Bước tới nội dung

Mjällby AIF

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mjällby
Huy hiệu câu lạc bộ bóng đá Mjällby
Huy hiệu câu lạc bộ bóng đá Mjällby AIF
Tên đầy đủMjällby Allmänna
Idrottsförening
Tên ngắn gọnMAIF, Maif, Mjällby
Thành lập1 tháng 4 năm 1939; 86 năm trước (1939-04-01)
Sân vận độngStrandvallen, Hällevik
Sức chứa6.750
Chủ sở hữuMagnus Emeus
Huấn luyện viênAnders Torstensson
Giải đấuAllsvenskan
2025Vô địch (Hạng 1 trong 16)
Màu áo sân nhà
Màu áo sân khách
Mùa giải hiện nay

Mjällby Allmänna Idrottsförening, hay còn được biết đến với các tên gọi Mjällby AIF, Mjällby, đặc biệt theo tiếng địa phương là Maif hoặc MAIF, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Thụy Điển có trụ sở tại Hällevik, giáo xứ Mjällby, đô thị Sölvesborgs. Câu lạc bộ trực thuộc Hiệp hội bóng đá Blekinge (tiếng Thụy Điển: Blekinge Fotbollförbund) và chơi các trận sân nhà tại Strandvallen. Màu sắc chủ đạo của câu lạc bộ là vàng và đen, được thể hiện trên huy hiệu và trang phục thi đấu. Được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1939, câu lạc bộ đã chơi mười ba mùa giải tại giải bóng đá hàng đầu quốc gia Thụy Điển Allsvenskan. Mùa giải đầu tiên của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia là vào năm 1980. Câu lạc bộ hiện đang chơi tại Allsvenskan.

Mjällby AIF là câu lạc bộ bóng đá thành công nhất đến từ tỉnh Blekinge.

Cựu cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Thụy Điển Christian WilhelmssonMattias Asper đã bắt đầu và kết thúc sự nghiệp thi đấu của mình tại câu lạc bộ.

Vào ngày 18 tháng 5 năm 2023, Mjällby AIF đã chơi trận chung kết Cúp bóng đá Thụy Điển tại Strandvallen và thua 1–4 trước BK Häcken. Vào ngày 20 tháng 10 năm 2025, Mjällby AIF đã giành được danh hiệu vô địch Allsvenskan đầu tiên khi còn ba trận đấu trước khi mùa giải kết thúc.[1]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên (1939–1974)

[sửa | sửa mã nguồn]

Mjällby Allmänna Idrottsförening được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1939 thông qua sự sáp nhập của hai câu lạc bộ Listers IF và Hälleviks IF. Câu lạc bộ chơi ở các hạng đấu thấp hơn tại Blekinge và luân chuyển giữa các giải hạng 5hạng 3 quốc gia. Câu lạc bộ có mùa giải tốt nhất trong giai đoạn đó khi kết thúc ở vị trí thứ sáu tại hạng 3 trong mùa giải 1942–43. Tuy nhiên, họ lại xuống hạng 4 trong mùa giải tiếp theo.

Vào ngày 28 tháng 6 năm 1953, sân thể thao mới của câu lạc bộ, Strandvallen, được khánh thành, nơi họ chơi các trận đấu sân nhà. Trận đấu khai mạc tại Strandvallen một trận đấu giao hữu với tỷ số 4–1 giành cho Mjällby trước câu lạc bộ bóng đá Đức VfL Germania Leer. Đây là lần đầu tiên Mjällby đối đầu với một đội bóng nước ngoài trên sân nhà.

Thăng hạng (1975–1979)

[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 1975, câu lạc bộ vô địch giải hạng 4 và giành quyền thăng hạng. Mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ vô địch giải hạng 3 và giành quyền thăng hạng hạng 2. Đội đã giành chiến thắng ở vòng loại trước IFK Ulricehamn, Västra Frölunda IFIFK Ystad, qua đó giành quyền thăng hạng giải hạng 2 vào mùa giải tiếp theo, lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ.

Trong mùa giải đầu tiên ở Giải hạng 2, Mjällby kết thúc ở vị trí thứ tư, kém đội đầu bảng Åtvidabergs FF 12 điểm. Mùa giải tiếp theo, năm 1978, Mjällby một lần nữa kết thúc ở vị trí thứ tư, nhưng lần này chỉ kém đội đầu bảng IS Halmia ba điểm.

Trong mùa giải thứ ba tại Giải hạng 2, năm 1979, Mjällby đã giành chiến thắng ở giải đấu này với cách biệt năm điểm sau đội đứng thứ hai là Helsingborgs IF và do đó đủ điều kiện tham dự mùa giải Allsvenskan năm 1980.

Trở lại Allsvenskan (2010–2014)

[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2010, Mjällby đứng thứ sáu tại Allsvenskan. Trong các mùa giải tiếp theo, Mjällby kết thúc chung cuộc lần lượt ở vị trí thứ 10 năm 2011, thứ 12 năm 2012 và thứ 11 năm 2013. Mùa giải 2014 là mùa giải cuối cùng của Mjällby tại Allsvenskan, khi họ xếp ở vị trí áp chót trên bảng xếp hạng và xuống hạng.

