán chính xác nhà Thanh sẽ thất bại trong cuộc xung đột với nước Anh một khi cuộc chiến tranh Nha phiến nổ ra[33].

Với Xiêm La[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng, giữa Xiêm La (Thái Lan, do nhà Chakri trị vì) với Đại Nam thường xảy ra chiến tranh. Trước đây, vua Gia Long và vua Minh Mạng có mối quan hệ tốt với các vua Rama I, Rama II nên hai nước Việt - Xiêm chưa xảy ra xung đột. Tuy nhiên, sau khi vua mới của Xiêm là Rama III lên ngôi, ông và Minh Mạng đã có thái độ thù nghịch nhau do không còn mối thâm tình như các vua trước. Năm 1827, vua Rama III cử tướng Chất Tri (tức Bodin) đem quân Xiêm sang xâm lược Vạn Tượng, vua xứ này là A Nộ (Anouvong) chống không nổi, phải cầu cứu triều đình Đại Nam. Minh Mạng sai thống chế Phan Văn Thúy mang viện quân sang giúp nhưng bị quân Xiêm đánh bại. Năm 1828, Phan Văn Thúy và Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Khoa Hào tiếp tục đem 3.000 quân và 24 voi chiến đưa A Nộ về Trấn Ninh, rồi tiến vào Vạn Tượng (Vientiane) nhưng đạo quân Nhà Nguyễn – A Nộ lại bị quân Xiêm đập tan. Chán nản, vua Minh Mạng hạ lệnh bãi bỏ và chỉ phòng vệ ở vùng biên giới. A Nộ sau đó chạy về Trấn Ninh và bị bắt nộp cho quân Xiêm.[34]

Quân Xiêm được đà đánh sâu vào các miền phụ cận Quảng Trị. Thống chế Phạm Văn Điển cùng Tham tán Quân vụ Lê Đăng Doanh cùng với các đạo quân Nguyễn ở Lào phải đi ngăn quân Xiêm, đằng khác gửi thư trách cứ họ. Xiêm La trả lời khiêm nhượng rồi rút quân. Tuy vậy, họ vẫn ngấm ngầm giúp Chân Lạp nổi lên chống triều đình Nguyễn hoặc lấn lướt Vạn Tượng và các xứ quy phục triều đình.

Năm 1833-34, theo lời kêu gọi của Lê Văn Khôi, Xiêm La mang đại quân xâm lấn Nam Kỳ nhưng bị quân Đại Nam đánh tan.

Với Ai Lao (Lào)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng, lãnh thổ Đại Nam rộng lớn hơn cả.[35] Nhiều vùng ở Ai Lao đã xin thuộc quyền bảo hộ của Đại Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn (Khammuane) và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị đều được sáp nhập và trở thành các châu, phủ của Đại Nam.[35]

Với Chân Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1833, sau khi phá được quân Xiêm, tướng quân Trương Minh Giảng cùng Tham tán Lê Đại Cương lập đồn Đại Nam gần Nam Vang (tức Phnôm Pênh) để bảo hộ Chân Lạp (Campuchia).

Cuối năm Giáp Ngọ (1834), vua Nặc Ông Chân (Ang Chan II) của Chân Lạp qua đời mà không có con trai nối dõi, quyền bính chuyển sang cho Trà Long và Lê Kiên - hai người Chân Lạp - làm quan cho Đại Nam. Đến năm Ất Mùi (1835), Trương Minh Giảng lập con gái Nặc Ông Chân là công chúa Ang Mey (tức Ngọc Vân công chúa) lên làm Cao Miên quận chúa. Trương Minh Giảng đổi nước Chân Lạp thành Trấn Tây thành, rồi chia làm 32 phủ và 2 huyện, và đặt các chức quan cai quản mọi việc quân sự và dân sự.[35]

Do quan lại người Việt ở Chân Lạp làm nhiều điều ức hiếp, nhũng nhiễu dân Chân Lạp; quân Nguyễn lại bắt Ngọc Vân quận chúa đem về Gia Định, đổi thành Mỹ Lâm quận chúa (do không còn nước Cao Miên nữa); đày các quan người Chân Lạp là Trà Long và Lê Kiên ra miền Bắc Đại Nam. Do đó dân Chân Lạp oán hận và nổi dậy chống quân Đại Nam ở khắp nơi.

Em trai của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Độn (Ang Duong) và Ang Em (hoặc Ang Im) đã làm loạn với sự giúp đỡ của Xiêm La. Quan quân nhà Nguyễn đánh dẹp không nổi, nên sau khi vua Minh Mạng qua đời, quan quân Đại Nam phải bỏ Trấn Tây thành mà rút về An Giang.[35]

Với phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Minh Mạng không có thiện cảm với người châu Âu cũng như thái độ của người Á Đông trước đó, xem người Âu là bọn man di đi cướp bóc. Với những người Pháp đã từng giúp Gia Long trước kia, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt nên khi ông Chaigneau trở lại Đại Nam không được trọng dụng nữa. Nhà vua cho Chaigneau hay rằng không cần phải ký thương ước giữa hai chính phủ, người Đại Nam vẫn đối xử tử tế với người Pháp là đủ, ông chỉ thoả thuận mua bán với người Pháp, nhưng không chấp nhận thành lập quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp, quốc thư của Pháp xin cho Chaigneau làm lãnh sự Pháp cũng không được Minh Mạng đếm xỉa đến.

Thời bấy giờ, Đại Nam là nước Á Đông đầu tiên mà Hoa Kỳ muốn thiết lập quan hệ ngoại giao. Các năm 1832 và 1836, Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson đã gửi đại sứ Edmund Robert sang đàm phán với Minh Mạng về quan hệ mậu dịch song phương cả hai nước nhưng đều không thành công. Chính sách thụ động này đã kìm hãm sự phát triển của Đại Nam.