Hành trình trở lại Allsvenskan (2015–2019)

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2015, Mjällby kết thúc ở vị trí áp chót tại Superettan và phải đối mặt với Örgryte IS, nơi họ đã thua trận play-off đầu tiên với tỷ số 0–1. Trận đấu trên sân nhà Strandvallen kết thúc với tỷ số 1–1, đồng nghĩa với việc Örgryte giành chiến thắng và giành quyền tham dự Superettan, trong khi Mjällby bị xuống hạng Giải Hạng nhất mùa giải 2016. Vòng play-off đó cũng là trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp của hai cựu tuyển thủ quốc gia lớn lên tại Mjällby là Christian WilhelmssonMattias Asper.[2]

Năm 2017, Mjällby kết thúc ở vị trí 12 và một lần nữa giành quyền tham dự Superettan trước Örgryte IS. Ở vòng một, Mjällby thắng 2–1 trên sân nhà và ở vòng hai, Mjällby thua 3–1, qua đó mất suất tham dự. Năm 2018, Mjällby AIF đã lội ngược dòng thành công khi vô địch Giải hạng nhất Södra và giành quyền tham dự Superettan 2019.

Mjällby AIF đã thăng hạng Allsvenskan sau khi vô địch giải đấu năm thứ hai liên tiếp.[3]

Trở lại Allsvenskan (2020–)

[sửa | sửa mã nguồn]

Mjällby quay trở lại Allsvenskan vào năm 2020 và đã kết thúc mùa giải chung cuộc ở vị trí thứ năm với tư cách là đội thăng hạng với thành tích tốt nhất của câu lạc bộ. Tiếp theo, đội kết thúc mùa giải 2021 và 2022 ở vị trí thứ chín.

Vào ngày 18 tháng 5 năm 2023, Mjällby AIF đã chơi trận chung kết Cúp Thụy Điển trên sân nhà tại Strandvallen nhưng đã để thua 1–4 trước BK Häcken.[4]

Năm 2023, Mjällby kết thúc ở vị trí thứ mười tại Allsvenskan. Trong mùa giải 2024, câu lạc bộ đã cân bằng kỷ lục của mình vào năm 2020 với tổng cộng 50 điểm.

Mùa giải 2025 là chương quyết định trong lịch sử câu lạc bộ. Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Anders Torstensson, Mjällby đã giành chức vô địch Allsvenskan đầu tiên vào ngày 20 tháng 10 năm 2025 trước ba trận đấu cuối cùng còn lại. Chiến thắng tiềm năng này và thành công sau đó đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới và được coi là một trong những câu chuyện về đội bóng yếu đáng chú ý nhất trong bóng đá hiện đại, bởi đội hình của họ chủ yếu gồm các cầu thủ sinh ra tại địa phương ở ngôi làng Hällevik gần đó với dân số chỉ 800 người. Đồng thời, Mjällby đủ điều kiện tham dự bóng đá châu Âu khi lọt vào vòng loại thứ hai UEFA Champions League 2026–27.[5]

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]
Sân vận động Strandvallen, sân nhà của câu lạc bộ

Câu lạc bộ chơi trên sân nhà Strandvallen, Hällevik, Listerlandet, Sölvesborg, Blekinge. Strandvallen được hoàn thành vào năm 1953 và có sức chứa 7.000 chỗ ngồi.[6] Kỷ lục khán giả là 8.438 người trong trận đấu với Kalmar FF, một kỷ lục được lập trong trận đấu Allsvenskan đầu tiên của câu lạc bộ vào năm 1980. Trong mùa giải 2010, với kế hoạch mở rộng vào năm 2012, một khán đài mới đã được xây dựng ở phía bắc sân vận động với 1.600 chỗ ngồi mới, tất cả đều có mái che. Sức chứa đã bị Hiệp hội bóng đá Thụy Điển giới hạn từ 7.500 xuống còn 7.000 trước khi mùa giải 2010 bắt đầu.

Đội hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 31 tháng 8 năm 2025[7]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Thụy Điển Noel Törnqvist (cho mượn từ Como)
3 HV Cameroon Christian Tchouante
4 HV Thụy Điển Axel Norén
5 HV Pakistan Abdullah Iqbal
6 TV Thụy Điển Ludwig Malachowski Thorell
7 TV Thụy Điển Viktor Gustafson
10 TV Đan Mạch Jeppe Kjær
11 Phần Lan Timo Stavitski
14 HV Thụy Điển Herman Johansson
15 Na Uy Bork Bang-Kittilsen
16 Thụy Điển Alexander Johansson
17 TV Thụy Điển Elliot Stroud
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 Thụy Điển Jacob Bergström
19 Gambia Abdoulie Manneh
20 TV Thụy Điển Måns Isaksson
21 TV Thụy Điển Adam Petersson
22 TV Thụy Điển Jesper Gustavsson (đội trưởng)
24 HV Thụy Điển Tom Pettersson
26 HV Nigeria Uba Charles
27 TV Thụy Điển Ludvig Tidstrand
28 HV Thụy Điển Tim Malmström
31 Nigeria Silas Nwankwo
33 HV Phần Lan Tony Miettinen
35 TM Thụy Điển Alexander Lundin

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Thụy Điển Hugo Fagerberg (tại Ängelholms FF cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
25 HV Kosovo Argjend Miftari (tại Karlstad cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
HV Thụy Điển Liam Svensson (tại Trollhättan cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
HV Thụy Điển Johan Åhstedt (tại Hässleholm cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
TV Thụy Điển Manasse Kusu (tại Jaro cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
TV Thụy Điển Filip Åkesson Linderoth (tại Hässleholm cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Thụy Điển Isac Johnsson (tại Kristianstad cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
TV Thụy Điển Kimmen Nennesson (tại Nosaby cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
9 Uganda Calvin Kabuye (tại Varbergs BoIS cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
Nigeria Yusuf Abdulazeez (tại Norrby cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)
Thụy Điển Love Björnson (tại Lunds BK cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2025)

Ban lãnh đạo

[sửa | sửa mã nguồn]
Hội đồng quản trị
Chủ tịch Thụy Điển Magnus Emeus
Giám đốc điều hành Thụy Điển Jacob Lennartsson
Giám đốc thể thao Thụy Điển Hasse Larsson
Ban huấn luyện
Huấn luyện viên trưởng Thụy Điển Anders Torstensson
Trợ lý huấn luyện viên Thụy Điển Christofer Augustsson
Na Uy Karl Marius How Aksum
Huấn luyện viên thủ môn Thụy Điển Lars Levinsson
Huấn luyện viên thể hình Thụy Điển Albin Pålsson
Bác sĩ trưởng Thụy Điển Titti Matsson

Danh sách huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê cầu thủ tại Allsvenskan

[sửa | sửa mã nguồn]

Ra sân nhiều nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 29 tháng 11 năm 2024
# Tên Giai đoạn Số trận Bàn thắng
1 Thụy Điển David Löfquist 2010–2013 184 17
2 Thụy Điển Mattias Asper 2010–2014 148 1
3 Thụy Điển Jesper Gustavsson 2013– 142 2
4 Thụy Điển Marcus Ekenberg 2010–2014 127 28
5 Thụy Điển Daniel Nilsson 2010–2014 125 3
6 Thụy Điển Jacob Bergström 2020– 113 30
7 Thụy Điển Jacob Bergström 2012–2022 105 10
8 Thụy Điển Viktor Gustafson 2020– 8
9 Thụy Điển Viktor Agardius 2012–2020 103 1
10 Ghana Mamudo Moro 2020–2023 92 14

Ghi bàn nhiều nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 29 tháng 11 năm 2024
# Tên Giai đoạn Bàn thắng Số trận
1 Thụy Điển Jacob Bergström 2020– 30 113
2 Thụy Điển Marcus Ekenberg 2010–2014 28 127
3 Thụy Điển David Löfquist 2013– 27 184
4 Thụy Điển Pär Ericsson 2011–2013 25 57
5 Hà Lan Moestafa El Kabir 2010–2012 16 38
6 Thụy Điển Bo Andersson 1980–1985 14 67
Thụy Điển Kristian Haynes 2020– 49
Ghana Mamudo Moro 2020–2023 92
Nigeria Moses Ogbu 2020 25
10 Thụy Điển Lennart Johansson 1980–1985 12 66

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Hoàng Thông (ngày 23 tháng 10 năm 2025). "Chuyện cổ tích của làng chài 1.500 dân vô địch Thụy Điển". VnExpress. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  2. ^ "Ikonernas sista insats: Rädda kvar Mjällby". Expressen (bằng tiếng Thụy Điển). ngày 7 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
  3. ^ Bolin, Göran (ngày 28 tháng 10 năm 2019). "Mjällby tillbaka – klart för allsvenskan 2020". Aftonbladet (bằng tiếng Thụy Điển). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
  4. ^ "Häcken vinner tredje cuptiteln". Sveriges Television (bằng tiếng Thụy Điển). ngày 22 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  5. ^ Như Yên (ngày 22 tháng 10 năm 2025). "Đội bóng làng chài 800 người viết nên kỳ tích, giành quyền dự Champions League". Giáo dục Thời đại. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  6. ^ Aybasti, Bayram (ngày 23 tháng 10 năm 2025). "The Mjällby AIF Miracle: Sweden's Small Giant". The Football Week (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  7. ^ "Mjällby AIF squad". Mjällby AIF (bằng tiếng Thụy Điển). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.

Danh sách ghi chú

[sửa | sửa mã nguồn]