Việc cấm đạo Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh hành hình giáo sĩ Pierre Borie năm 1838

Minh Mạng cũng không thích đạo Công giáo của châu Âu. Từ khi lên ngôi, ông đã có ý không cho người ngoại quốc vào giảng đạo này ở trong nước. Đến năm Ất Dậu (1825), khi chiếc tàu Thetís vào cửa Đà Nẵng, có giáo sĩ tên Rogerot ở lại đi giảng đạo khắp nơi, Minh Mạng khi ấy mới ra dụ cấm đạo, và truyền cho quan quân phải khám xét các tàu thuyền của ngoại quốc ra vào cửa bể. Trong dụ nói rằng:

Ông còn sai tìm nhiều giáo sĩ ở trong nước đem về kinh đô Huế để dịch sách Tây ra tiếng Việt, nhằm mục đích ngăn các giáo sĩ giảng đạo ở chốn hương thôn.

Theo Việt Nam sử lược, lúc bấy giờ không phải một mình nhà vua ghét đạo Công giáo mà thôi, phần nhiều các quan cũng đều một ý cả, cho nên sự cấm đạo ngày càng khắc nghiệt thêm. Nhưng mà dẫu cấm thế nào đi nữa, trong nước vẫn có người đi giảng đạo, Minh Mạng lại ra dụ lần nữa truyền cho tín đồ Công giáo phải bỏ đạo, và ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì sẽ được thưởng. Năm ấy ở kinh đô có một giáo sĩ bị khép tội xử giảo, và ở các địa phương cũng rối loạn vì sự bắt và giết giáo sĩ.

Từ năm 1822, trong Nam ngoài Bắc có rất nhiều cuộc nổi dậy, nhà vua cho là dân đạo theo giúp các đạo quân nổi dậy, sự cấm đạo lại càng khắc nghiệt hơn. Từ năm Giáp Ngọ (1834) đến năm Mậu Tuất (1838), có nhiều giáo sĩ và giáo dân bị giết, nhất là từ khi bắt được ông Joseph Marchand (Cố Du), một giáo sĩ tham gia vào cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi. Các giáo sĩ phương Tây đã so sánh Minh Mạng với Nero - một hoàng đế La Mã đã bách hại hàng loạt các tín đồ Công giáo.[36][37] Tuy nhiên, các giáo sĩ phương Tây vẫn liều chết để truyền đạo cho được, có người còn phải đào hầm ở dưới đất hàng mấy tháng để truyền đạo.

Theo Việt Nam sử lược, từ năm 1838, vua Minh Mạng cảm thấy không thể nào cấm được các giáo sĩ truyền đạo Công giáo trong nước, ông bèn sai sứ sang Pháp để điều đình về việc này. Song khi sứ thần Đại Nam tới nơi, Hội Thừa sai Paris xin vua Louis Philippe I đừng tiếp. Sứ Đại Nam phải trở về, khi về đến Huế thì Minh Mạng đã qua đời.

Tuy nhiên theo Nguyễn Văn Kiệm trong cuốn Triều Nguyễn và lịch sử của chúng ta đã đánh giá lại việc cấm đạo của vua Minh Mạng với cái nhìn mới công bằng hơn: Lệnh bắt đạo của Minh Mạng tuy ngặt, có gây khó khăn và thiệt thòi cho tín đồ Công giáo, song trong khoảng hai thập kỷ dưới thời Minh Mạng, không hề diễn ra những cuộc tàn sát lớn đối với dân Công giáo. (...) có thể thấy chính sách của Minh Mạng đối với Công giáo về đại thể là có lý, có tình và khó có thể chê trách nếu đặt nó vào bối cảnh lịch sử cụ thể của nước ta lúc đó, khi họa xâm lăng đang tới gần. Riêng biện pháp cưỡng chế giáo dân bỏ đạo cùng với những hình phạt kèm theo là quá khắc nghiệt và cũng chính vì thế mà đã thất bại so với yêu cầu. Mặc dù biện pháp cưỡng chế bỏ đạo của Minh Mạng là đáng phê phán, song gọi Minh Mạng là 'tên bạo chúa, là kẻ khát máu, là Néron của Việt Nam là một sự xuyên tạc sự thật lịch sử cần phải được đính chính.[38]

Mở rộng lãnh thổ Đế Quốc Đại Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trấn Tây Thành[sửa | sửa mã nguồn]

 năm 1833, sau khi triều đình bắt tội Tổng trấn Lê Văn DuyệtLê Văn Khôi con nuôi ông dấy binh nổi loạn, chiếm giữ Thành Bát Quái (thuộc Sài Gòn ngày nay). Vài tháng sau vì yếu thế Lê Văn Khôi cầu viện nước Xiêm; vua Xiêm Rama III bèn sai tướng Chao Phraya Bodin và Phraklang đem hàng ngàn quân thủy bộ chia ra làm 5 đạo tiến đánh Gia Định. Đường thủy thì qua ngả Vịnh Thái Lan, đường bộ thì qua đất Chân Lạp, đồng thời thừa thế khống chế luôn Chân Lạp.

Trong khi đó quân Xiêm đánh vào An Giang (Tháng 12, 1833), rồi tiến lên giao chiến ở rạch Củ Hủ, Trận ấy quân Việt thắng và phản công chiếm lại đồn Châu Đốc, tỉnh An Giang, thành Hà Tiên rồi cùng lực lượng quân Chân Lạp ngược dòng Cửu Long tiến chiếm lại thành Nam Vang. Quân Xiêm bại trận phải rút khỏi Chân Lạp; triều đình Huế bèn đưa Ang Chan II trở lại ngôi vua.

Đuổi được quân Xiêm, Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương lập đồn An Nam ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp. Việc cai trị trong nước Chân Lạp đều do quan Việt sắp đặt, còn triều thần Chân Lạp chỉ kiêm nhiệm việc nhỏ.

Cuối năm 1834, vua nước Chân Lạp là Ang Chan II mất lại không có con trai, quyền cai trị trong nước về cả mấy người phiên liêu là Trà Long(Chakrey Long) và La Kiên, vốn là người Chân Lạp nhưng nhận quan tước của triều đình Huế.

Năm sau, 1835, Trương Minh Giảng tâu vua xin lập người con gái của Nặc Ông Chân là Ang Mey (Ngọc Vân) lên làm quận chúa, gọi là Chân Lạp quận chúa. Thực chất thì Ngọc Vân chỉ là vua làm vì chứ không có thực quyền.

Năm 1836, vua Minh Mạng cho đổi đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành, chính thức sáp nhập vào Đại Nam. Ranh giới phía Tây Bắc của Trấn đến biển hồ Tonlé Sap.

Quản lý hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Nguyễn chia Trấn Tây Thành làm 33 phủ và 2 huyện:

Triều đình Huế hủy bỏ tước hiệu quan chức bản xứ của Chân Lạp và áp dụng quan chế nhà NguyễnLê Đại Cương (sau được thay bằng Dương Văn Phong) được cử làm Tham tán đại thần, đặt một tướng quân, 4 chánh phó lãnh binh, cắt đặt các chức hiệp tán, đề đốc, lang trung, viên ngoại lang, giáo thụ, huấn đạo. Ở các chỗ yếu hiểm, lại đặt chức tuyên phủ, an phủ để phòng ngự.

Năm 1840, nhà vua sai Lê Văn Đức làm khâm sai đại thần, Doãn Uẩn làm phó và cùng với Trương Minh Giảng để kinh lý mọi việc ở Trấn Tây Thành, khám xét việc buôn bán, đo đạc ruộng đất, định lại thuế đinh, thuế thuyền bè buôn bán dưới sông.

Vua Minh Mạng đã cho lệnh tổng kê dân đinh nước Chân Lạp, vừa bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Nam thì có 970.516 người, đang khi đó thì ruộng đất lên đến 4.036.892 mẫu.

Quan hệ với người bản địa[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nhà Nguyễn chiếm được Nam Vang, lập Ang Chan II làm vua Chân Lạp thì mấy anh em là Ang Snguon, Ang EmAng Duong bỏ thành chạy theo quân Xiêm sang lưu vong ở Vọng Các. Xiêm triều lợi dụng yếu tố đó tìm cách đưa họ về Chân Lạp tranh ngôi vua với Ang Chan và khôi phục ảnh hưởng của Xiêm La.

Trong khi đó ở Trấn Tây, nhà Nguyễn phong tước hiệu cho ba người con gái của Ang Chan II:

  • Ang Pen (Ngọc Biện 玉卞, Brhat Anak Angga Ang Baen) (1809-1840) làm Lư An huyện quân;
  • Ang Mey (Ngọc Vân 玉雲, Samdach Brhat Anak Angga Mei Khieu)(1815-1874?) làm Cao Miên quận chúa, nối ngôi vua cha;
  • Ang Snguon (Ngọc Nguyên 玉源) (1829-1875). làm Tạp Ninh huyện quân; và
  • Ang Pou (Ngọc Thu 玉秋, Samdach Brhat Maha Uparajini Puyani) (1822-1878) làm Thâu Trung huyện quân.

Năm 1839, Ang Em và Ang Duong) đem 9.000 dân Khmer cùng 70 chiếc thuyền từ Battambang (vùng Xiêm chiếm đóng) về Trấn Tây (vùng Đại Nam cai quản), định xin triều đình nhà Nguyễn cho kế vị Ang Chan làm vua nhưng bị Trương Minh Giảng bắt. Triều đình cho giải Ang Em về Gia Định xét hỏi rồi đưa ra Huế giam.

Đến năm 1841, Trà Long (Chakrey Long), Nhân Vu (Yumreach Hu) và La Kiên đến Huế mừng thọ vua Minh Mạng thì lại bị nhà vua hạch tội, bắt giam và đày ra Bắc Kỳ. Còn ở Trấn Tây thì Tham tán Dương Văn Phong khép cho Ngọc Biện (Ang Baen), chị của Ngọc Vân quận chúa, tội mưu phản với ý định trốn sang Xiêm, phải xử tử. Sau đó Trương Minh Giảngbắt Ngọc Vân và hai em gái là Ngọc Thu và Ngọc Nguyên về Gia Định giam lỏng ở đó. Các quan lại người Việt sang Trấn Tây Thành thì không ít kẻ lại làm nhiều chuyện trái phép lạm quyền, lạm thế và nhũng nhiễu dân tình.

Với thái độ tự đắc và miệt thị triều thần Chân Lạp gây nhiều bất mãn trong dân chúng, việc cai trị Trấn Tây càng ngày càng khó. Người Chân Lạp có cớ nổi loạn đánh phá khắp nơi, chống lại chính sách Việt hóa của triều đình Huế.[cần dẫn nguồn]. Em Ang Chan là Ang Duang nhân đó dấy binh lại được người Xiêm hậu thuẫn để can thiệp nội bộ Chân Lạp nên quan quân ở Trấn Tây luôn phải đánh dẹp hao tổn nhiều.

Năm 1840, mấy vạn quân Xiêm kéo vào đóng ở U Đông (Oudong), vua Minh Mạng sai tướng Phạm văn Điển và Nguyễn Tiến Lâm mang quân lên đối phó nhưng không phá được.

Triệt thoái khỏi Trấn Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chiếm đóng Trấn Tây Thành cùng với chính sách cai trị mất lòng dân Chân Lạp của triều đình Huế là một gánh nặng cho đất nước, từ binh sĩ đến lương nhu đều hao thiệt nên đến Tháng 9 năm 1841, thấy tình hình Chân Lạp bất ổn mãi, Tạ Quang Cự và các đại thần dâng sớ xin bỏ bảo hộ Chân Lạp. Vua Thiệu Trị thuận theo, truyền cho quan quân Đại Nam rút quân về giữ An Giang.

Lợi dụng tình huống bỏ ngỏ vua Xiêm đưa Ang Duong lên làm vua Chân Lạp song chiến sự kép dài vì quân Việt và quân Xiêm tiếp tục giao chiến từ năm 1841 đến 1845 mới thôi khi triều đình Huế và Vọng Các thỏa hiệp cùng bảo hộ xứ Chân Lạp và nhận triều cống của Ang Duang.

Trấn Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà NguyễnGia Long đem đất Trấn Ninh cắt về cho vương quốc Vạn Tượng của A Nỗ (Anouvong). Nhưng khi Chiêu Xanh, tù trưởng Trấn Ninh khi ấy chết, A Nỗ không lập con Chiêu Xanh là Chiêu Nội (Chao Noi) lên, nên Chiêu Nội thù A Nỗ, đồng thời Chiêu Nội chạy sang phủ Trà Lân xứ Nghệ và xin nội thuộc lại Đại Nam (nhà Nguyễn). Đến khi A Nỗchống lại nước Xiêm, bị vua Xiêm là Rama III sai Chao Phraya Bodin Decha đánh cho thua chạy sang Nghệ An, qua Trấn Ninh bị Chiêu Nội bắt nộp cho Xiêm năm 1828. Chiêu Nội bị Minh Mạng khép tội chết vì hành động này.

Sau khi giết Chiêu Nội, nhà Nguyễn cử quan Việt sang cai trị Trấn Ninh. Năm 1823, nhà Nguyễn đặt thêm huyện Liêm. Phủ Trấn Ninh từ đấy bao gồm 7 huyện:

  1. Liên,
  2. Khâm,
  3. Quảng,
  4. Khang,
  5. Cát,
  6. Xôi,
  7. Mộc,
  8. Liêm (vốn là mán Mường Hiểm).

Tháng 3/1832, nổ ra cuộc khởi nghĩa của hơn 200 binh lính Trấn Ninh, do Trần Tứ và Đỗ Bắc lãnh đạo, nổi dậy chống nhà Nguyễn và liên kết với cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Lương. Những năm 1833-1834, trong chiến tranh Việt-Xiêmngười Thái tấn công Đại Nam (một trong các hướng là qua ngả Trấn Ninh), đất Trấn Ninh bị người Thái lấn dần. Khi người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm 1893, đã dựa theo địa hình và cắt tỉnh Houaphan (Hủa Phăn), Xiêng Khoảng giao về lãnh thổ Lào (Ai Lao).

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1841, Minh Mạng lâm bệnh nặng.[6] Lúc lâm chung, ông gọi quan đại thần Trương Đăng Quế[39] đến bên giường dụ rằng:

Sau đó, ông cầm tay con trưởng là Trường Khánh Công Nguyễn Phúc Miên Tông trối trăng:

Nói rồi, vua Minh Mạng qua đời ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý, tức ngày 20 tháng 1 năm 1841 tại điện Quang Minh,[5] hưởng thọ 50 tuổi, ở ngôi 21 năm, miếu hiệuThánh Tổ (聖祖).Thụy hiệu do vua Thiệu Trị đặt cho ông là Thể thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đoán Sáng thuật Đại thành Hậu trạch Phong công Nhân Hoàng đế (體天昌運至孝純德文武明斷創述大成厚澤豐功仁皇帝).[5]. Lăng của ông là Hiếu Lăng, tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ông được thờ ở Tả Nhất Án Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đời sống riêng tư, người ta cũng phải ngạc nhiên về sức cường tráng của ông. Không có tài liệu cho biết chân dung và thể lực của ông như thế nào, chỉ biết ông có nhiều vợ và rất đông các phi tần. Có một bài thuốc bổ dương mang tên Minh Mạng thang được quan Thái y căn cứ vào thể chất và sinh hoạt của ông để lập ra thang thuốc rượu.

Lăng Minh Mạng.

Ông không đặt hoàng hậu, mà chỉ cao nhất là hoàng phi. Tá Thiên Nhân hoàng hậu (tước vị được phong sau khi mất), húy là Hồ Thị Hoa, còn có tên là Thật,[5] sinh 1791. Bà qua đời năm 1807, 13 ngày[5] sau khi sinh hạ Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Miên Tông (tức vua Thiệu Trị sau này). Lăng của bà hiệu là Hiếu Đông Lăng, phía tả lăng Thiệu Trị, tại làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Sách Minh Mạng chính yếu chép: Năm Minh Mạng thứ sáu, mùa Xuân, tháng giêng, trong Kinh Kỳ ít mưa, nhà vua lấy làm lo, chỉ dụ cho quan Thượng Bảo Khanh là ông Hoàng Quỳnh rằng:

Phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiền phi Ngô Thị Chính (賢妃吳氏政; 1792 - 1843), húy là Kiều, người Quảng Trị, con của Chưởng cơ Ngô Văn Sở và mẹ họ Nguyễn. Bà vào hầu Minh Mạng từ khi còn nơi tiềm để. Năm Canh Thìn (1820) được phong làm Cung tần, rồi dần được tấn phong Hiền phi. Bà là sủng phi bậc nhất trong hậu cung của Minh Mạng. Khi còn sống, bà nói rằng: “Dù vua có thương thiếp bao nhiêu đi nữa thì đến khi chết, thiếp cũng chỉ ra đi hai tay không mà thôi!”. Vì thế, khi bà mất, vua thân hành đến tận chỗ bà nằm, cầm theo hai nén bạc (có người nói là hai nén vàng), truyền thái giám mở hai bàn tay bà ra, vua đặt hai nén bạc vào đó rồi bóp lại. “Đó, trẫm cho khanh cái này để khỏi ra đi hai tay không.” vua nói, vẻ xúc động. Bà sinh 5 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Chính (chết ngay khi sinh), Nguyễn Phúc Miên Hoành, Nguyễn Phúc Miên Áo, Nguyễn Phúc Miên Quân, Nguyễn Phúc Miên Uyển và 4 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Ngọc Tông, Nguyễn Phúc Khuê Gia, Nguyễn Phúc Uyển Diễm, Nguyễn Phúc Thụy Thục
  • Gia phi Phạm Thị Tuyết (嘉妃范氏雪; ? - 1812), húy là , người Bình Định, con gái của Quang Lộc Tự Thiếu Khanh Phạm Văn Chẩn. Bà sinh Thọ Xuân vương Nguyễn Phúc Miên Định vào năm 1810, ba năm sau thì qua đời. Minh Mạng truy tặng làm Tu nghi, thụy Đoan Lệ, ban đầu thờ ở Hồ Phạm Nhị Tần từ, sau dời thờ riêng ở Gia phi từ.

Tần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trang tần Trần Thị Tuyến (莊嬪陳氏線; 16 tháng 12 năm 1791 - 4 tháng 1,1852), húy là Hương, thụy là Uyên Thục, người Thừa Thiên, con gái của Vệ uý Trần Công Nghị. Bà hầu hạ Minh Mạng lúc còn nơi tiềm đế. Sinh hạ 2 hoàng tử: Ninh Thuận Quận vương Nguyễn Phúc Miên Nghi và Nguyễn Phúc Miên Tích.
  • Thục tần Nguyễn Thị Bửu (淑嬪阮氏寶; 7 tháng 9 năm 1801 - 12 tháng 9 năm 1851), người Gia Định, con gái quan Tư không Nguyễn Khắc Thiệu. Bà hầu hạ Minh Mạng lúc còn nơi tiềm đế. Sinh hạ 4 hoàng tử: Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Hựu, 2 hoàng tử chết non và 3 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh (Nguyệt Đình), Nguyễn Phúc Trinh Thận (Mai Am) và Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (Huệ Phố). Nguyên lúc trước kia phạm lỗi nên bị thu lại sắc phong, khi bà mất Tùng Thiện vương dâng sớ cầu khẩn xin lại, lời lẽ trong sớ hết sức thống thiết, nên vua Tự Đức động lòng đặc ân cấp lại, ban thụy là Đoan Liệt.
  • Huệ tần Trần Thị Huân (惠嬪陳氏勳), húy là Lại, người Quảng Nam. Con gái của ông Vệ uý Trần Văn Hùng, không rõ năm sinh và mất, thụy Uyển Thuận. Hạ sinh 6 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Trạch, Nguyễn Phúc Miên Phục, Nguyễn Phúc Miên Tĩnh, Nguyễn Phúc Miên Ngôn, Nguyễn Phúc Miên Thất, Nguyễn Phúc Miên Sách và 9 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Nhu Thục, Nguyễn Phúc Tường Hòa, Nguyễn Phúc Nhàn An, Nguyễn Phúc Thục Tư, Nguyễn Phúc Hòa Nhàn, Nguyễn Phúc Nhu Hòa, Nguyễn Phúc Lương Nhàn, Nguyễn Phúc Lương Tĩnh, Nguyễn Phúc Phúc Tường.
  • An tần Hồ Thị Tuỳ (安嬪胡氏隨; 1795 - 23 tháng 11 năm 1839), húy là Khiên, thụy là Hoa Diễm, người Quảng Trị. Con gái của ông Cẩm y vệ Hiệu úy Hồ Văn Chiêm, mẹ Lâm thị. Sơ phong Tài nhân, Mỹ nhân, Tiệp dư rồi An tần. Bà được vua sắc phong cho lập từ đường để thờ gọi là Ý Thục từ. Đến năm 1870, được rước về thờ tại nhà thờ của Tương An Quận vương, tẩm ở làng Cư Chính, Hương Thủy, Thừa Thiên. Sinh được 3 hoàng tử: Tương An Quận vương Nguyễn Phúc Miên Bửu, Nguyễn Phúc Miên Tề, Nguyễn Phúc Miên Tuấn và hoàng nữ là Nguyễn Phúc Nhu Thuận.
  • Hoà tần Nguyễn Thị Khuê (和嬪阮氏奎), húy là Bích Chi, người Gia Định, con gái của Chưởng cơ Nguyễn Văn Thanh. Lúc mất được ban thụy là Tĩnh Nhã, hạ sinh 4 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Cư, Nguyễn Phúc Miên Tỉnh, Nguyễn Phúc Miên Bảo, Nguyễn Phúc Miên Thân và 6 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Tường Tĩnh, Nguyễn Phúc Thục Tuệ, Nguyễn Phúc Tĩnh An, Nguyễn Phúc An Nhàn, Nguyễn Phúc Trinh Hòa, Nguyễn Phúc Tĩnh Trang.
  • Lệ tần Nguyễn Thị Thuý Trúc (麗嬪阮氏翠竹), húy là Điện, người Quảng Ngãi, con gái của Phó Vệ úy Nguyễn Gia Quý. Khi mất bà được ban thụy Thục Tắc. Sinh được 6 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Lương, Nguyễn Phúc Miên Kháp, Nguyễn Phúc Miên Lâm, Nguyễn Phúc Miên Chỉ, Nguyễn Phúc Miên Bàng, Nguyễn Phúc Miên Lịch và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Trinh Nhàn, Nguyễn Phúc Nhu Nghi.

Tiệp dư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiệp dư Lê Thị Ái (婕妤黎氏愛; 17 tháng 11 năm 1799 - 8 tháng 10 năm 1863), huý là Cầu, người Thừa Thiên, thuỵ là Tịnh Nhu, con của Cẩm y vệ Hiệu úy Lê Tiến Thành. Hầu hạ Minh Mạng khi còn ở nơi tiền đế, sau được sách phong Tài nhân, Mỹ nhân rồi Tiệp dư. Bà sinh được 3 hoàng tử: Tuy Lý vương Nguyễn Phúc Miên Trinh, Nguyễn Phúc Miên Long, Nguyễn Phúc Miên Quan và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Trang Tĩnh và Nguyễn Phúc Nhàn Trinh. Bà có mối quan hệ tốt với Thục tần Nguyễn Thị Bửu.
  • Tiệp dư Nguyễn Thị Viên (婕妤阮氏圓), không rõ lai lịch, sinh được 2 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Sủng, Nguyễn Phúc Miên Tiệp và 3 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Phương Trinh, Nguyễn Phúc Nhan Huệ, Nguyễn Phúc Hòa Trinh.

Quý nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lương Thị Nguyện (梁氏願; 18 tháng 10 năm 1800 - 9 tháng 12 năm 1871), sinh hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Khoan và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Quang Tĩnh và Nguyễn Phúc Đoan Thận.
  • Cái Thị Trinh (蓋氏禎), sinh được 2 hoàng nữ Nguyễn Phúc Hoà Đức, Nguyễn Phúc Vĩnh Gia và hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Túc.
  • Nguyễn Thị Tràng (阮氏長), sinh 3 hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Thần, Nguyễn Phúc Miên Cung, Nguyễn Phúc Miên Gia và hoàng nữ Nguyễn Phúc Đoan Trinh.
  • Đỗ Thị Tùng (杜氏松), sinh hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Phong, chị em ruột với Quý nhân Đỗ Thị Tâm.
  • Đỗ Thị Tâm (杜氏心; 27 tháng 9 năm 1804 - 12 tháng 4 năm 1863), chị em ruột với Quý nhân Đỗ Thị Tùng, sinh hạ 5 hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Hoan (chết khi mới 13 tuổi), Nguyễn Phúc Miên Dần, Nguyễn Phúc Miên Quãng, Nguyễn Phúc Miên Khách, Nguyễn Phúc Miên Hoang và 3 hoàng nữ Nguyễn Phúc Gia Tiết (chết năm 18 tuổi, chưa xuất giá), Nguyễn Phúc Lương Trinh và 1 người chết non.
  • Lê Thị Lộc (黎氏祿), em gái của Tiệp dư Lê Thị Ái, sinh được 3 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Thanh, Nguyễn Phúc Miên Kiền, Nguyễn Phúc Miên Ngử (chết năm 14 tuổi) và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Thục Tĩnh và Nguyễn Phúc Thuỵ Thận.
  • Nguyễn Thị Hạnh (阮氏幸), người Quảng Điền, Thừa Thiên, sinh được 2 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Miêu, Nguyễn Phúc Miên Ôn và hoàng nữ Nguyễn Phúc Trang Nhàn.

Mỹ nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Thị Bân (阮氏彬), húy là Lạc, người Do Linh, Quảng Trị. Năm sinh, mất không rõ, khi mất được ban thụy là Thục Thận. Sinh hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Thủ và hoàng nữ Nguyễn Phúc Lương Đức.
  • Đoàn Thị Thụy (段氏瑞), người Phú Vang, Thừa Thiên, là con gái của Cẩm Y Hiệu úy Đoàn Đức Nghĩa. Khi mất bà được ban thụy là Đoan Ý. Sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Gia Trinh.

Tài nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đinh Thị Nghĩa (丁氏義), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Trữ và hoàng nữ Nguyễn Phúc Gia Trang (chết năm 16 tuổi, chưa xuất giá).
  • Trần Thị Tiền (陳氏錢), húy là Thư, không rõ lai lịch. Sinh hạ 2 hoàng tử đều mất sớm: Nguyễn Phúc Miên Tuyên (chết non) và Nguyễn Phúc Miên Trụ (chết yểu năm 8 tuổi)
  • Nguyễn Thị Tính (阮氏姓), người Quảng Trị, con gái của Tham tri Bộ binh Nguyễn Công Tiệp, sinh hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tằng.
  • Đỗ Thị Cương (杜氏岡), không rõ lai lịch, húy là Phong. Bà là em gái của Quý nhân Đỗ Thị TùngQuý nhân Đỗ Thị Tâm. Khi mất được ban thụy là Thục Thận. Sinh được hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Khế (chết yểu khi 6 tuổi) và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Nhàn Thục, Nguyễn Phúc Gia Tĩnh.
  • Trần Thị Thanh (陳氏清), húy là Hà Hương, không rõ lai lịch, khi mất được ban thụy Trang Thuận. Sinh được hoàng tử là Hoằng Hóa Quận vương Nguyễn Phúc Miên Triện.
  • Trần Thị Trúc (陳氏竹), không rõ lai lịch, sinh hạ 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy và Nguyễn Phúc Gia Thụy.
  • Trần Thị Tiêm (陳氏讖), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Trinh Đức.
  • Bùi Thị Sơn (裴氏山), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Điều và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Hoà Thận, Nguyễn Phúc Trinh Tĩnh.

Cung nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, Minh Mạng còn một số cung nhân khác chưa xếp vào giai thứ:

  • Lý Thị Cầm (李氏琴), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Nhàn Tĩnh.
  • Cao Thị Diệu (高氏妙), người Do Linh, Quảng Trị, sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tả.
  • Đặng Thị Yểu Điệu (鄧氏窈窕), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Trang Tường.
  • Lê Thị Đính (黎氏訂), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Trinh Thụy.
  • Trần Thị Mỹ (陳氏美), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Hoà Tường.
  • Trần Thị Nhã (陳氏雅), người Quảng Điền, Thừa Thiên, sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Thích.
  • Trần Thị Nhạn (陳氏雁), không rõ lai lịch, sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Nhàn Thận.
  • Hồ Thị Thể (胡氏彩), còn húy là Tố Cẩm, sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Sạ.
  • Lê Thị Thông (黎氏通), sinh hạ hoàng nữ Nguyễn Phúc Trinh Nhu.
  • Nguyễn Thị Xuân (阮氏椿), người Gia Định, con gái của Chính đội Nguyễn Văn Châu. Sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Ký và hoàng nữ Nguyễn Phúc Nhu Tĩnh.
  • Phan Thị Viên (潘氏員), sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Thể.
  • Trần Thị Nghiêm (陳氏嚴), sinh hạ 2 hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Phú, Nguyễn Phúc Miên Tống và 3 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Đoan Thuận, Nguyễn Phúc Thục Thận và 1 người chết non.
  • Nguyễn Thị Vĩnh (阮氏永), người Hương Trà, Thừa Thiên, sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Vũ.
  • Nguyễn Thị Được (阮氏藥), sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Ngô.
  • Lê Thị Tường (黎氏祥), con gái của công thần Lê Chất. Bà vốn được phong Cung tần, nhưng năm Minh Mạng 16 (1835) Lê Chất bị nghị tội, nên bà cũng bị phế. Sinh hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Liêu.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Mạng đã có tới 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.[5]

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • 01. Nguyễn Phúc Miên Tông
  • 02. Nguyễn Phúc Miên Chính
  • 03. Nguyễn Phúc Miên Định
  • 04. Nguyễn Phúc Miên Nghi
  • 05. Nguyễn Phúc Miên Hoành
  • 06. Nguyễn Phúc Miên Áo
  • 07. Nguyễn Phúc Miên Thần
  • 08. Nguyễn Phúc Miên Phú
  • 09. Nguyễn Phúc Miên Thủ
  • 10.Nguyễn Phúc Miên Thẩm
  • 11. Nguyễn Phúc Miên Trinh
  • 12.Nguyễn Phúc Miên Bửu
  • 13. Nguyễn Phúc Miên Trữ
  • 14. Nguyễn Phúc Miên Hựu
  • 15. Nguyễn Phúc Miên Vũ
  • 16. Nguyễn Phúc Miên Tống
  • 17. Nguyễn Phúc Miên Thành
  • 18. Nguyễn Phúc Miên Tề
  • 19. Tảo thương
  • 20. Tảo thương
  • 21. Nguyễn Phúc Miên Tuyên
  • 22. Nguyễn Phúc Miên Long
  • 23. Nguyễn Phúc Miên Tích
  • 24. Tảo thương
  • 25. Tảo thương
  • 26. Nguyễn Phúc Miên Cung
  • 27. Nguyễn Phúc Miên Phong
  • 28. Nguyễn Phúc Miên Trạch
  • 29. Nguyễn Phúc Miên Liêu
  • 30. Nguyễn Phúc Miên Mật
  • 31. Nguyễn Phúc Miên Lương
  • 32. Nguyễn Phúc Miên Gia
  • 33. Nguyễn Phúc Miên Khoan
  • 34. Nguyễn Phúc Miên Hoan
  • 35. Nguyễn Phúc Miên Túc
  • 36. Nguyễn Phúc Miên Quan
  • 37. Nguyễn Phúc Miên Tuấn
  • 38. Tảo thương
  • 39. Tảo thương
  • 40. Nguyễn Phúc Miên Quân
  • 41. Nguyễn Phúc Miên Kháp
  • 42. Nguyễn Phúc Miên Tằng
  • 43. Nguyễn Phúc Miên Tĩnh
  • 44. Nguyễn Phúc Miên Thể
  • 45. Nguyễn Phúc Miên Dần
  • 46. Tảo thương
  • 47. Nguyễn Phúc Miên Cư
  • 48. Nguyễn Phúc Miên Ngôn
  • 49. Nguyễn Phúc Miên Sạ
  • 50. Tảo thương
  • 51. Nguyễn Phúc Miên Thanh
  • 52. Nguyễn Phúc Miên Tỉnh
  • 53. Nguyễn Phúc Miên Sủng
  • 54. Nguyễn Phúc Miên Ngô
  • 55. Nguyễn Phúc Miên Kiền
  • 56. Nguyễn Phúc Miên Miêu
  • 57. Nguyễn Phúc Miên Lâm
  • 58. Nguyễn Phúc Miên Tiệp
  • 59. Nguyễn Phúc Miên Quãng
  • 60. Nguyễn Phúc Miên Uyển
  • 61. Nguyễn Phúc Miên Ôn
  • 62. Nguyễn Phúc Miên Trụ
  • 63. Nguyễn Phúc Miên Khiết
  • 64. Nguyễn Phúc Miên Ngụ
  • 65. Nguyễn Phúc Miên Tả
  • 66. Nguyễn Phúc Miên Triện
  • 67. Nguyễn Phúc Miên Thất
  • 68. Nguyễn Phúc Miên Bảo
  • 69. Nguyễn Phúc Miên Khách
  • 70. Nguyễn Phúc Miên Thích
  • 71. Nguyễn Phúc Miên Điều
  • 72. Nguyễn Phúc Miên Hoang
  • 73. Nguyễn Phúc Miên Chí
  • 74. Nguyễn Phúc Miên Thân
  • 75. Nguyễn Phúc Miên Ký
  • 76. Nguyễn Phúc Miên Bàng
  • 77. Nguyễn Phúc Miên Sách
  • 78. Nguyễn Phúc Miên Lịch

Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Nguyễn Phúc Ngọc Tông
  • 2. Nguyễn Phúc Khuê Gia
  • 3. Nguyễn Phúc Uyển Diễm
  • 4. Nguyễn Phúc Lương Đức
  • 5. Nguyễn Phúc Quang Tĩnh
  • 6. Nguyễn Phúc Hoà Đức
  • 7. Nguyễn Phúc Trinh Đức
  • 8. Nguyễn Phúc Nhu Thuận
  • 9. Nguyễn Phúc Nhu Thục
  • 10. Nguyễn Phúc Đoan Thuận
  • 11. Nguyễn Phúc Đoan Trinh
  • 12. Nguyễn Phúc Vĩnh Gia
  • 13. Nguyễn Phúc Đoan Thận
  • 14. Nguyễn Phúc Nhàn Thận
  • 15. Nguyễn Phúc Gia Trinh
  • 16. Nguyễn Phúc Gia Tiết
  • 17. Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ
  • 18. Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh
  • 19. Tảo thương
  • 20. Nguyễn Phúc Thục Thận
  • 21. Nguyễn Phúc Thục Tĩnh
  • 22. Nguyễn Phúc Trang Tĩnh
  • 23. Nguyễn Phúc Trang Nhàn
  • 24. Nguyễn Phúc Gia Thuỵ
  • 25. Nguyễn Phúc Trinh Thận
  • 26. Nguyễn Phúc Trinh Nhàn
  • 27. Nguyễn Phúc Tường Hoà
  • 28. Nguyễn Phúc Tường Tĩnh
  • 29. Nguyễn Phúc Nhàn Thục
  • 30. Nguyễn Phúc Nhàn Trinh
  • 31. Nguyễn Phúc Thuỵ Thận
  • 32. Nguyễn Phúc Thuỵ Thục
  • 33. Tảo thương
  • 34. Nguyễn Phúc Tĩnh Hoà
  • 35. Tảo thương
  • 36. Nguyễn Phúc Lương Trinh
  • 37. Nguyễn Phúc Gia Trang
  • 38. Nguyễn Phúc Gia Tĩnh
  • 39. Nguyễn Phúc Thục Tuệ
  • 40. Nguyễn Phúc Nhàn Tĩnh
  • 41. Nguyễn Phúc Nhàn An
  • 42. Nguyễn Phúc Tĩnh An
  • 43. Nguyễn Phúc Thục Tư
  • 44. Nguyễn Phúc Nhu Nghi
  • 45. Tảo thương
  • 46. Nguyễn Phúc Phương Trinh
  • 47. Nguyễn Phúc Hoà Thận
  • 48. Nguyễn Phúc Hoà Nhàn
  • 49. Nguyễn Phúc Hoà Tường
  • 50. Nguyễn Phúc Nhan Huệ
  • 51. Nguyễn Phúc An Nhàn
  • 52. Nguyễn Phúc Nhu Hoà
  • 53. Nguyễn Phúc Hoà Trinh
  • 54. Nguyễn Phúc Lương Nhàn
  • 55. Nguyễn Phúc Trinh Hoà
  • 56. Nguyễn Phúc Lương Tĩnh
  • 57. Nguyễn Phúc Trinh Tĩnh
  • 58. Tảo thương
  • 59. Nguyễn Phúc Nhu Tĩnh
  • 60. Nguyễn Phúc Tĩnh Trang
  • 61. Nguyễn Phúc Trinh Nhu
  • 62. Nguyễn Phúc Trinh Thuỵ
  • 63. Nguyễn Phúc Trang Tường
  • 64. Nguyễn Phúc Phúc Tường

Minh Mạng thường dặn các con rằng:

Đế hệ thi và Phiên hệ thi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đế hệ thi

Năm 1823, Minh Mạng đã làm bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi để quy định các chữ lót đặt tên cho con cháu các thế hệ sau.

Vua Minh Mạng cũng ban cho dòng họ của các con vua Gia Long 10 bài phiên hệ thi[41]

Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ, nhưng tên ở mỗi đời thì phải dùng một bộ trong ngũ hành theo thứ tự: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa và trở lại, vì thế tên của tất cả đời thứ nhất dùng bộ thổ.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bộ Quốc Triều chính biên toát yếu (Cao Xuân Dục chủ biên), sử thần nhà Nguyễn đã ca ngợi vua Minh Mạng:[42]

Sử gia Trần Trọng Kim viết sách Việt Nam sử lược có nhận xét trung lập hơn:[43]


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược quyển 2 (Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr. 152), Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr. 269); Võ Văn Tường, Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam (Nhà xuất bản VH-TT, Hà Nội, 1994, tr. 383) và Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa cũng đã cho biết theo dật sử thì Hoàng tử Đảm đã sinh ra nơi hậu liêu chùa Khải Tường vào năm Tân Hợi (1791) giữa cơn tị nạn binh Tây Sơn.
  2. ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 662
  3. ^ Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung, sách đã dẫn, tr 287-288
  4. ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 665
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Báo Bình Dương - Minh Mệnh: Vị vua năng động và quyết đoán
  7. ^ Nguyễn Thế Anh - Kinh tế & Xã hội VN dưới các vua triều Nguyễn Nhà xuất bản Văn học tr.47
  8. ^ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Chống tham nhũng bắt đầu từ trên
  9. ^ Văn Tạo, sách đã dẫn, tr 222, 249
  10. ^ Văn Tạo, sách đã dẫn, tr 222-223
  11. ^ Nhiều tác giả, Những vấn đế lịch sử triều Nguyễn, tr. 75
  12. ^ a ă Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 420
  13. ^ Ông tổ ngành than
  14. ^ Nguyễn Thế Anh - Kinh tế & Xã hội VN dưới các vua triều Nguyễn, Nhà xuất bản Văn học trang 124-125
  15. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 327
  16. ^ Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phạn Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam - tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, TPHCM 2005, tr. 451.
  17. ^ “Theo Đại Nam liệt truyện chính biên thì khi làm tổng trấn Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt uy quyền to lắm mà lòng người cũng kính phục nên vua Minh Mạng tuy trong lòng căm ghét nhưng cũng không dám làm gì”.
    Mộ tả quân Lê Văn Duyệt hiện ở đâu?, báo Tuổi Trẻ, 21/05/2006
  18. ^ Nguyên văn chữ Hán: 權奄黎文悅服法處 (Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ)
  19. ^ Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1964, tr.455 - 446
  20. ^ Việt Sử toàn thư, Phạm Văn Sơn, tr. 421
  21. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 183
  22. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 184
  23. ^ Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ 19, Nhà xuất bản TP.HCM, 2002, tr. 229 - 256
  24. ^ a ă McLeod, tr.30.
  25. ^ Việt sử toàn thư, tr 421
  26. ^ Việt sử toàn thư, tr 422
  27. ^ Sử Pháp của C. B Maybon có chép chuyện này.
  28. ^ Nguyễn Q. Thắng (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam) ghi là Lê Văn Câu, Sách Sài Gòn - TP.HCM do Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt chủ biên, ghi là Lê Văn Cù. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược ghi 7 tuổi
  29. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên kccvn
  30. ^ Theo ông J. Silvestre.
  31. ^ lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc thế kỷ 19, thực và hư, Yu Isun
  32. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 207, tr. 41b~42a
  33. ^ Đại Nam thực lục, II, quyển 212, p. 33b
  34. ^ Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 424
  35. ^ a ă â b Trần Trọng Kim, Việt Nam lược sử, Chương III: Thánh Tổ, tr. 191
  36. ^ Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 432
  37. ^ Trong số đó có cả Phêrô, vị giáo hoàng đầu tiên (bị xử tử năm 64).
  38. ^ Nguyễn Văn Kiệm, Triều Nguyễn và lịch sử của chúng ta, 2013, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 194.
  39. ^ Trương Đăng Quế (1793 - 1865) là thầy học của các hoàng tử con vua Minh Mạng.
  40. ^ Đại Nam thực lục, tập 5, trang 889
  41. ^ một số hoàng thân mất sớm, không có con nên không được ban
  42. ^ Cao Xuân Dục (1908), Quốc triều chính biên toát yếu, trang 124
  43. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 192

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục chính biên, Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục
  • Nhiều tác giả (2007). Sài Gòn xưa và nay, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ
  • Nguyễn Đắc Xuân (2004). Kiến Thức Về Triều Nguyễn Huế Xưa, Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Tôn Thất Bình (2001). 12 danh tướng triều Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Tôn Thất Bình (2006). Kể chuyện chín chúa mười ba vua triều Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ
  • Nguyễn Khắc Thuần (2004). Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam, Tái Bản lần thứ 10, Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục
  • Phạm Khắc Hoè (1986). Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản điện tử
  • Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
  • Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân
  • Báo Quảng Nam: Những nhân vật cải cách trong lịch sử: Minh Mạng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]